LUẬN VĂN: Một số mặt của tích luỹ tư bản qua đó thấy được vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế của CNTB doc - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Một số mặt của tích luỹ tư bản qua đó
thấy được vai trò của nó trong quá
trình phát triển kinh tế của CNTB
Lời mở đầu

Nhìn lại các năm đã qua và gần đây nhất của Việt Nam là năm 2001. So với
trước đổi mới chúng ta đã thu được một số thành tựu nhưng so với thế thì chúng ta
thấy được gì. Đó là nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế. Đây cũng là thách
thức đặt ra trước mắt nước ta và yêu cầu phải giải quyết về lâu dài. Nước ta là nước
có bình quân thu nhập thuộc vào hàng thấp của thế giới. Câu hỏi đặt ra bây giờ
không còn là "tại sao chúng ta nghèo" mà là "làm thế nào để nước ta thoát khỏi tình
trạng kém phát triển này".
Để trả lời câu hỏi này chúng ta đi nghiên cứu các yếu tố dẫn tới thàng công
về kinh tế của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Có nhà
kinh tế học đã nói 3 yếu tố quyết định thành công của mỗi doanh nghiệp mỗi tổng
công ty hay trên hết là của mỗi quốc gia là các yếu tố sau: con người,vốn hay tư
bản,thời cơ. Thiếu một trong 3 yếu tố này thì không thể dẫn tới thành công được. Ví
dụ như nếu con người tài giỏi, thời cơ tốt nhưng thiếu tiền để đầu tư cơ sở hạ tầng,

cần thiết của sản xuất trong bất cứ xã hội nào. Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản
khi nó trở thành tài sản của nhà tư bản, và được dùng để bóc lột lao dộng làm thuê.
Khi chế độ tư bản bị xoá bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa. Như vậy,
tư bản không phải là một quan hệ sản xuất xã hội nhất định giữa người và người
trong quá trình sản xuất, nó có tính lịch sử.
Qua nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư ta có thể định nghĩa: "Tư
bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê". Tư bản
thể hiện quan hệ sản xuất giữa giai cấp tư sản và vô sản trong đó các nhà tư bản là
người sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột công nhân làm thuê -người tạo ra giá trị
thặng dư cho họ. Quan hệ sản xuất này cũng giống các quan hệ sản xuất khác của xã
hội tư bản đã bị vật hoá.
1.1.1.2 Khái niệm tích luỹ tư bản
Tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (tư
bản mới).
Muốn mở rộng sản xuất nhà tư bản không thể tiêu dùng hết giá trị thặng dư
mà chia thành 2 phần :một phần tích luỹ để mở rộng sản xuất, một phần để tiêu
dùng cá nhân và gia đình nhà tư bản.

Ta sẽ làm sáng tỏ hơn về khái niệm tích luỹ sau khi đi nghiên cứu các vấn đề
sau.
1.1.2 Thực chất của tĩch luỹ tư bản
1.1.2.1 Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Dù hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào đi nữa, thì bao giờ
đó cũng phải có tính chất liên tục hay cứ từng chu kì một, phải không ngừng trải
qua cũng những giai đoạn ấy. Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì xã hội cũng
không thể ngừng sản xuất. Vì vậy xét trong mối liên hệkhông ngừng và trong tiến
trình không ngừng của nó, mọi quá trình sản xuất xã hội đồng thời cũng là quá trình
tái sản xuất.
Nhưng điều kiện của sản xuất đồng thời cũng là những điều kiện của tái sản
xuất. Không một xã hội nào có thể sản xuất không ngừng tức là tái sản xuất, mà lại

