288 Nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng TM trên địa bàn tỉnh An Giang - Pdf 23


- 1 -
Mở đầu
Trong quá trình hội nhập về tài chính thông qua thực hiện các cam kết của
Hiệp đònh thương mại Việt – Mỹ, AFTA và chuẩn bò gia nhập WTO, xóa bỏ dần
chính sách bảo hộ của Nhà nước, thúc đẩy cạnh tranh giữa các đối tác trên thò
trường Việt Nam đã tạo ra cơ hội và động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải
cách hệ thống NHTMVN. Song cũng có những thách thức vô cùng to lớn do một
bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam không đủ năng lực cạnh tranh sẽ bò đào
thải, làm tăng rủi ro hoạt động tín dụng của ngân hàng, hệ thống NHTMVN đứng
trước sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về vốn,
công nghệ, quy mô toàn cầu và dòch vụ đa dạng.

Trong khi đó thực lực tài chính của các NHTMVN còn yếu, năng lực quản
trò và trình độ cán bộ còn hạn chế, đặc biệt là tỷ lệ nợ quá hạn cao, tài sản có
tiềm ẩn nhiều rủi ro do đó cải thiện năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh
của hệ thống NHTMVN thông qua việc nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghóa
hết sức quan trọng, từ lý do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng của các NHTM trên đòa bàn tỉnh An Giang” để nghiên cứu
nhằm mục đích góp phần nâng cao năng lực cạnh của các NHTM trên đòa bàn
tỉnh An Giang nói riêng và của hệ thống NHTMVN nói chung trong quá trình hội
nhập.
Luận văn giải quyết các vấn đề sau :

¾ Một là: Phân tích những tồn tại, hạn chế, cũng như những thành tựu đạt
được nhằm phản ánh và đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM
trên đòa bàn tỉnh An Giang.
¾ Hai là: Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của các
NHTM, những điều kiện thực tiễn kinh tế – xã hội của tỉnh An Giang để tìm ra
- 3 -
Chương 1 1.1- TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG.
1.1.1- Tổng quan về tín dụng.
1.1.1.1- Khái niệm về tín dụng.
Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm),
nhưng trong thực tế thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghóa khác nhau tùy
thuộc vào góc độ nghiên cứu. Xét trên một quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng
là một giao dòch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Xét trên góc
độ chuyển dòch quỹ thì tín dụng là sự chuyển dòch quỹ từ chủ thể thặng dư tiết
kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm. Theo góc độ nghiên cứu của đề tài tín
dụng là một quan kinh tế giữa chủ thể cho vay – bên giao giá trò (ngân hàng) và
chủ thể đi vay – bên nhận giá trò (các tổ chức, cá nhân) trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản là tiền cho bên vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất
đònh đã thỏa thuận, bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện tiền vay và lãi
(chi phí mua quyền sử dụng tiền tệ) cho bên cho vay. Phạm trù tín dụng gắn liền
với sản xuất và lưu thông hàng hóa, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì
ở đó có tín dụng tồn tại và sự vận động của nó luôn mang tính chất động lực của
các quan hệ kinh tế.
1.1.1.2- Các hình thức tín dụng.
Dựa vào các chủ thể của quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế – xã hội tồn
tại các hình thức tín dụng sau: - 5 -
cho vay gần như chi phối hoàn toàn hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó,
toàn bộ phần nghiên cứu về hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ tập trung
nghiên cứu hoạt động cho vay, do đó trong xuyên suốt phần trình bày sau này
hoạt động tín dụng được hiểu là hoạt động cho vay của các NHTM.
1.1.2.1- Đặc điểm của hoạt động tín dụng.
Đối tượng của hoạt động tín dụng là vốn tiền tệ, tức là ngân hàng sử dụng
nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động dưới hình thái tiền tệ để cho vay các tổ
chức, cá nhân.
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng các chủ thể được xác đònh một
cách rõ ràng, trong đó ngân hàng là bên cho vay còn các tổ chức, cá nhân là bên
đi vay.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng vừa mang tính chất sản xuất kinh
doanh vì nó gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh và vừa không gắn với hoạt
động sản xuất kinh doanh vì nó gắn với hoạt động tiêu dùng, vì vậy quá trình
vận động và phát triển của hoạt động tín dụng không hoàn toàn phù hợp với quá
trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
1.1.2.2- Phân loại tín dụng.
Trong nền kinh tế thò trường hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú.
Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học giúp thiết lập quy trình tín dụng hợp
lý, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản trò rủi và chất lượng tín dụng. Việc
phân loại tín dụng thường dựa và các tiêu thức sau:
¾ Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn tín dụng.
Theo tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng sản xuất kinh doanh: là loại tín dụng được sử dụng để cho vay
các đối tượng nhằm mục đích sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được sử dụng để cho vay các nhu
cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được sử dụng để cho vay các cá nhân

