MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Xuất hiện tại lưu vực sông Hoàng Hà từ khoảng thiên niên kỷ thứ III trước công
nguyên, nền văn minh Trung Quốc (hay văn minh Trung Hoa) là một trong những nền
văn minh sớm nhất của nhân loại. Trên cơ sở kế thừa những di sản văn hóa cổ đại, và
những điều kiện kinh tế xă hội mới cùng với sự giao lưu văn hóa với bên ngoài, nhân
dân Trung Quốc đă sáng tạo ra những thành tựu văn hóa vô cùng rực rỡ so với thế giới
đương thời, trong đó nổi bật nhất là các mặt tư tưởng, văn học, sử học, nghệ thuật và
một số lĩnh vực khoa học – kĩ thuật. Suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh
Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng sâu đậm đến các dân tộc châu Á mà còn có những
đóng góp lớn vào tiến trình phát triển của văn minh loài người.
Trong số những tư tưởng nổi bật của Văn minh Trung Hoa không thể không kể
đến những tư tưởng của Nho gia. Dân tộc Trung Hoa đã nhiều lần bị ngoại tộc (Mông
Cổ, Mãn Thanh) ) xâm chiếm, nhưng văn hiến của họ thì không gươm giáo nào hủy
hoại được, ngược lại còn đồng hóa luôn những kẻ đã chinh phục họ, ấy là nhờ một
phần lớn ở những tư tưởng sâu xa của Nho gia đã trui rèn nên một tầng lớp Nho sĩ
thông thuộc kinh sử và giàu phẩm chất đạo đức. Hơn nữa, Nho gia không chỉ bị bó hẹp
trong phạm vi đất nước Trung Quốc mà còn lan truyền rộng rãi sang các nước châu Á
khác, trong đó có Việt Nam. Do vậy, tìm hiểu về Nho gia và ảnh hưởng của nó tới đời
sống xã hội Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc vận dụng vào thực tiễn,
nhất là khi chúng ta đang trong quá trình xây dựng xã hội mới.
Từ những ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của Nho gia như vậy, em xin mạnh
dạn chọn đề tài: “ Quan điểm chính trị - xã hội của Nho gia. Từ đó rút ra ý nghĩa và
liên hệ với quá trình xây dựng xã hội mới ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện bài tiểu
luận của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Ngọc Thông đã có những bài giảng rất
sâu sắc về bộ môn triết học nói chung và về Nho gia nói riêng, để qua đó em có thể
thực hiện được bài tiểu luận của mình. Do kiến thức và thời gian hạn hẹp, bài tiểu luận
khó tránh khỏi những sai sót, rất mong thầy chỉ bảo thêm cho em để bài tiểu luận được
hoàn thiện hơn.
3
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Những tư tưởng triết học của Nho gia có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các
nhà tư tưởng lỗi lạc trong lịch sử Việt nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm
và nhiều nhà tư tưởng khác. Nhiều tư tưởng tiến bộ trong các quan điểm về chính trị,
đạo đức của Nho gia đã được các nhà tư tưởng Việt Nam kế thừa theo tinh thần thực
tiễn của dân tộc. Đó là tư tưởng thân dân, trọng dân, coi dân là gốc của quốc gia; đó là
tư tưởng nhân, nghĩa trong đời sống chính trị - xã hội; đó là mỗi quan hệ biện chứng
song trùng giữa vua – tôi, cha – con, chồng – vợ; đó là các phạm trù đạo đức trung,
hiếu, tiết, nghĩa v.v…
Trong khi kế thừa và sử dụng các tư tưởng tiến bộ đó, các nhà tư tưởng Việt
Nam đã bổ sung và làm thay đổi các nội hàm một số khái niệm vốn có của Nho gia. Do
vậy, các tư tưởng của Nho gia, đặc biệt là các tư tưởng chính trị, xã hội có ảnh hưởng
nhiều tới đời sống xã hội Việt Nam, kể cả trong quá trình xây dựng xã hội mới hiện
nay, các tư tưởng này của Nho gia cũng có những giá trị nhất định.
