1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế thò trường theo đònh hướng xã
hội chủ nghóa, trong đó có nội dung quan trọng là xây dựng các tập đoàn kinh tế
lớn, các tổng công ty lớn của nhà nước, cũng như các loại hình doanh nghiệp
khác nhằm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong xu thế hội nhập.
Vì thế, nhu cầu về vốn là nhu cầu bức xúc và cấp bách, điều này càng khẳng
đònh vò trí-vai trò quan trọng của các Ngân hàng thương mại trong quá trình hội
nhập. Ngân hàng thật sự là hệ thống huyết mạch để điều tiết vốn giữa các
ngành, các vùng để mỗi đồng vốn trong nền kinh tế được sử dụng tối ưu nhất,
hiệu quả nhất.
Làm thế nào để các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn tỉnh Long An tăng
trưởng tín dụng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế đòa phương, nhưng vẫn
đảm bảo được chất lượng tín dụng cao, đầu tư hiệu quả trong nền kinh tế thò
trường đầy biến động và cạnh tranh gay gắt? Đó là mối quan tâm thường xuyên
của các cấp y, chính quyền đòa phương và các nhà quản lý kinh tế nói chung
trong việc thực hiện mục tiêu –đònh hướng phát triển kinh tế –xã hội tỉnh Long
An từ năm 2001-2010. Đó cũng là bài toán muôn thû đặt ra cho lãnh đạo các
Ngân hàng về quản lý và kinh doanh tiền tệ trên đòa bàn. Xuất phát từ những
yêu cầu thực tiễn trên, học viên quyết đònh chọn đề tài “Nâng cao chất lượng
tín dụng của các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An để góp phần phát triển
kinh tế đòa phương ” là mục tiêu nghiên cứu Luận văn cao học .
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Với một phạm vi hẹp của đề tài, Luận văn chỉ tập trung trình bày đánh giá
hoạt động tín dụng, thực trạng chất lượng tín dụng của các NHTM trên đòa bàn
tỉnh Long An. Qua đó đánh giá những điểm mạnh, những điểm yếu, những tồn
tại trong chất lượng tín dụng của các NHTM trên đòa bàn tỉnh. Từ đó đề ra những
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng góp phần mở rộng hoạt động tín
phương phát triển. 3CHƯƠNG 1
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NHTM VÀ VAI
TRÒ CỦA TÍN DỤNG NHTM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1.1. Khái niệm tín dụng.
Tín dụng ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động và xuất hiện chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Cùng với sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên
thủy, các quan hệ sản xuất mới ra đời, lực lượng sản xuất phát triển là điều kiện
cho sự phân công lao động phát triển, hình thành sự phân hóa xã hội: của cải tập
trung vào tay người giàu, có quyền thế, trong khi đó có người nghèo không đủ
thu nhập để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của đời sống .
Mặt khác, do ảnh hưởng điều kiện thiên nhiên biến động nên sản xuất
luôn luôn có rủi ro, đòi hỏi phải có sự vay mượn nhau để điều hòa sản xuất và
cuộc sống. Hình thức tín dụng sơ khai bằng hiện vật của người giàu cho người
nghèo vay để đảm bảo cuộc sống đã xuất hiện từ đó.
Khi sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển thì quan hệ tín dụng càng
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi
tiêu ngắn hạn của cá nhân.
-Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60
tháng. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố
đònh, cải tiến và đổi mới thiết bò công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh.
-Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn
tối đa có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp có thể lên đến 40 năm. Tín
dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như
xây dựng nhà ở và các thiết bò, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các
xí nghiệp mới.
1.1.2.2. Căn cứ vào mức độ tín nhiêm đối với khách hàng.
- Tín dụng không có bảo đảm: Người vay có uy tín, có dự án sản xuất kinh
doanh khả thi cao và năng lực tài chính mạnh, đảm bảo hoàn trả nợ vay nên
người cho vay không yêu cầu phải đảm bảo bằng tài sản. 5
-Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như
thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, cho vay bảo đảm bằng tài
sản hình thành từ vốn vay.
1.1.2.3. Căn cứ vào tính chất sử dụng vốn vay.
-Tín dụng vốn lưu động: Cung cấp vốn nhằm hình thành vốn lưu động cho
các doanh nghiệp, cá nhân.