có nghóa vụ trả nợ cho ngân hàng.
- 7 -
- Tín dụng gián tiếp hay còn gọi là chiết khấu: là loại tín dụng mà theo đó
chủ thể vay không có nghóa vụ trực tiếp phải trả nợ cho ngân hàng, mà nghóa vụ
trả nợ do một chủ thể khác đảm nhận.
¾ Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
Theo tiêu thức này tín dụng được chia làm hai loại:
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó nghóa vụ
trả nợ vay của chủ thể vay vốn được bảo đảm bằng tài sản của chủ thể vay vốn,
tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó
ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay trên cơ sở khách hàng có
tín nhiệm với ngân hàng, có năng lực tài chính và có phương án, dự án khả thi có
khả năng hoàn trả nợ vay hoặc ngân hàng nhà nước được cho vay theo chỉ đònh
của chính phủ hoặc cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo lãnh bằng tín
chấp của tổ chức đoàn thể chính trò – xã hội.
1.1.2.3- Tính nguyên tắc trong hoạt động tín dụng.
¾ Hoạt động tín dụng phải dựa trên cơ sở lòng tin.
Quan hệ tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng được xác lập trên cơ
sở lòng tin, hay nói cách khác cấp độ tín dụng phụ thuộc mức độ tin tưởng của
ngân hàng đối với khả năng và thiện chí trả nợ của khách hàng. Với ngân hàng
mỗi khách hàng đều có cấp độ tín nhiệm khác nhau và được xác lập trên rất
nhiều tiêu chí, nếu cấp độ tín nhiệm của khách hàng dưới mức nào đó mà ngân
hàng không thể chấp nhận được thì ngân hàng sẽ từ chối quan hệ tín dụng,
trường hợp khách hàng đã xác lập được quan hệ tín dụng với ngân hàng thì tùy
theo cấp độ tín nhiệm mà ngân hàng xác lập các điều kiện ràng buộc nhằm giúp
cho ngân hàng quản trò được rủi ro tín dụng.

Ngân hàng cần xây dựng các sản phẩm tín dụng để cung cấp cho khách
hàng trên cơ sở khả năng và kinh nghiệm của ngân hàng, có như vậy thì các sản
- 9 -
phẩm của ngân hàng mới được chuyên môn hóa cao từ đó giúp cho ngân hàng
thực hiện có hiệu quả chiến lược quản trò rủi ro.
1.1.2.4- Vai trò của hoạt động tín dụng đối với sự phát triển kinh tế.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay hoạt động tín dụng có các
vai trò tích cực sau đây :
¾ Hoạt động tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng
hóa phát triển.
Hoạt động tín dụng đã giải quyết được mâu thuẫn trong quá trình tuần
hoàn và chu chuyển vốn tiền tệ, trở thành cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, đáp
ứng nhu cầu vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì liên tục và đáp
ứng nhu cầu vốn để đầu tư cho xã hội góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông
hàng hóa phát triển.
¾ Hoạt động tín dụng góp phần ổn đònh tiền tệ, ổn đònh giá cả.
Khi thực hiện chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, hoạt động tín
dụng đã làm giảm lượng tiền lưu thông trong xã hội, làm giảm lạm phát, góp
phần làm ổn đònh tiền tệ… , làm cho sản xuất ngày càng phát triển đáp ứng được
nhu cầu ngày càng gia tăng của xã hội góp phần ổn đònh thò trường giá cả trong
nước.
¾ Hoạt động tín dụng góp phần ổn đònh đời sống, tạo công ăn việc làm
và ổn đònh trật tự xã hội.
Một mặt hoạt động tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng
hóa phát triển đáp ứng nhu cầu xã hội, mặt khác nhờ hoạt động tín dụng tạo
điều kiện và khả năng khai thác các nguồn lực của xã hội như tài nguyên thiên
nhiên, lao động… do đó hoạt động tín dụng ngày càng thu hút thêm nhiều lao