dùng làm tư bản, hay được tích luỹ lại.
Muốn tích luỹ, cần phải biến một phần sản phẩm thặng dư thành tư bản.
Nhưng nếu không phải là có phép lạ thì người ta chỉ có thể biến thành tư bản những
vật nào dùng được vào quá trình lao động tức là những tư liệu sản xuất, và sau đó là
những vật phẩm có thể nuôi sống công nhân, tức là những tư liệu sinh hoạt. Do đó,
một phần lao động thặng dư hàng năm phải dùng để sản xuất thêm một số tư liệu
sản xuất và tư liệu sinh hoạt ngoài số cần thiết để hoàn lại tư bản đã ứng ra. Nói tóm
lại, sở dĩ giá trị thặng dư có thể biến thành tư bản là chỉ vì sản phẩm thặng dư - mà
giá trị của nó là giá trị thặng dư-đã bao gồm các yếu tố vật thể của một tư bản mới
rồi.
Nghiên cứu tích luỹ và tái sản xuất mở rộng tư bản ta có thể rút ra hai kết
luận vạnh rõ hơn bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
+Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích
luỹ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản. C.MAC nói rằng: tư bản
ứng trước chỉ là giọt nước trong dòng sông tích luỹ mà thôi
+Qúa trình tích luỹ đã làm cho quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá
biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Việc trao đổi giữa người lao động và

nhà tư bản dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm một phần lao động của
người công nhân, mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công đó. Như
vậy đã có sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu. Nhưng sự vi phạm đó không vi
phạm qui luật giá trị.
1.1.3 Động cơ của tích luỹ tư bản
1.1.3.1 Tích luỹ tư bản là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định, một trong hai phần (tích luỹ,
tiêu dùng ) đó càng lớn thì phần kia càng nhỏ. Nếu những điều kiện khác không
thay đổi thì tỉ lệ phân chia đó quyết định đại lượng tích luỹ. Nhưng kẻ thực hiện sư
phân chia đó là người sở hữu giá trị thặng dư, tức là nhà tư bản. Như vậy, nó là một
hành vi phụ thuộc vào ý chí của nhà tư bản. Về cái phần của món cống vật đó do
hắn thu được và được hắn đem tích tuỹ, thì người ta nói rằng nhà tư bản đã tiết kiệm

định quy mô của tích luỹ chính là những nhân tố quyết định quy mô của gía trị
thặng dư. Những nhân tố đó là :
1.1.4.1 Mức độ bóc lột sức lao động
Nâng cao mức độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công. Khi
nghiên cứu sự sản xuất ra giá trị thặng dư, C.MAC giả định rằng sư trao đỏi giữa
công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá. Nhưng trong thực tế, công nhân bị
nhà tư sản chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiền công.
Việc cắt xén tiền công giữ vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ tư bản.
Nâng cao mức độ bóc lột bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày
lao động. Việc tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động rõ ràng làm tăng
thêm giá trị thặng dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư được tư bản hoá tức
là làm tăng tích luỹ.Anhr hưởng này còn thể hiện ở chỗ số lượng lao động tăng
thêm mà nhà tư bản chiếm không do tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao
động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng (không đòi hỏi phải
tăng thêm số lương công nhân, tăng thêm máy móc thiết bị, mà hầu như chỉ cần
tăng thêm sư hao phí nguyên liệu )
1.1.4.2 Trình độ năng suất lao động

V iệc nâng cao năng suất lao động làm tăng thêm giá trị thặng dư, do đó tăng
thêm bộ phận giá trị thặng dư được tư bản hóa. Song vấn đề ở đây là tích luỹ không
chỉ được quyết định bởi khối lượng giá trị thặng dư, mà còn bởi khối lượng tư liệu
sản xuất và tư liệu tiêu dùng do khối lượng giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành.
Như vậy, năng suất lao động tăng sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất để biến
giá trị thặng dư thành tư bản mới. Do đó làm tăng quy mô của tích luỹ.
Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được nhiều lao đọng quá
khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, chúng làm chức
năng tư bản để sản xuất ra tư bản càng nhiều, do đó mà quy mô của tư bản tích luỹ
càng lớn. Như vậy, năng suất lao động là nhân tố quan trọng quyết định quy mô của
tích luỹ.
1.1.4.3 Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu

được biến thành sức lao động. Gỉa dụ rằng, cùng với những điều kiện khác không
thay đổi- nghĩa là để vận một khối lượng tư liệu sản xuất hay tư bản bất biến nhất
định,bao giờ cũng cần một khối lượng sức lao động như trước ,thì rõ ràng là lượng
cầu về lao động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỉ lệ với tư
bản, và tư bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó cũng càng tăng lên
nhanh bấy nhiêu. K hi quy mô tích luỹ có thể mở rộng đột ngột bằng cách chỉ cần
thay đổi sự phân chia giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư thành tư bản và thu
nhập, vì những lẽ đó nên nhu cầu tích luỹ của tư bản có thể vượt quá sự tăng thêm
cảu sức lao động hay số công nhân, lượng cầu về công nhân có thể vượt quá lượng
cung về công nhân và vì thế tiền công có thể tăng lên. Vì mỗi năm người ta sử dụng
nhiều công nhân hơn năm trước, nên sớm hay muộn ắt phải đến lúc mà nhu cầu của
tích lũy bắt đầu vượt quá lượng cung bình thường về lao động, và do đó tiền công
cũng sẽ tăng lên. Tích lũy tư bản là làm tăng thêm giai cấp vô sản.
1.2.1.2 Sự tăng lên về tiền công không ngăn cản việc tăng tích lũy tư bản .
Như ta đã thấy, do bản chất của nó, tiền công đòi người lao động bao giờ
cũng phải cung cấp một số lượng lao động không công nhất định. Hoàn toàn không
nói đến trường hợp tăng tiền công trong trường hợp giá cả lao động hạ xuống thì

trong trường hợp tốt nhất tăng tiền công cũng có nghĩa là giảm bớt về số lượng phần
lao động không công mà người lao động phải cung cấp. Sự giảm bớt này không bao
giờ có thể đi đến mức đe doạ sự tồn tại của bản thân chế độ này. Theo cách nói của
toán học, có thể nói rằng: đại lượng tích lũy là một biến số độc lập, đại lượng tiền
công là một biến số phụ thuộc, chứ không phải ngược lại .
Nếu khối lượng lao động không công do giai cấp công nhân cung cấp và do
giai cấp các nhà tư bản tích lũy, lại tăng lên khá nhanh đến mức nó chỉ có thể biến
thành tư bản khi nào có một sự tăng thêm khác thường của số lao động được trả
công, thì tiền công sẽ tăng lên, và nếu những điều kiện khác không thay đổi, thì lao
động không công sẽ giảm xuống một cách tương xứng. Nhưng một khi sự giảm
xuống này chạm tới cái điểm mà ở đấy lao động thặng dư nuôi dưỡng tư bản không
còn cung cấp với một khối lượng bình thường nữa, thì có ngay một sự phản ứng

biến tăng lên chậm hơn nhiều so với sự chênh lệch giữa khối liệu tư liệu sản xuất do
tư bản bất biến chuyển hoá thành, và khối lượng sức lao động do tư bản chuyển hoá
thành. Sự chênh lệch trên cũng tăng lên với sự chênh lệch dưới, nhưng với một mức
độ ít hơn. Vả lại nếu sự tiến bộ của tích luỹ làm giảm bớt đại lượng tương đối của
bộ phận tư bản khả biến thì như vậy tuyệt nhiên không phải nó loại trừ sự tăng lên
của đại lượng tuyệt đối của nó. Gỉa định rằng một giá trị tư bản lúc đầu tự chia ra
thành 50% là tư bản bất biến và 50%là tư bản khả biến, về sau lại chia thành 80% là
tư bản bất biến và 20%là tư bản khả biến. Nếu trong thời gian đó số tư bản lúc đầu
gồm 6000 chẳng hạn, đã tăng lên thành 18000 thì phần khả biến của nó đã tăng
thêm. Trước kia nó là 3000, bây giờ là 3600. Nhưng, nếu trước kia chỉ cần tăng tư
bản thêm 20%là đủ để tăng lượng cầu về lao động lên 20% thì bây giờ điều đó lại
đòi hỏi phải tăng tư bản lúc đầu lên gấp 3 lần.
Mọi tư bản đều là sự tích tụ nhiều hay ít tư liệu sản xuất với một sự chỉ huy
tương ứng đối với một đội quân lao động. Với mọi tích luỹ đều trở thành phương
tiện cho một tích luỹ mới.Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ với nhau. Sự khác
biệt này không chỉ về chất mà còn khác nhau về mặt lượng. Tập trung tư bản tuy
không làm tăng quy mô tư bản xã hội nhưng có vai trò rất lớn trong quá trình