-Tín dụng vốn cố đònh: Cho các doanh nghiệp, cá nhân vay để hình thành
nên tài sản cố đònh phục vụ sản xuất kinh doanh.
1.1.2.4. Căn cứ vào chủ thể quan hệ tín dụng: Có 3 loại tín dụng sau:
-Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng và đònh chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân.
-Tín dụng thương mại: Là quan hệ giữa các doanh nghiệp được biểu hiện
hoàn trả cho ngân hàng đúng thời hạn và khối lượng gồm vốn gốc và lãi để
thanh toán cho người gửi tiền và trang trải chi phí cho hoạt động ngân hàng.
Chính vì vậy, để thực hiện nguyên tắc này, một yếu tố quan trọng đầu tiên
là ngân hàng cần phải thẩm đònh kỹ tính khả thi của dự án, kế hoạch sản xuất
kinh doanh của người vay. Nếu không sẽ dẫn đến sản xuất kinh doanh kém hiệu
quả, người vay rất khó hoặc không có khả năng hoàn trả vốn tín dụng, ảnh
hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Trong trường hợp trầm
trọng, ngân hàng sẽ bò thua lỗ, dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và có
thể bò phá sản. Đôi khi có thể ảnh hưởng dây chuyền đến cả hệ thống ngân hàng
của một quốc gia và dẫn đến khủng hoảng kinh tế của cả một khu vực.
1.1.4. Điều kiện vay vốn.
Ngân hàng xem xét và quyết đònh cho vay khi khách hàng có đủ các điều
kiện sau:
- Có năng lực pháp pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chòu
trách nhiệm dân sự theo quy đònh của pháp luật:
- Mục đích sử dụng vốn hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đảm bảo hoạt động
đúng theo giấy phép.
- Có dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh dòch vụ khả thi và có
hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp
với quy đònh của pháp luật.
- Thực hiện các quy đònh về bảo đảm tiền vay theo quy đònh của Chính
phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.1.5. Phương thức tín dụng. 7
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn vay của khách hàng, khả năng kiểm tra,
giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay và hướng dẫn của NHTM, ngân hàng
8
-Sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay để tạo nên khung lãi suất
giới hạn.
-Công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dòch.
+Các NHTM sẽ dựa vào mức lãi suất của ngân hàng trung ương công bố
để ấn đònh lãi suất kinh doanh của mình phù hợp trong từng thời kỳ.
-Mức lãi suất cho vay của các NHTM và khách hàng thỏa thuận phải phù
hợp với quy đònh của Ngân hàng Nhà Nước và NHTM Trung ương về lãi suất
cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng. Các NHTM có trách nhiệm công bố công
khai mức lãi suất cho vay cho các khách hàng biết.
- Lãi suất cho vay NHTM có thể thu theo tháng, q, năm … tùy theo thỏa
thuận với khách hàng và được ghi trong hợp đồng tín dụng.
- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với khách hàng được ưu đãi về
lãi suất theo quy đònh của Chính Phủ, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và
NH TM Trung ương.
- Trường hợp khoản vay bò chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá
hạn là 150 % lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn vay.
- Trong trường hợp có thay đổi về lãi suất và các trường hợp cần thiết, thì
các NHTM và khách hàng cùng thoả thuận và ghi bổ sung vào hợp đồng.
1.1.7. Qui trình tín dụng.
Qui trình xét duyệt cho vay tại các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An được
thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ1: Qui trình tín dụng.
(1) (2) (3)
quản lý của doanh nghiệp để từ đó có những đánh giá chính xác.
Tuy nhiên trong quá trình khảo sát thực tế, cán bộ tín dụng cần có thái độ
chân tình cởi mở để tránh cho khách hàng khó chòu vì điều tra, thẩm vấn.
(3). Khi nhận được hồ sơ thẩm đònh từ cán bộ tín dụng. Trưởng phòng tín
dụng phải tiến hành xét duyệt, thẩm tra những nội dung được đề cập. Trưởng
phòng tín dụng có thể kết hợp cùng cán bộ tín dụng khảo sát cơ sở sản xuất kinh
doanh của khách hàng xin vay vốn. Nếu đồng ý với đề nghò của cán bộ tín dụng,
trưởng phòng tín dụng sẽ cho biết ý kiến của mình và trong vòng làm việc 5
ngày phải trình lên cho Giám đốc xét duyệt, sau đó thông báo cho khách hàng
biết.