doanh chủ yếu, thò trường, mạng lưới phân phối, đối thủ cạnh tranh, điểm mạnh,
điểm yếu, các chính sách có liên quan của nhà nước…
- 11 -
+ Các thông tin phi tài chính như: chất lượng quản lý, uy tín trong
giao dòch, triển vọng ngành, thông tin có tính trực giác và thông tin có tính chất
đònh tính.
¾
Bước 2 : Thẩm đònh.
Đây là bước mang ý nghóa hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến chất
lượng khoản vay, do đó tùy mức độ phức tạp của khoản vay đòi hỏi cán bộ thẩm
đònh phải có tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nghề, kiến thức và khả năng thẩm
đònh để đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay, khi thực hiện bước này ít nhất
phải khẳng đònh được các nội dung sau:
+ Khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện cho vay theo quy đònh của
pháp luật.
+ Phương án hoặc dự án xin vay khả thi và hiệu quả.
+ Khách hàng vay đủ khả năng trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đề nghò.
+ Dự kiến được mức độ rủi ro trong trường hợp xấu nhất.
+ Các biện pháp được sử dụng để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong
trường hợp cho vay.
¾
Bước 3 : Ra quyết đònh cho vay.
Sau khi thực hiện thẩm đònh đưa đến quyết đònh ngân hàng có đồng ý cho
vay hay không.
Đối với trường hợp đồng ý cho vay, sau khi thẩm đònh còn đưa ra các điều
kiện và các thỏa thuận để hình thành nên các điều khoản của hợp đồng tín dụng,
thường có các thỏa thuận chính như sau :