III. THỰC TRẠNG NHO GIA VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI Ở
VIỆT NAM HIỆN
1. Tác giả và tác phẩm chính của Nho gia
Nho gia (hay còn gọi là Nho học) là một trong chín hệ thống đặc biệt của triết
học Trung Hoa, là khoa học giáo dục do Đức Khổng Tử ( được mệnh danh là vạn thế
sư biểu) sáng lập, sau đó được phát triển bởi Mạnh Tử theo hướng duy tâm, Tuân Tử
phát triển các tư tưởng của Khổng Tử theo hướng duy vật.
Thời Tây Chu, có một chức quan coi việc lễ - nhạc gọi là Nho quan. Đến thời
Đông Chu, học thuyết Khổng Tử ra đời rất coi trọng lễ - nhạc nên gọi là Nho học. Hơn
hai thế kỷ sau khi Khổng Tử qua đời, Nho học mới chính thức được phổ biến, áp dụng
rộng rãi, từ thời nhà Hán (206 trước Công nguyên – 220 Công nguyên) kéo dài đến nhà
Thanh. Qua mỗi thời đại lại có các nhà nho nổi tiếng biên soạn gia giảm, chú giải, bàn
luận…Tất cả các tác gia ấy được gọi chung là bậc thánh hiền, trong đó Khổng Tử là
đại thánh, Mạnh Tử là á thánh ( hai vị thánh đứng đầu Nho gia).
4
Tân dân (đổi mới dân chúng theo hướng đạo đức Nho gia); Chỉ ư chí thiện (chỉ làm
việc thiện). Bát mục (8 bước thực hiện ba cương lĩnh trên): Cách vật (nghiên cứu thấu
đáo sự vật); Trí tri (có kiến thức rõ rệt, hiểu biết sâu sắc, đến cùng); Thành ý (lòng
chân thành), thành thật ngay với mình, không giả dối tạm bợ); Chính tâm (giữ lòng
ngay dạ thẳng khi tu dưỡng) gần với “thiền”; Tu thân (học làm quân tử: sửa mình làm
người tốt); Tề gia (xây dựng gia đình tốt, hài hòa cân đối); Trị quốc (làm quan chức
tốt); Bình thiên hạ (lãnh đạo thiên hạ thái bình/ làm thế nào chinh phục thiên hạ/ hội
nhập quốc tế).
Trung dung: Mục đích của sách Trung dung là theo đạo có thể giúp chúng ta
đạt được một trình độ cao của đạo đức. Trong sách Trung Dung, Ngũ Tử Tư dẫn những
lời của Khổng Tử nói về “ đạo trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc
làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời
theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.
Sách Trung dung chia làm hai phần. Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần
chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy học trị về đạo lý trung dung, phải làm sao cho
tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát, gồm đủ nhân , nghĩa, lễ, trí, tín, cho hòa với muôn vật,
cho hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi. Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là
phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ nghĩa và giá trị của hai
chữ “ trung dung”.
1.2 Ngũ kinh
Kinh thi: là một bộ tổng tập thơ ca vô danh, với nội dung rất phong phú, phản
ánh cuộc sống xã hội Trung Quốc trong một thời gian dài từ đầu thời Tây Chu (thế kỷ
XI trước công nguyên) đến giữa thời Xuân Thu (thế kỷ VI trước công nguyên), nhiều
nhất là những miêu tả những sinh hoạt dân gian, tâm tư và tình cảm con người đương
thời. Kinh thi gồm 305 bài thơ chia làm ba bộ phận lớn là Phong, Nhã và Tụng. Quốc
Phong có 160 bài, là những bài thơ dân gian của 15 địa phương ở phía bắc sông Hoàng
Hà: Chu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ ,Vương, Trịnh, Tề, Ngụy, Đường, Tần,
Trần, Cối, Tào, Mân. Nhã: chỉ các loại ca khúc, có 105 bài, chia làm hai phần Tiểu
Nhã và Đại Nhã. Tụng: có 40 bài chuyên về tán tụng vương triều.
6
Thuyết chính danh: trong thời đại của mình Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối
ren phức tạp của xã hội phong kiến thời Chu, một xã hội mà tôn ti trật tự bị đảo lộn.