chuyển sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn TBCN và quá trình chuyển CNTB từ giai đoạn
thấp lên giai đoạn cao.
1.2.3 Việc sản xuất ngày càng nhiều nhân khẩu thừa tương đối
1.2.3.1.Nhân khẩu thừa sản phẩm tất yếu của tích lũy
Lượng cầu về lao động không phải do quy mô của tổng tư bản quyết định mà
do quy mô của bộ phận khả biến của tư bản quyết định; cho nên cùng với sự tăng
lên của tổng tư bản thì lượng cầu về lao động cũng dần dần giảm bớt đi chứ không
phải tăng lên theo tỉ lệ với sự tăng thêm của tổng tư bản, như chúng ta đã giả định
trước đây. Lượng cầu về lao động giảm xuống một cách tương đối so với đại lượng
của tổng tư bản và giảm xuống theo một cấp số ngày càng nhanh cùng với sự tăng
lên của đại lượng ấy. Thật ra cùng với sự tăng lên của tổng tư bản thì phần khả biến
của nó, hay sức lao động kết hợp vào nó, cũng tăng lên, nhưng lại tăng lên theo một

giảm bớt số công nhân đang làm việc so với sản xuất đã tăng lên. Như vậy toàn bộ
hình thức vận động đặc biệt của nền công nghiệp hiện đại đều phát sinh trên sự
thường xuyên biến một bộ phận nào đó của nhân khẩu công nhân thành những công
nhân không có việc làm hay chỉ có việc làm một nửa. Việc sản xuất nhân khẩu thừa
tương đối, nghĩa là thừa so với nhu cầu trung bình của tư bản trong việc làm tăng
giá trị của nó, là điều kiện sống còn của nền công nghiệp hiện đại.

CHƯƠNG 2:
VAI TRò CủA TíCH Luỹ tư bản
trong quá trình Hình thành và phát triển kinh tế TBCN
2.1 Tích luỹ nguyên thuỷ tư bản
2.1.1Tích luỹ ban đầu, điểm xuất phát của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
2.1.1.1 Hai điều kiện ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Qúa trình phát triển của con người từ khi sinh ra cho tới nay gắn liền với quá
trình phát triển và thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất xã hội.Phương
thức sản xuất đầu tiên là cộng sản nguyên thuỷ, phương thức sản xuất này được thay
thế bởi phương thức sản xuất nô lệ tiếp đó là phuơng thức sản xuất phonng kiến. Và
từ giữa thế kỉ XV cho tới giữa thế kỉ XVII là thời kì bắt đầu tan rã của chế độ phong
kiến và thay thế bởi chế độ phong kiến là chế độ tư bản chủ nghĩa bắt đầu ra đời.
Chủ nghĩa tư bản ra đời trong lòng chế độ phong kiến.
Hai điều kiện cần và đủ để hình thành chủ nghĩa tư bản
+Tập trung trong tay một số ít người số tiền của lớn để lập ra các xí nghiệp
TBCN
+Có một lớp người hoàn toàn tự do về thân thể (quyền quyết định thân thể
mình) và đã bị mất hết tư liệu sản xuất.
2.1.1.1 Tích luý nguyên thuỷ tư bản,đòn bẩy đẩy nhanh sư ra đời của hai
điều kiện
Gỉa định rằng trước tích luỹ tư bản chủ nghĩa đã có một sự tích luỹ "ban đầu"
-một tích luỹ không phải là kết quả của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà
là xuất phát điểm của nó. Trong khoa kinh tế chính trị, sự tích lũy ban đầu này đóng

2.1.2 Nội dung, đặc điểm của thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ(Điển hình ở Anh)
2.1.2.1 Sự tước đoạt ruộng đất của dân cư ở nông thôn
Màn mở đầu của sự đảo lộn đặt nền tảng cho phương thức tư bản chủ nghĩa
đã diễn ra trong ba mươi năm cuối thế kỉ XV và mấy mươi năm đầu thế kỉ XVI.
Biến đồng ruộng thành bãi chăn thả đã trở thành khẩu hiệu của các chúa
phong kiến. Nhà ở của nông dân và những chiếc nhà nhỏ của công nhân bị phá huỷ