(4). Giám đốc chi nhánh chỉ xét duyệt cho vay nếu có đủ chữ ký của cán
bộ tín dụng và trưởng phòng tín dụng trong phạm vi 5 ngày và trong phạm vi
phán quyết. Trong trường hợp món vay vượt quá phạm vi phán quyết, Giám đốc
chi nhánh phải gửi hồ sơ và tờ trình lên tổng giám đốc để xin ý kiến
(5). Tổng Giám đốc sau khi nhận được hồ sơ và tờ trình của Giám đốc chi
nhánh phải xem xét và quyết đònh trong thời gian hợp lý; Các phòng nghiệp vụ
có nhiệm vụ hoàn tất hồ sơ và giải ngân kòp thời nếu khoản vay được Tổng Giám
đốc phê duyệt.
1.2. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG: 10
Tín dụng ngân hàng là một kênh đáp ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế,
nó là đòn bẩy kinh tế, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng trưởng kinh
tế. Trong điều kiện kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thò
trường, chuẩn bò gia nhập WTO; Thò trường tiền tệ, thò trường vốn chưa phát triển
mạnh, các doanh nghiệp và cá nhân thiếu vốn chỉ trông chờ chủ yếu vào kênh tín
dụng ngân hàng. Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc đưa kinh tế nước ta tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thể hiện:
1.2.1. Đối với cá nhân và hộ gia đình:
sản xuất, tăng thêm thu nhập, kích thích quá trình tập trung vốn, tập trung sản
xuất đối với các tầng lớp xã hội .
Như vậy, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung
vốn và tập trung vào đầu tư sản xuất, làm tăng qui mô vốn, thúc đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả sử
dụng vốn, tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của doanh nghiệp.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả có lợi
tức. Do vậy, kết quả hoạt động tín dụng phản ánh phần nào kết quả sản xuất
kinh doanh của đơn vò. Thông qua việc xem xét chất lượng tín dụng của ngân
hàng có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.
Tín dụng thúc đẩy các đơn vò kinh tế sử dụng vốn có hiệu quả, đẩy nhanh
vòng quay vốn lưu động tạo ra lợi nhuận cao hơn. Các chủ thể sử dụng vốn ngân
hàng đều phải cam kết thực hiện sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả phù
hợp với điều kiện kinh doanh và hoàn trả vốn lẫn lãi đúng hạn. Nếu đơn vò
không thực hiện đúng lời cam kết thì ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp chế tài tín
dụng. Do vậy, để kinh doanh có hiệu quả thì các đơn vò phải tính toán kỹ, đầu tư
vào lónh vực nào, với một lượng vốn là bao nhiêu. Các doanh nghiệp phải tìm
mọi biện pháp để tăng năng suất lao động, hạ giá thành, đổi mới mẫu mã sản
phẩm, tăng vòng quay vốn… Từ đó làm cho sức cạnh tranh của doanh nghiệp
được nâng cao.
- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp cũng như nền
kinh tế tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế.
Trong điều kiện quốc tế hóa, toàn cầu hóa như hiện nay, nền kinh tế của
một nước luôn luôn phải gắn với thò trường khu vực và thế giới. Chính sách mở
cửa của Đảng và Nhà nước ta nhằm mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài để
thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển. Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng cũng
phải trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế trong nước với các
Trên đây là bốn vai trò tổng quát của tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên tín
dụng chỉ phát huy tốt những vai trò trên trong điều kiện qui mô và cơ cấu đầu tư
của tín dụng phù hợp với điều kiện đặc điểm và mức độ hấp thu vốn của nền
kinh tế. Mức độ tăng trưởng của tín dụng được kiểm soát, hiệu quả của tín dụng
được phát huy. Nếu để tín dụng phát triển tràn lan không kiểm soát được thì 13
không những làm cho nền kinh tế chậm phát triển mà còn làm cho lạm phát gia
tăng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, xã hội. 1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯNG TÍN DỤNG CỦA
CÁC NHTM.
Để đạt được hiệu quả kinh doanh cũng như nâng cao chất lượng tín dụng
của các NHTM thì công tác đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM là rất quan
trọng. Tùy theo mỗi nhà quản trò ngân hàng có thể xác đònh những chỉ tiêu nào là
chủ yếu, là quan trọng để từ đó có thể đưa ra những đònh hướng và giải pháp hợp
lý nhằm hạn chế những rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng.