Ông lấy làm tiếc thời đầu nhà Chu như Chu Vị Cương, Chu Công …tươi đẹp, phong
hóa tươi tốt, ông nhìn thấy tình cảnh “ tôi thí vua, con giết cha không phải một sớm
một chiều”. Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớ của nó, mà cái cớ này không tự
dưng có mà nó được tích tập dần dần qua thời gian, để đến một lúc nào đó dẫn tới tình
trạng hỗn loạn trên. Nhưng với bản tính ôn hòa, thích giáo huấn dần dần hơn là bạo
lực, mà bạo lực chưa chắc giải quyết được triệt để cái tệ “tôi giết vua, con giết cha” nói
trên mà bất quá chỉ thay thế cuộc thí quân này bằng cuộc thí quân khác hoặc vụ giết
cha này bằng vụ giết cha khác, nên Khổng Tử mới đề ra học thuyết chính danh nhằm
để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần.
Ông cho rằng, xã hội bị rối loạn vì vua không làm đúng danh hiệu vua, tôi
không làm đúng danh hiệu tôi…ông đưa ra học thuyết “Chính danh định phận” làm căn
bản cho việc trị quốc. “Chính Danh” là danh (tên gọi, chức vụ, địa vị, thứ bậc) và thực
(phận sự, nghĩa vụ, quyền lợi) phải phù hợp với nhau Khổng Tử cho rằng, mỗi vật,
mỗi người sinh ra đều có một địa vị, công dụng nhất định, ứng với mỗi địa vị công
dụng đó là “danh” nhất định. Vật nào, người nào trong thực tại đều có danh hợp với nó,
nếu không danh sẽ không hợp với thực, là loạn danh. Danh và phận của mỗi người
trước hết do xã hội quy định. Khổng Tử đã quy tất cả các quan hệ xã hội thành năm
mối quan hệ cơ bản ( ngũ luân) như sau:
Vua – Tôi: bề tôi phải lấy chữ trung làm đầu. Cha – Con: bề con phải lấy chữ hiếu
làm đầu. Chồng – Vợ: vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu. Anh – Em: phải lấy chữ hữu làm đầu.
Bạn – Bố: phải lấy chữ tín làm đầu. Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng: Vua thì
phải nhất; Tôi thì phải trung; Cha phải hiền từ; Con phải hiếu thảo; Phu xướng phụ tùy.
Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất (Tam cương)
cụ thể: Vua – Tôi: Vua là trụ cột; Cha – Con: Cha là trụ cột; Chồng – Vợ: Chồng là trụ cột.
Như vậy, năm mối quan hệ đã nói rõ danh, phận của từng người, vế sau phải phục tùng vế
trước, nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao cho vua ở hết phận vua, tôi ở hết
phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con…thì có chính danh.
8
thế kỷ 3 và 4 trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và nhận thức trên
cơ sở chủ nghĩa duy vật của họ. Ông là người có tài hùng biện thuyết phục người khác.
Ông đã từng chu du khắp thiên hạ để giảng thuyết kiêm ái với tinh thần, nghị lực và
niềm tin hiếm có. Với tinh thần xả thân vì nghĩa, Mặc Tử đã đào luyện đội ngũ học trò
cũng có đức hạnh và lòng quả cảm như ông. Không những thế, những học thuyết của
ông luôn mang lại tính thiết thực cho xã hội, và cho sự đóng góp, xây dựng đất nước,
trong đó có thuyết Thượng hiền.
Thượng có nghĩa là đưa lên, tuyển chọn, quý trọng, hiền có nghĩa là người hiền
tài và nhân đức, đủ sức gánh vác trách nhiệm được giao phó một cách tốt đẹp nhất.
Thượng hiền là chọn lựa và sử dụng những người hiền tài, nhân đức bất kể họ ở địa vị
nào trong xã hội để tôn lên chịu trọng trách chăn dân trị nước. Quan không quý đời đời
mà dân không tiện mãi mãi, ai có tài thì đề cử họ, ai không có tài thì hạ họ xuống.
Chọn người cốt ở cái tài và cái đức, người đó có thể làm tốt việc hay không chứ không
cần họ phải con nhà quý tộc, mặt mũi xinh đẹp. Vì những kẻ cốt nhục, phú quý, mặt
mũi xinh đẹp đâu có phải là những kẻ thông minh tài đức cả đâu.