+
Mức
lợi nhuận
dự kiến

Phần bù rủi ro lệ thuộc vào mức độ rủi ro của khoản vay, nếu ngân hàng
đánh giá khoản vay có rủi ro cao thì lãi suất cho vay sẽ cao và ngược lại. Ngoài
ra những khoản vay lớn thường có mức lãi suất thấp hơn khoản vay nhỏ do chi
phí quản lý khoản vay lớn thấp hơn một cách tương đối so với khoản vay nhỏ.
+ Biện pháp bảo đảm tiền vay: Một khoản vay dù có được phân tích và
đánh giá kỹ tới mức độ nào đi nữa thì vẫn không thể nào chắc chắn rằng khoản
vay sẽ được hoàn trả đúng như thỏa thuận, do đó để đảm bảo an toàn vốn vay
ngân hàng thường đề xuất khoản vay phải có tài sản bảo đảm, tỷ lệ được bảo
đảm tùy thuộc vào ngân hàng và được xác đònh trên cơ sở mức độ rủi ro của
khoản vay. Về nguyên tắc ngân hàng chấp nhận tài sản bảo đảm thỏa mãn các
điều kiện sau: phải có tuổi thọ tương đối dài, dễ chuyển nhượng trên thò trường,
phải có một thò trường hiện tại của nó, giá trò tài sản tương đối ổn đònh…
+ Các cam kết và hạn chế: Bên cạnh các điều khoản trên ngân hàng còn
sử dụng một số điều kiện ràng buộc và các hạn chế đối với khách hàng vay để
quản trò mức độ rủi ro của khoản vay như : thanh toán không dùng tiền mặt, phải
mua bảo hiểm đối với tài sản hình thành từ vốn vay, cam kết duy trì công nợ,
hàng tồn kho ở một mức nào đó theo đề nghò của ngân hàng…
¾
Bước 4: Giải ngân – kiểm tra sử dụng vốn vay – xử lý khoản vay.
Về nguyên tắc ngân hàng chỉ thực hiện giải ngân khi khách hàng vay đã
thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy đònh tại hợp đồng tín dụng, việc giải ngân
đúng theo tiến độ sử dụng tiền vay có kèm theo căn cứ chứng minh việc sử dụng - 14 -
của khách hàng vay do nguyên nhân khách quan, giá trò tài sản có hình thành từ
vốn vay phải lớn hơn giá trò đã phát tiền vay.
¾
Bước 5 : Thanh lý khoản vay.
Sau khi khách hàng vay đã hoàn thành nghóa vụ trả nợ thì ngân hàng tiến
hành thanh lý khoản vay. Các thông tin về khoản vay và các đánh giá về khách
hàng vay phải được ngân hàng lưu trữ để làm cơ sở cho việc xem xét cho các
khoản vay khác sau này.
1.2- CHẤT LƯNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM.
1.2.1- Khái niệm về chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung trong
đó có nội dung quan trọng và có tính lượng hóa nhất là tỷ lệ nợ quá hạn trên
tổng dư nợ. Theo quan điểm thông thường của các NHTM Việt Nam và trong
một số trường hợp theo nghóa hẹp khi nói đến chất lượng tín dụng người ta chỉ
nói đến tỷ lệ giữa nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ này càng cao có nghóa là
chất lượng tín dụng kém và ngược lại. Theo thông lệ quốc tế nếu tỷ lệ nợ quá
hạn dưới 5% và tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng nợ quá hạn thấp thì được coi là tín
dụng có chất lượng tốt, trên mức 5% thì được coi là tín dụng có vấn đề.
Theo các NHTMVN hiện nay chưa có một hệ thống các chỉ số mang tính
chuẩn mực, rõ ràng để có thể thống nhất, đánh giá và so sánh chất lượng tín
dụng của các ngân hàng. Theo quan điểm của tôi thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng
dư nợ chưa thể phản ánh đầy đủ khái niệm về chất lượng tín dụng mà chất lượng
tín dụng phải hàm chứa nội dung mức độ rủi ro trong tổng dư nợ hay phải phản
ánh được tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi trên tổng dư nợ, đây là vấn đề
phức tạp đòi hỏi có thời gian nghiên cứu. Để giới hạn phạm vi nghiên cứu, dễ
dàng tiếp cận vấn đề và cũng phù hợp với quan điểm của các NHTM Việt Nam,
hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là một trong những chỉ tiêu đặc trưng

vay khác được xếp vào nợ quá hạn, còn đối với Việt Nam chỉ xếp vào nợ quá
hạn các khoản vay của chung một HĐTD.
- 16 -
Các quy đònh về phân loại nợ quá hạn theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam
trong thời gian qua còn thông thoáng hơn nhiều so với thông lệ quốc tế, dẫn đến
việc đánh giá cao chất lượng tín dụng của các NHTM.
Theo Quyết đònh mới được ban hành số 127/2005/QĐ-NHNN ngày
03/02/2005 (có hiệu lực ngày 17/03/2005) của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về việc sửa đổi , bổ sung một số điều của quy chế cho vay của TCTD đối với
khách hàng ban hành kèm theo Quyết đònh số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 quy đònh lại cách phân loại nợ quá hạn như sau: Toàn bộ số dư nợ
vay gốc của khách hàng có khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ
vay được coi là nợ quá hạn. Trong đó điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc ngân hàng
chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời
hạn cho vay đã thỏa thuận tại HĐTD; gia hạn nợ vay là việc ngân hàng chấp
thuận kéo dài thêm một khoản thời gian trả nợ gốc và hoặc lãi vốn vay vượt quá
thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong HĐTD.
Việc phân loại nợ quá hạn theo Quyết đònh số 127/2005/QĐ-NHNN đã có
nhiều thay đổi phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng việc phân loại nợ quá hạn
vẫn còn dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay mà chưa tính đến tiêu
chí rủi ro của khoản vay. Đây vẫn còn là điểm khác biệt cơ bản trong tiêu chí
phân loại nợ quá hạn của Việt nam so với thông lệ quốc tế, điều này đặt ra yêu
cầu cần phải có những tiêu chí phân loại nợ quá hạn phù hợp hơn để có thể đánh
giá chính xác về chất lượng tín dụng của các NHTM.
1.2.2.2- Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng.
Tăng trưởng tín dụng thông thường được hiểu là sự gia tăng về mặt lượng
của hoạt động tín dụng như dư nợ cho vay trong một thời kỳ nhất đònh.