Trong những thập kỷ gần đây, cộng đồng ngân hàng thế giới đã đưa ra
nhận đònh: muốn duy trì được tính lành mạnh và ổn đònh của một ngân hàng, cần
phải có 5 yếu tố, các yếu tố này được tiêu thức hóa thành phương pháp phân tích
CAMEL. Đây là phương pháp phân tích được hầu hết các nước trên thế giới áp
dụng. CAMEL là chữ viết tắt tiếng Anh bao gồm :
C (Capital): Vốn tự có
A (Asset quality): Chất lượng tài sản có
M (Management ability): Năng lực quản lý
E (Earning): Khả năng sinh lời
L (Liquidity): Khả năng thanh khoản tiền
Trong nguyên tắc này, các yếu tố quan trọng cần phân tích đó là:
- Chỉ số 3: H
3
= (Vốn tự có/Tài sản có rủi ro) x100%
Trong quá trình đổi mới tổ chức và quản lý ngân hàng, Thống đốc ngân
hàng nhà nước đã ban hành Quyết đònh 457/2005/QĐ-NHNN về “Quy đònh các
tỷ lệ bảo đảm an tòan trong hoạt động của tổ chức tín dụng”, trong đó qui đònh
“tổ chức tín dụng phải duy trì thường xuyên tỉ lệ tối thiểu giữa vốn tự có so với
tổng giá trò tài sản có rủi ro ở mức 8% nghóa là H
3
>=8%. Chỉ số 3 xác đònh độ an
toàn của vốn tự có đối với qui mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Việc nâng cao vốn tự có cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện
nay hết sức quan trọng vì các lý do sau:
- Vốn tự có thấp dẫn đến khách hàng của ngân hàng chỉ là những doanh
nghiệp có qui mô nhỏ (do luật các TCTD qui đònh cho vay đối với một khách
hàng không được vượt quá 15% vốn tự có), họ thường là những chủ thể có rủi ro
do gặp nhiều bất lợi trong cạnh tranh trên thương trường.
- Việt Nam trong giai đoạn phát triển, nhu cầu đầu tư xây dựng mua sắm
máy móc thiết bò rất cao, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp thường rất lớn.
Ngân hàng qui mô nhỏ sẽ không đủ khả năng đáp ứng về số lượng, về thời gian
và cả rủi ro do các yêu cầu của hoạt động đầu tư đặt ra.
- Việc nâng cao vốn tự có còn có ý nghóa vô cùng quan trọng trong điều
kiện của Ngân hàng Việt Nam hiện nay, vì nó góp phần cũng cố lòng tin của dân
chúng đối với hệ thống ngân hàng. Hơn nữa, nó là cơ sở để đảm bảo bù đắp rủi
ro cho những người gửûi tiền. 15
- Việc nâng cao vốn tự có của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện
nay sẽ góp phần giảm lãi suất cho vay trong nền kinh tế vì hai lẽ: một mặt vì vốn
đòi. 16
-NQH thông thường:
Là khoản nợ mà khách hàng vay có gặp khó khăn về vốn tạm thời, chưa
có khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng theo đònh kỳ hạn nợ. Đây là
khoản nợ trong hạn mới chuyển sang NQH với một thời hạn ngắn và ngân hàng
có khả năng thu hồi gốc, lãi trong thời gian tới.
-NQH có vấn đề:
Là khoản NQH mà khách hàng vay đã không thực hiện được nghóa vụ trả
nợ với ngân hàng trong một thời gian khá lâu. Tình trạng tài chính của khách
hàng đang có chiều hướng xấu, không khả năng hoàn trả vốn và lãi cho ngân
hàng.
- NQH khó đòi:
Là khoản nợ mà người vay rơi vào tình trạng cạn kiệt về tài chính, không
còn khả năng trả nợ ngân hàng. Tài sản bảo đảm tiền vay đã xử lý để thu hồi nợ
nhưng không đủ, hoặc xử lý tài sản không được nên không khả năng trả nợ ngân
hàng.