Với Thượng hiền trung, Mặc Tử chủ trương tư tưởng: chọn người hiền tài trong
việc trị nước, không kể người bà con thân thích hay mặt mũi xinh đẹp, không lấy cái vẻ
của họ làm cái yêu của mình, không kéo bố kéo cánh với cha anh, không thiên vị kẻ
giàu sang, không say mê kẻ nhan sắc, ai hiền thì được nâng nhắc lên cho giàu sang và
dùng làm quan trưởng, kẻ nào bất tài thất đức thì nên bỏ đi, phải chịu nghèo hèn và
dùng làm phu dịch. Kẻ nào đáng làm quan trưởng thì cho làm quan trưởng, kẻ nào
đáng trị một ấp thì cho trị một ấp.
Với Thượng hiền hạ, Mặc Tử chủ trương: Nay các đấng vương công đại nhân có
cái quần không thể may được ắt tìm người thợ may khéo. Có một con trâu, con dê không
giết được ắt tìm đến tên đồ tể giỏi. Có một con ngựa bệnh không thể chữa ắt tìm người
thầy thuốc giỏi. Có một cây cung không thể giương được ắt tìm người thợ cung giỏi. Các
đấng vương công, đại phu trong lúc đó dẫu có những người cốt nhục, giàu sang, mặt mũi
xinh đẹp, nhưng thật biết họ không làm được những việc trên ắt là không khiến. Đó là cớ
gì? Vì họ sợ làm hư hỏng của các đấng vương công đại phu. Các đấng vương công đại
10
sợ rằng: tình hình và phép tắc chẳng được đồng đều, chẳng lo sợ cho nước mình nghèo
khổ, mà lo sợ chẳng được an ninh. Là vì hễ đồng đều thì chẳng nghèo khổ, người hòa
thì dân số không ít, có an ninh thì nước nhà không nghiêng ngả”. Xã hội lý tưởng được
các nhà Nho nêu lên còn là một xã hội mà ở đó có vua thánh, tôi hiền, mọi cái đều là
của chung, mọi người đều có quyền lợi, có sản nghiệp riêng và đều được chăm sóc.
Trong thiên Lễ vận, sách Lễ ký, Khổng Tử nói: “Sự thực hiện của đạo lớn là, thiên hạ
là của chung, tuyển chọn người hiền và cử người tài năng, nói điều tín và tu sửa hòa
mục. Cho nên người ta không chỉ tôn kính cha mẹ mình, không chỉ thương yêu con cái
mình, còn khiến cho người già được sống trọn đời, người trai tráng được sử dụng, trẻ
thơ được lớn lên, người không vợ, người không chồng, trẻ mồ côi, người không con,
người tàn tật, tất cả đều được chăm sóc”.
Các nhà Nho đã tìm ra một nguyên nhân của tình trạng xã hội rối loạn là “ cha
không ra cha, con không ra con” tức là họ coi một trong những nguồn gốc làm cho xã
hội rối loạn là sự rối loạn từ trong gia đình. Do đó các nhà Nho đều cho rằng muốn cho
xã hội có trật tự, kỷ cương thì trước hết và cơ bản là gia đình phải có trật tự, kỷ cương,
sao cho “ cha ra cha, con ra con, vợ ra vợ, chồng ra chồng”. Các nhà Nho cũng chủ
trương giáo dục, giáo hóa mọi người trong xã hội theo những nguyên lý đạo đức Chính
danh, Tam cương, Ngũ thường, trước hết và chủ yếu nhằm mục đích trên. Do vậy Nho
gia rất chú trọng, đề cao giáo dục, giáo hóa với phương châm “Hữu giáo vô loại”, “Phú
nhi hậu giáo”, coi giáo dục, giáo hóa là biện pháp căn bản nhất để duy trì trật tự, kỷ
cương trong gia đình – tiền đề và điều kiện đảm bảo trật tự kỷ cương, ổn định xã hội.