Hầu hết các khoản vay đều được đánh giá có hiệu quả và có nguồn trả nợ
từ phương án, dự án mà ngân hàng đã cho vay, tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả
của khoản vay chỉ là những dự đoán của ngân hàng nên khoản vay luôn tiềm ẩn
những rủi ro riêng biệt của nó. Để đảm bảo khoản vay sẽ có nguồn để trả nợ thì
ngân hàng phải xác đònh mức độ rủi ro tối đa có thể sẽ xảy ra đối với khoản vay
từ đó đòi hỏi khách hàng vay phải có nguồn dự phòng khác tương ứng với khoản
thất thoát tối đa của khoản vay để trả nợ cho ngân hàng.
- 18 -
¾
Phẩm chất đòi hỏi đối với khách hàng vay phải hoàn toàn trung
thực.
Nếu ngân hàng còn nghi ngờ về tính trung thực, tư cách đạo đức của
khách hàng vay thì tốt nhất ngân hàng không nên tiến hành cho vay. Việc đặt
quan hệ tín dụng với những khách hàng vay thiếu trung thực sẽ ảnh hưởng xấu
đến danh tiếng của ngân hàng, đồng thời khoản vay sẽ có mức độ rủi ro rất cao,
lợi nhuận mà ngân hàng thu được đối với các khoản vay sẽ không bù đắp được
những rủi ro của khoản vay.
¾
Chỉ thiết lập quan hệ tín dụng khi đã hiểu rõ về khách hàng vay.
Ngân hàng chỉ nên cho vay khi đã hiểu rõ mức độ rủi ro của khoản vay để
có thể xác đònh chính xác các điều kiện ràng buộc phù hợp với khoản vay. Việc
thiết lập quan hệ tín dụng đối với những khách hàng thuộc các khu vực thò
trường, lãnh vực, ngành kinh doanh mà ngân hàng không biết hoặc chưa hiểu
cặn kẽ thì ngân hàng không thể nào đánh giá chính xác được những rủi ro,
không đảm bảo được chất lượng cho hoạt động tín dụng.
¾
Quyết đònh cho vay là quyết đònh độc lập của ngân hàng.


¾
Chất lượng tín dụng kém làm hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng
tín dụng, hạn chế khả năng kinh doanh và ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngân
hàng. Mặt khác nó còn tác động làm yếu khả năng tài chính và khả năng cạnh
tranh của ngân hàng.

¾
Đối với nền kinh tế, tác động của chất lượng tín dụng kém chủ yếu là
tác động gián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ “Ngân hàng – khách hàng –
nền kinh tế”, nó làm ảnh hưởng hoạt động kinh doanh của ngân hàng và sự phát
triển của nền kinh tế vì giảm khả năng khai thác nguồn lực và giảm khả năng
đáp ứng vốn, dòch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. - 20 -
Chương 2 2.1- VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ
HỘI TỈNH AN GIANG.
Tỉnh An Giang nằm ở phía Tây Nam của nước Việt Nam và là một trong
hai tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, cách Tp Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế
phía nam khoảng 180km. Phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, phía tây giáp tỉnh

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP từ năm 1991 – 2004 của tỉnh An Giang.
%

11,65
9,03
10,54
4,52
6,2
6,81
6,64
7,35
11,23
9,49
10,93
11,43
6,96
7,09
0
2
4
6
8
10
12
14
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
GDP
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2004
Năm
An Giang có hệ thống các đường giao thông thủy bộ thuận tiện, có trục