- Nợ tồn đọng:
Nợ tồn đọng là khoản nợ không còn khả năng thu hồi, đã được các NHTM
Nhà nước tổng hợp đưa vào đề án xử lý nợ tồn đọng và đã đựơc cấp có thẩm
quyền phê duyệt. Nợ tồn đọng gồm: Nợ khoanh, nợ chờ xử lý
+ Nợ khoanh:
Nợ khoanh là các khoản nợ mà khách hàng chưa có khả năng trả nợ, do
nguyên nhân khách quan như sản xuất bò thiên tai, dòch họa (lũ lụt, hạn hán, bảo,
dòch bệnh …) hoặc kinh doanh bò thua lỗ …
Các khoản nợ này được khoanh theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Trong thời
gian khoanh nợ ( <= 5 năm ), người vay không phải trả lãi ngân hàng và có kế
hoạch trả nợ gốc cho ngân hàng. Hết thời gian khoanh nợ mà khách hàng vẫn
Ý nghóa của ROA: Một đồng tài sản có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công tác quản lý tài sản có- Tài sản có
sinh lời càng lớn thì hệ số nói trên sẽ càng lớn.
+Chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận ròng với vốn tự có bình quân của ngân
hàng. Chỉ tiêu này phản ánh qua hệ số ROE ( Return on Equity)
H(ROE) =
Lợi nhuận ròng
Vốn tự có bình quân
Ý nghóa của ROE: Một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng khả
năng sinh lời trên một đồng vốn của ngân hàng. Hệ số càng lớn, khả năng sinh
lời tài chính càng lớn.
+Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận ròng với tổng
tài sản có sinh lời. 18
Lợi nhuận ròng
P’= Trong đó tài sản có sinh lời bao gồm:
Tổng tài sản có sinh lời
-Các khoản cho vay
-Đầu tư chứng khoán CHƯƠNG2
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯNG TÍN DỤNG CỦA
CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
2.1. SƠ LƯC VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH LONG AN.
2.1.1. Vài nét về tình hình chung của tỉnh.
Long An là một trong những tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là
một vùng quan trọng của cả nước, cung cấp trên 50% sản lượng lương thực, trên 50%
sản lượng gạo xuất khẩu.
Long An là cửa ngõ nối liền thành phố Hồ Chí Minh với vùng đồng bằng sông
Cửu Long, có diện tích tự nhiên 4.448,6 km
2
, bằng 1,3% diện tích cả nước và 14,5%
diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tỉnh Long An có một thò xã và 14 huyện. Thò xã Tân An là trung tâm hành chính
của tỉnh.
Điều kiện tự nhiên sinh thái của tỉnh Long An rất thuận lợi việc phát triển toàn
diện, với cơ cấu cây trồng, vật nuôi da dạng, phong phú:
- Diện tích đất nông nghiệp là 319.000 ha, sản lượng lương thực năm 2005 trên
1,58 triệu tấn.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản là 3.100 ha, hàng năm đem lại hơn 8.000 tấn tôm,
cá có giá trò xuất khẩu cao. Sản lượng đánh bắt hàng năm đem lại trên 13.000 tấn.
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 trên 370 triệu USD.
Với những lợi thế trên, tỉnh Long An có điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư trong
và ngoài nước cũng như trao đổi, mua bán với các nước trong khu vực thông qua cửûa
khẩu Mộc Hoá và hệ thống cảng biển tại thành phố Hồ Chí Minh.
Biểu đồ 1:Cơ cấu tỷ trọng các khu vực trong GDP của tỉnh Long An 21
5.3
17.4
9.3
5.2
18.7
8.9
5.3
22.4
9.3
1.5
25.2
9.3
0
5
10
15
20
25
30
2003 2004 2005 T9/2006
KV1(NN)
KV2(CN)
KV3(DVu)
nhánh và 02 phòng giao dòch); Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL: 04 (01 Hội sở,
03 chi nhánh); Ngân hàng Ngoại thương 01; Ngân hàng Đệ Nhất : 01; Ngân
hàng Sài Gòn Thương Tín : 02 (01 Chi nhánh và 01Phòng Giao dòch); Ngân hàng
TMCP Rạch Kiến : 04 (01 Hội sở, 03 chi nhánh).