Song những chủ trương ấy của các nhà Nho không phải là nhằm đem lại một gia đình
mà trong đó, mọi người đều bình đẳng hoàn toàn. Trong cái gia đình ấy, người cha
luôn có uy quyền cao nhất, người chồng có quyền lớn hơn vợ. Có như vậy gia đình ấy
mới được coi là gia đình có kỷ cương, trật tự và có giáo dục. Đến Đống Trọng Thư thì
quan niệm về gia đình có trật tự kỷ cương lại càng trở nên chặt chẽ hơn, khắc nghiệt
hơn, trong đó quyền hành người cha, người chồng là tuyệt đối: “Cha bắt con chết con
phải chết, con không chết là bất hiếu, vợ phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của
chồng”. Và khi coi gia đình là tế bào của xã hội, nhà là gốc của nước, trật tự kỷ cương
12
Ông nói: “Đấng minh quân chế định điền sản mà chia cho dân cùng cày cấy cốt khiến
cho họ trên đủ phụng dưỡng mẹ cha, dưới đủ nuôi dưỡng vợ con, nhằm năm trúng mùa
thì mãi no đủ, phải năm thắt ngặt thì khỏi nạn chết đói. Được vậy rồi nhà vua mới
khiến dân làm thiện. Tự nhiên họ sẽ theo điều thiện một cách dễ dàng. Tóm lại, theo
quan niệm của Nho gia, xã hội lý tưởng phải là xã hội bảo đảm được sự kết hợp hài hòa
giữa đời sống kinh tế và đời sống tinh thần, đạo đức lành mạnh.
Ngoài ra, xã hội lý tưởng phải là xã hội có giáo dục, mọi người phải được giáo
dục, giáo hóa và có đạo đức. Theo các nhà Nho, giáo dục, giáo hóa là một trong những
biện pháp chính trị căn bản để xây dựng một xã hội ổn định, thái bình, thịnh trị, có trật
tự kỷ cương, và tạo ra những con người có đạo đức, những mẫu người lý tưởng. Chính
vì vậy, Nho gia đặc biệt đề cao giáo dục, giáo hóa. Mạnh Tử coi việc giáo hóa để dân
có đạo đức là công việc quan trọng nhất của kế sách giữ nước, bởi lẽ như ông nói:
“Thành quách chẳng hoàn bị, đồ kinh pháp chẳng nhiều, chẳng phải là tai nạn trong
nước vậy, ruộng nương chẳng mở mang, của cải chứng tích tụ chẳng phải là sự nguy
hại trong nước vậy Người trên không có lễ giáo, người dưới không có học thức, kẻ dân
tàn tặc đấy lên, nước mất đến nơi”. Tiếp tục tư tưởng này của Mạnh Tử, nhà tư tưởng
của chế độ phong kiến tập quyền Đặng Trọng Thư cũng nói: “Kìa muôn dân chạy theo
cái lợi, như nước chảy xuống chỗ thấp, nếu không lấy giáo hoá mà ngăn chặn thì lại
không thể giữ lại được. Thế cho nên, giáo hoá xây dựng được thì gian tà đều ngừng lại
và việc ngăn ngừa mới hoàn thành, giáo hoá mà bị phế bỏ thì gian tà đua nhau mà nảy
ra, hình phạt không kể xiết, việc ngăn ngừa bị hỏng. Các bậc vua đời xưa hiểu rõ điều
đó, thế cho nên họ cứ ngồi yên mà trị thiên hạ, không ai không coi việc giáo hoá là việc
lớn”.
3. Ý nghĩa rút ra từ những quan điểm chính trị - xã hội của Nho gia
Các quan điểm về giáo dục để xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị của Nho
gia đã đóng vai trị quan trọng trong việc tạo ra một tầng lớp trí thức trong xã hội cũng
như một tầng lớp cai trị, cầm quyền có học, đồng thời, nó đã tạo ra một xã hội hết mực
"đề cao văn hoá, đề cao văn hiến, trọng kẻ có học, kẻ làm văn chương, gây ra tâm lý
hiếu học, tôn sư trọng đạo cho đến mức sùng bái văn tự…Tuy nhiên, với nội dung giáo
14
nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và xác định những mục tiêu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, nhất là mục tiêu xây dựng một xã hội
dân giàu, nước mạnh, có văn hoá, có trật tự, kỷ cương.
Thượng hiền là một chính sách thiết thực và đem lại nhiều hiệu quả trong cuộc
sống. Tạo cho đất nước ngày một tốt đẹp hơn, con người càng hoàn thiện hơn, có khả
năng và điều kiện thể hiện tài năng vốn có của mình Nhờ chính sách Thượng Hiền
mà các bậc Quân Vương đều thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước. Các nhà
lãnh đạo của các đất nước khác nhau nhờ vào chính sách Thượng Hiền mà đào tạo một
hệ thống nhân tài đầy đủ áp dụng vào trong việc phát triển của đất nước. Mặt khác, sự
ra đời của thuyết Thượng Hiền đã làm cho tất cả các nước đều ngày một phát triển.