Đảng, năm 1988 thành lập ngân hàng chuyên doanh tách khỏi NHNN, đến tháng
5/1990 Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công
ty tài chính ra đời chính thức đánh dấu sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp
gồm: NHNN là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và tín dụng; các TCTD hoạt
động kinh doanh tiền tệ và ngân hàng theo cơ chế thò trường trong khuôn khổ
pháp luật. Nhìn từ góc độ pháp lý và thực tiễn có thể xem đây là thời điểm ra
đời hệ thống NHTMVN.
Sau gần 15 năm xây dựng và phát triển hệ thống NHTMVN đã không
ngừng lớn mạnh, nếu xếp theo hình thức sở hữu đến nay hệ thống NHTMVN bao
gồm : - 6 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, trong đó có 5 NHTMQD và 1 ngân
hàng chính sách – xã hội.
- 23 -
- 46 NHTMCP ở cả đô thò và nông thôn.
- 5 ngân hàng liên doanh.
- 26 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Đến cuối năm 2004 trên đòa tỉnh An Giang có 38 TCTD và chi nhánh các
TCTD đang hoạt động ngân hàng gồm:
- Ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước: 5 chi nhánh NHTMQD và 1 chi
nhánh ngân hàng chích sách – xã hội.
- Hệ thống NHTMCP: 1 NHTMCP và 4 chi nhánh NHTMCP.
- Hệ thống QTD: 1 chi nhánh QTD trung ương và 25 QTDND.
2.3- THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2004.
2.3.1- Cơ chế, chính sách của nhà nước đối với hoạt động tín dụng.
2.3.1.1- Chấn chỉnh, củng cố, sắp xếp lại bộ máy tổ chức và hoạt động của
các NHTM.
Đối với các NHTMQD thực hiện chấn chỉnh, củng cố theo đề án tái cơ cấu

vay của các TCTD đã được ban hành theo Nghò đònh số 178/1999/NĐ-CP ngày
29/12/1999 tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện việc bảo đảm
tiền vay của các TCTD, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng đạt hiệu
quả. Bên cạnh đó hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động
ngân hàng được ban hành như: Luật DNNN có hiệu luật 01/07/2004; Luật đất đai
sửa đổi có hiệu lực 01/07/2004; Nghò đònh số 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi
hành Lật đất đai; Nghò đònh 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999, Nghò đònh số
08/2000/NĐ-CP ngày 10/03/2000 về đăng ký giao dòch bảo đảm…
2.3.1.3- Ban hành cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận.
Cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận thì lãi suất cho vay được hình
thành dựa trên quy luật cung cầu về vốn, chòu ảnh hưởng của các yếu tố thò
trường và sự tác động gián tiếp của NHNN. Quá trình điều hành chính sách lãi
suất theo hướng tự do hóa ở Việt Nam như sau: tự do hóa lãi suất tiền gởi từ
- 25 -
tháng 1/1993, tiếp đến sử dụng lãi suất cơ bản cộng biên độ giao động từ tháng
8/2000, từ tháng 6/2001 thực hiện việc tự do hóa lãi suất cho vay ngoại tệ, ngày
30/05/2002 NHNN ban hành quyết đònh số 546/2002/QĐ.NHNN về cơ chế cho
vay theo lãi suất thỏa thuận bằng đồng Việt Nam, mở ra một giai đoạn mới trong
điều hành chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa. Theo quyết đònh này các
NHTM được phép thỏa thuận với khách hàng vay về mức lãi suất cho vay trên
cơ sở cung cầu vốn trên thò trường và mức độ tín nhiệm của khách hàng vay đối
với ngân hàng. Việc thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận giúp các
NHTM có thể chủ động đa dạng hóa các hoạt động tín dụng thương mại, quản trò
tốt rủi ro tín dụng và sử dụng nguồn vốn cho vay đạt hiệu quả cao nhất.
2.3.1.4- Nâng cao vai trò của hệ thống thông tin tín dụng.
Hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) NHNN được thực hiện
thí điểm từ năm 1992 đến nay đã được nối mạng từ trung ương đến đòa phương,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status