…………..o0o…………..
Đề Tài: nghiên cứu vấn đề bản chất, chức
năng, hình thức của tín dụng và vai trò
của nó đối với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN 1
LỜI MỞ ĐẦU.
Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
thế giới đòi hỏi chúng ta phải tìm ra và ứng dụng nhiều giải pháp đồng
bộ và có tính hệ thống và khả thi, nhiều "đòn bẩy kinh tế" với những
biện pháp cụ thể hữu hiệu, thiết thực hơn. Trong đó, hiện nay một
trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là phải tăng cường nguồn
vốn nhằm chuyển giao, áp dụng công nghệ tiên tiến, mở rộng quy mô
sản xuất phát huy nội lực, phát triển kinh tế đất nước, nâng cao năng
lực xuất khẩu, cạnh tranh, hợp tác, tích cực tham gia hoà nhập, thích
ứng quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới... Để tăng cường nguồn
vốn đầu tư cho nền sản xuất có nhiều biện pháp khác nhau, đa dạng và
phong phú, trong đó một biện pháp rất quan trọng là nâng cao khả
năng của hoạt động tín dụng. Về mặt lý luận kinh tế cũng như thực
tiễn phát triển nền kinh tế nước ta và thế giới từ trước đến nay, đặc
biệt trong tình hình kinh tế thế giới, khu vực, nước ta những năm gần
đây cho thấy tín dụng ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển nền kinh tế nói chung nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng XHCN nói riêng. Bởi vậy việc tìm hiểu,
nghiên cứu vấn đề bản chất, chức năng, hình thức của tín dụng và vai
trò của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN là việc làm cần thiết, bổ ích trước hết là với những người học
tập về khoa học kinh tế, những nhà quản lý, hoạt động trong lĩnh vực
kinh tế.
3
I. BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG.
1.1. Tín dụng hình thành, phát triển là một tất yếu khách
quan.
Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài người cũng
phát triển theo các hình thái kinh tế khác nhau. Ở mỗi giai đoạn, thời
đại kinh tế đó do đặc điểm về năng lực của nền kinh tế nên ở xã hội
cộng sản nguyên thủy do lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội
hoàn, xoay vòng của nguồn vốn được diễn ra liên tục nâng cao khả
năng sản xuất kinh doanh, tiết kiệm được nguồn vốn ...
- Hai là: Trong đời sống sinh hoạt, vận động của toàn xã hội có
tình trạng có những cơ quan, đơn vị, tổ chức tập thể và trong nhân dân
(cá nhân, hộ gia đình ...) thường xuyên có lượng tiền nhàn rỗi chưa
cần sử dụng ngay. Đây cũng là một điều kiện, cơ sở tiềm tàng dẫn đến
nảy sinh quan hệ tín dụng bởi lẽ không có những lượng tiền nhàn rỗi
đó thì không có cơ sở để thực hiện quan hệ tín dụng.
- Ba là do chế độ sở hữu về vốn trong nền sản xuất hàng hoá
nhiều thành phần nền kinh tế thị trường, do tồn tại nhiều thành phần
kinh tế - nhiều hình thức sở hữu khác nhau về vốn songl ại đòi hỏi có
sự chuyển hoá trong nội bộ của các hình thức sở hữu và giữa các hình
thức sở hữu, các thành phần kinh tế. Tuy nhiên để việc chuyển vốn
giữa các hình thức sở hữu các thành phần kinh tế và không làm ảnh
hưởng, không xâm phạm đến quyền lợi của nhau giữa các chủ sở hữu
cần phải thông qua quan hệ tín dụng có vay có trả theo thoả thuận nhất
định mà bên cho vay khi nhận lại số tiền cho vay ngoài phần gốc còn
được thêm một số tiền lãi theo tỷ lệ quy định. Nhờ đó mà quyền lợi
của các chủ sở hữu khác nhau khi tham gia quan hệ tín dụng được đảm
5
bảo một cách chặt chẽ, theo một quy tắc thống nhất, với sự bảo đảm
có tính pháp lý, pháp luật.
- Bốn là do yêu cầu của quá trình hạch toán kinh tế trong sản
xuất, kinh doanh rất chặt chẽ, cụ thể chi tiết nên các đơn vị, tổ chức
kinh tế, các doanh nghiệp phải luôn chủ động, thận trọng trong tính
toán huy động, chuẩn bị tạo nguồn vốn nắm chắc nguồn vốn cũng như
sử dụng vốn kể cả vốn cố định và lưu động. Tính toán cân nhắc, xác
định đúng về nhu cầu vốn của mình trong sản xuất kinh doanh đảm
bảo lấy thu bù chi và có lãi. Chính việc đi vay và cho vay thông qua
Ở giai đoạn: hoàn trả tín dụng - kết thúc một vòng tuần hoàn của
tín dụng. Vốn tín dụng sau khi đưa vào sản xuất trở về hình thái tiền
tệ - vốn, được người đi vay trả lại cho người vay gồm phân gốc và lãi
(lợi tức). Như vậy vốn đưa vào hoạt động tín dụng đã sinh lợi cho
người sở hữu nó. Quá trình này về thực chất theo C. Mác khi phân tích
nền kinh tế TBCN đã chỉ rõ: "Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở
hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người
sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải bỏ ra
để thanh toán hay không phải tự ta bán đi để cho vay. Tiền chỉ đem
nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một
kỳ hạn nhất định" (C.Mác tư bản quyền III, tập II, NXB Sự thật, Hà
Nội, 1978). Rõ ràng rằng ở đây sự hoàn trả tín dụng là sự quay trở về
của giá trị. Đó là sự vận động của một lượng giá trị. Sự hoàn trả theo
đúng nghĩa của nó luôn được bảo toàn về mặt giá trị và cộng với phần