đi bằng bạo lực noặc cho đổ nát để biến thành bãi chăn thả, ở đấy chỉ còn nhà của
chúa đất mà thôi. Trong thời kì này, cơ quan lập pháp cũng tìm cách duy trìmột mức
tối thiểu 4 a-cơ đất đai cho mỗi căn nhà nhỏ của người công nhân công nghiệp làm
thuê và cấm không nhận cho ngưoừi khác đến ở thuê trong nhà mình.
Trong thế kỉ XVI cuộc cải cách tôn giáo và sự cướp bóc hàng loạt những tài
sản của giáo hội tiếp theo sau nó đã đem lại một sự thúc đẩy ghê gớm cho quá trình
tước đoạt quần chúng nhân dân bằng bạo lực. Việc xoá bỏ các nhà tu kín đã đẩy các
người trong các nhà tu đó vào hàng ngũ vô sản.
Vấn đề "rào ruộng đất của công xã ", việc rào đất của công xã rất phổ biến và
phần lớn những lãnh địa mới do việc rào đất mà có, dã bién thành đồng cỏ. Không
phải chỉ những đất bỏ hoang, mà lắm khi cả những đất đai đã trồng trọt cũng đều bị
địa chủ lân cận sáp nhậpdưới cớ rào đất.
Tóm lại, cướp đoạt tài sản của nhà thờ, nhượng đất đai nhà nước một cách
gian lận, ăn cắp đất đai của công xã, biến sở hữu phong kiến và sở hữu thị tộc thành
sở hữu tư nhân hiện đại bằng cách chiếm đoạt và khủng bố tàn nhẫn-đó là bấy nhiêu
phương pháp thơ mộng của tích luỹ banđầu-Chúng đã chinh phục đất đai cho nền
nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, đem ruộng đất gắn vào tư bản và tạo ra một luồng
cần thiết những người vô sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật để cung cấp cho công
nghiệp thành thị.
2.1.2.2 Phương pháp đẫm máu từ cuối thế kỉ XV nhằm chống những người
bị tước đoạt. Những đạo luật nhằm hạ thấp tiền công.
Pháp chế về lao động làm thuê- nhay từ đầu đã nhằm vào sự bóc lột công
nhân và trong quá trình phát triển của nó luôn luôn thù ddịch với công nhân. Pháp

anh ta phải trả lại được kí kết theo giá trị đồng tiền cũ. Như vậy là cùng một lúc
người Phecmie đã làm cả giàu trên lưng của những người công nhân làm thuê cho
họ, lẫn trên lưng người địa chủ quý tộc. Vì vậy không có gì đáng lấy làm lạ là cuối
thế kỉ XVI ở Anh dã hình thành nên một giai cấp"những người Phecmie tư bản chủ
nghĩa" giàu có đốivới thời đó.

2.1.2.4 ảnh hưởng ngược trở lại của cuộc cách mạng nông nghiệp đối với
công nghiệp, sự hình thành thị trường trong nước cho tư bản công nghiệp.
Việc tước đoạt và xua đuổi dân cư nông thôn ra khỏi ruộng đất không ngừng
hết đợt này đến đợt khác, đã cung cấp cho công nghiệp ở thành thị ngày càng nhiều
đám người vô sản hoàn toàn đứng ngoài quan hệ phường hội.Tình hình dân dư nông
thôn đọc lập tự mình cày cấy trở lên thưa thớt, thì không phải chỉ tương ứng với sự
đông đặc thêm của giai cấp vô sản công nghiệp. Mặc dù số người cày cấy ruộng đất
có giảm đi, ruộng đất bây giờ vẫn mang một số sản phẩm như trước hay nhiều hơn
trước, vì cuộc cách mạng về quan hệ sở hữu ruộng đất đã dẫn theo sự cải tiến các
phương pháp canh tác, sự hiệp tác rộng lớn hơn, sự tập trung các tư liệu sản xuất
Việc tước đoạt và đuổi một bộ phận dân cư nông thôn không những giải
phóng công nhân, giải phóng tư liệu sinh hoạt và tư liệu lao động của họ cho tư bản
công nghiệp, mà còn tạo ra thị trường trong nước nữa. Thật vậy, chính những sự
kiện biến những người tiểu nông thành công nhân làm thuê, và biến tư liệu sinh hoạt
và tư liệu lao động của họ thành yếu tố vật thể của tư bản , thì cũng đồng thời tạo ra
tạo ra thị trường bên trong cho tư bản. Vậy là, đi đôi với sự tước đoạt những người
nông dân độc lập trước đây và với việc tách họ ra khỏi cá tư liệu sản xuất, thì cũng
diễn ra sự tiêu diệt nghề phụ nông thôn và quá trình tách rời công trường thủ công
với nghề nông. Và chỉ có sự tiêu diệt nghề phụ ở nông thôn mới có thể làm cho thị
trường bên trong của một nước có được cái quy mô và sự ổn định cần thiết cho
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
2.1.2.5 Sự ra đời của nhà tư bản công nghiệp( hệ thống thuộc địa, chế độ
công trái, hệ thống thuế khoá )
Sự ra đời của nhà tư bản công nghiệp không có tính chất dần dần từng bước