Cùng với việc phát triển mạng lưới, nâng cao trình độ ngoại ngữ, chuyên
môn, vi tính. Các Ngân hàng rất quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất từ trụ sở
làm việc, các phương tiện giao dòch để mở ra nhiều hình thức huy động vốn đa
dạng, phong phú, cung cấp nhiều sản phẩm ngân hàng hiện đại để đưa đồng vốn
đến tận vùng sâu, vùng xa của tỉnh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người
dân để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh thúc đẩy kinh tế đòa phương phát
triển.
2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An.
2.2.2.1. Chức năng.
Các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An là một đònh chế tài chính trung gian
thực hiện ba chức năng chủ yếu sau đây:
* Chức năng trung gian tín dụng:
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của các NHTM trên đòa bàn
tỉnh Long An và có ý nghóa đặc biệt quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế đòa
phương. Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể
có nhu cầu tiền tệ cần gặp nhau. Hoạt động tín dụng của NHTM là làm trung
gian tín dụng cho các chủ thể này được gặp nhau.
Thực hiện chức năng này, một mặt các NHTM huy động và tập trung các
nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình
thành nguồn vốn cho vay mọi thành phần kinh tế, mọi ngành kinh tế để đáp ứng
nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng …. góp phần đảm bảo sự vận động 23
liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy,
NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay ; Hay nói cách khác, nghiệp vụ
tại ngân hàng và yêu cầu ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc ủy nhiệm
cho ngân hàng thực hiện việc thu nhận các khoản tiền vào tài khoản của mình.
Trong khi làm trung gian thanh toán, các NHTM tạo ra những công cụ lưu
thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ 24
thanh toán) đã tiết kiệm cho xã hội nhiều chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ
luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Khách hàng không cần
phải cầm tiền mặt trao trả tận tay nhau mà chỉ cần ra lệnh cho NHTM, NHTM
sẽ ghi nợ cho tài khoản người này và ghi có cho tài khoản người kia một cách
kòp thời.
Việc làm trung gian thanh toán của ngân hàng hiện nay đã phát triển đến
tầm mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian thanh toán truyền thống như trước
đây, mà còn quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là chức năng ngày càng
chiếm vò trí quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ
thuật trong xu thế hội nhập hiện nay.
* Chức năng tạo “bút tệ” theo cấp số nhân.
Từ khi ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn hoạt
động riêng lẽ, mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó Ngân hàng trung ương
(Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng và là
ngân hàng của các ngân hàng, các NHTM chuyên kinh doanh tiền tệ . Qua quá
trình hoạt động, các NHTM đã tạo ra “bút tệ” thay thế cho tiền mặt. Chính nhờ
phương thức tạo tiền này mà ngân hàng không những bảo đảm cho sự phát triển
của mình, mà còn trở thành trung tâm tiền tệ của đời sống kinh tế hiện đại.
Quá trình tạo tiền của Ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua
hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống NHTM trong mối liên hệ chặt
chẽ với Ngân hàng trung ương.
Muốn tạo ra bút tệ phải sử dụng cả hệ thống Ngân hàng. Một NHTM duy
nhất không thể tạo dựng bức tranh toàn cảnh về quá trình tạo tiền. Hay nói cách
Các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An có hoạt động gần gũi nhất với nhân
dân và nền kinh tế. Hầu như không có công dân nào không có quan hệ giao dòch
với một ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động và dòch vụ của ngân
hàng thương mại càng đi vào tận cùng ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống
của con người. Mọi công dân đều chòu tác động của ngân hàng, dù họ là khách
hàng gửi, một người vay, hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh
nghiệp có vay vốn và sử dụng các dòch vụ ngân hàng. Từ lâu, ở Việt Nam nói
chung và ở tỉnh Long An nói riêng, ngân hàng thương mại là một đònh chế tài
chính quen thuộc trong đời sống kinh tế.
Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại hiện nay nói chung
và trên đòa bàn tỉnh Long An nói riêng luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên
cứu của các ngành, các cấp, các nhà hoạch đònh chính sách và cả công chúng vì
nó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh tế xã hội và đời sống nhân dân trên
đòa bàn .
Đặc biệt trong bối cảnh tỉnh Long An hiện nay, cần thiết phải có sự đáp
ứng kòp thời về vốn để thực hiện các chương trình an sinh vùng lũ, đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng, mở rộng sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa để thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh Long An phát triển, nâng thò xã
Tân An lên thành đô thò loại 3.