Tích lũy nguyên thuỷ là xuất phát điểm của chủ nghĩa tư bản thì với chủ
nghĩa tư bản hiện đại nó lại là điều kiện sống còn, điều kiện thúc đẩy sự phát triển
của chế độ này.Tích lũy tư bản là quy luật tất yếu của chủ nghĩa tư bản, nó tồn tại
song song với sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản là phương thức sản
xuất xã hội mà ở đó tồn tại những người còn được gọi là các nhà tư bản không bao

giờ hài lòng với số tư bản họ có. Mục tiêu của các nhà tư bản là luôn luôn tối đa hoá
lợi nhuận và họ làm mọi cách để đạt được mục tiêu này.Tích lũy là con đường tất
yếu mà chủ nghĩa tư bản đi qua là vì lẽ này. Khi nhà tư bản mua tư liệu sản xuất,
thuê công nhân để tiến hành sản xuất họ thu được một khối lượng giá trị thăng dư,
nhưng nhà tư bản không bao giờ hài lòng với giá trị thặng dư này. Họ sẽ tìm cách
tăng nó lên băng cách biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Cứ thế
quá trình này diễn ra liên tục và quy mô của nhà tư bản không ngừng mở rộng. Quy
mô mở rộng nhà tư bản sẽ mua thêm tư liệu sản xuất và thuê thêm lao động. Song
nếu chỉ đơn thuần tăng giá trị thặng dư như vậy thì nhà tư bản không còn là nhà tư
bản nữa. Họ sẽ tìm cách hạn chế bộ phận khả biến xuống tương đối so với bộ phận
bất biến. Và để làm điều đó họ sẽ dùng số tư bản mà họ tích lũy được( từ giá trị của
người khác làm ra) để đầu tư cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất mà quy mô
mở rộng của tư bản là điều kiện tạo ra vô cùng thuận lợi. Và cứ thế như một chuỗi
logic sản xuất ra giá trị thặng dư, tích luỹ tư bản để tăng quy mô, để tăng quy mô
dẫn tới sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và lại tiếp tục phục vụ
cho việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Xã hội tư bản không ngừng phồn thịnh hơn.
Qúa trình này lại khiến cho lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển đúng
theo xu hướng lịch sử tất yếu của nó.
2.2.2 Xã hội hoá nền sản xuất ngày càng cao.
Như đã trình bày ở trên tích luỹ tư bản tất yếu dẫn đến sự phát triển của lực
lượng sản xuất với trình độ cao lại dẫn tới quá trình xã hội hoá nền sản xuất.
Thật vậy lực lượng sản xuất phát triển dẫn tới mâu thuẫn, sản phẩm sản xuất
ra thì ngày càng tập trung ít vào một số ít người trong khi đó sản phẩm đó lại ngày
càng được mang tính xã hội cao.Lực lượng sản xuất phát triển tất yếu dẫn tới sự

Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt.
Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa, là sự phủ định đầu
tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản

xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá
trình tự nhiên. Đó là sự phủ định cái phủ định. Sự phủ định này không khôi phục lại
chế độ tư hữu, mà khôi phục lại chế độ sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu
của thời đại tư bản chủ nghĩa: trên cơ sở sự hợp tác và sự chiếm hữu công cộng đối
với ruộng đất và những tư liệu sản xuất do chính lao động làm ra.
Dĩ nhiên, việc biến chế độ tư hữu phân tán dựa trên cơ sở lao động của bản
thân các cá nhân thành chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, là một quá trình lâu dài,
gian khổ và đau đớn hơn nhiều so với việc biến chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa,
thực tế đã dựa trên một quá trình sản xuất xã hội, thành chế độ sở hữu xã hội. ở kia
là một số ít kẻ tiếm đoạt đi tước đoạt quần chúng nhân dân, còn ở đây thì quần
chúng nhân dân đi tước đoạt một số ít những kẻ tiếm đoạt.
Chương 3 ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu.
3.1 ý nghĩa về mặt lý luận
Tích luỹ tư bản một với vai trò xuất phát điểm của chủ nghĩa tư bản gọi là
tích luỹ nguyên thuỷ tư bản và với vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển quy mô của
chủ nghĩa tư bản hiện nay. Chúng ta đã đi tìm hiểu cả hai loại tích luỹ tư bản trên,
đã hiểu được thực chất của tích luỹ tư bản. Tất cả những điều trên trang bị cho
chúng ta một thế giới quan phương pháp luận về vấn đề nghiên cứu. Một cách nhìn
đúng đắn về vấn đề nghiên cứu là mục đích khi em bắt tay vào nghiên cứu đề tài.
Tất cả vấn đề nghiên cứu trên sẽ là vô ích nếu nó cho ta một cái nhìn sai lệch và
ngược lại sẽ là rất có ích nếu nó trang bị cho mọi người cái nhìn đúng đắn. Tư tưởng
đúng đắn thì hành động mới đúng đắn được.
Sự ra đời cũng như sự tồn tại phát triển của chủ nghĩa tư bản được các nhà tư
bản luôn luôn tìm cách che đậy bản chất của nó bằng cách họ không ngớt ca ngợi
các chế độ này. Chế độ được sinh ra tồn tại phát triển dựa trên sự bóc lột người

Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường còn gặp nhiều trở ngại. Điểm
xuất phát của nước ta càn quá thấp, nguy cơ tụt hậu so với thế giới đang đe dọa.

Điều mong mỏi của chúng ta là làm sao để phát triển để bắt kịp với nhịp độ phát
triển của thế giới.
Một vấn đề đặt ra còn nhiều thách thức đó là vốn, làm sao để có đủ vốn và sử
dụng vốn như thế nào. Qua việc nghiên cứu tích luỹ tư bản ta càng thấy được vai trò
của vốn như thế nào.
Để huy động vốn ở nước ta có hai nguồn ngoại lực từ các nước ngoài.Để
tăng vốn đầu tư nước ngoài thì chúng ta đòi hỏi phải có các biện pháp khuyến khích
đầu tư, hệ thống pháp luật phải thông thoáng. Thu hút đầu tư ở nước ngoài cũng
phải đảm bảo về mặt xã hội nguồn nội lực trong nước là quan trọng. Tìm mọi cách
huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, phát triển hàng hoá nhiều thành phần
sẽ huy động được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Nhất là thành phần kinh
tế tư nhân, ở đây có một tiềm lực rất lớn. Song mặc dù huy động vốn trong nước
hay từ ngoài nước thì chúng ta cũng phải đảm bảo định hướng cuả chúng ta.
Việc sử dụng vốn cũng vô cùng quan trọng. Hoạt động đầu tư phải làm sao
thu được nhiều lợi ích nhất hiệu quả nhất, đầu tư vào những ngành có lợi thế so
sánh của nước ta. Sử dụng vốn phải tiết kiệm, tránh sử dụng lãng phí và đầu tư thua
lỗ. Cũng tránh trường hợp để vốn nằm tại chỗ mà không phát sinh lợi nhuận.
Tóm lại vấn đề giải quyết tình trạng vốn ở nước ta là vô cùng cấp bách, bởi
tất yếu với vai trò của vốn thì không thể phát triển mà không cần vốn. Nó là một
trong ba yếu tố để dẫn tới thành công của bất kì quốc gia nào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status