Chế độ, tập tục cha truyền con nối trong hành chính và chính trị được xóa bỏ. Địa vị
của người hiền tài ngày một được nâng cao và chú trọng. Thượng Hiền tuy là một tư
tưởng có từ thời nhà Tần, trải qua gần 2000 năm lịch sử, nhưng giá trị tư tưởng của
Thượng Hiền vẫn luôn tồn tại và phát triển một cách mạnh mẽ. Là một chính sách, tư
tưởng mà mọi thời đại đều cần đến và được áp dụng triệt để. Một tư tưởng lớn, thiết
thực mang giá trị vượt không gian và thời gian. Nếu một đất nước hay một tổ chức xã
hội nào muốn thành công không thể nào không cần có chính sách Thượng Hiền của
Mặc Tử. Một chính sách mà không thể thiếu trong xã hội xưa cũng như ngày nay.
Tóm lại trong một thời gian dài Nho gia đã giúp cho các chế độ quân chủ phong
kiến xây dựng một xã hội thịnh vượng, có trật tự, pháp luật, một quốc gia thống nhất,
người dân trong xã hội biết đối xử với nhau trên cơ sở “Nhân – lễ – nghĩa – trí – tín”.
Đó là lý do tại sao trong quá khứ Trung Hoa nói riêng và các dân tộc châu Á nói
chung, với sự ảnh hưởng của Nho gia đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc, đã
tạo ra một nền văn minh bậc nhất của loài người lúc bấy giờ. Nhưng sự ổn định mà
Nho gia tạo ra cho xã hội, cộng với tư tưởng hướng nội của người châu Á – luôn suy
xét ta là ai trong vũ trụ này, trong một thời gian dài nhiều trăn năm sự trì trệ cả về kinh
tế lẫn quân sự. Cho đến khi nó phải đối đầu với nền văn minh phương Tây vốn có
16
nhiều ưu điểm hơn trong kinh tế và quân sự, thì Nho gia đã phải nhường bước trong
đời sống kinh tế, chính trị, quân sự. Có lẽ đây là một đặc điểm chung của nền văn hoá
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và
lãnh đạo sau này cũng là chính danh. Vì ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam ra, không còn
có đảng nào khác đủ sức và đủ uy tín đứng ra lãnh đạo nhân dân giành độc lập, tự do
cho dân tộc từ tay phát xít Nhật và sau này tiếp tục chống Pháp thành công.
Mỹ là cường quốc mạnh nhất mang quân đi xâm lược Việt Nam dưới nhiều chiêu bài.
Nhân dân Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm nhưng rốt
cuộc, cuộc chiến tranh vì chính nghĩa của dân tộc ta đã dành được thắng lợi. Nhân dân
yêu chuộng hòa bình khắp nơi trên toàn thế giới đều ủng hộ nhân dân Việt Nam, thậm
chí cả một bộ phận lớn nhân dân tiến bộ ở Mỹ. Chúng ta chiến thắng vì chúng ta có
chính nghĩa. Chính nghĩa ở đây chính là chính danh. Như vậy, dân tộc Việt Nam, tuy
có biết đến học thuyết chính danh của Khổng tử nhưng lại vận dung nó rất uyển chuyển
để cứu dân, cứu nước, chống xâm lăng.
Trong quá trình xây dựng xã hội mới ở nước ta hiện nay, các quan điểm của
Nho gia về chính danh, thượng hiền và xã hội có một ý nghĩa quan trọng, nếu biết vận
dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể sẽ giúp cho quá trình xây dựng xã hội mới
thu được kết quả tốt. Xã hội mà chúng ta đang hướng đến và xây dựng là một xã hội
“dân giàu nước mạnh”, một xã hội không còn người bóc lột người, mọi người đều
được ấm no và hạnh phúc, đều có quyền được học hành, có quyền hưởng tự do, dân
chủ, công bằng, và bình đẳng.
Trong xã hội mới, gia đình cũng là tế bào của xã hội, trong gia đình cũng có tôn
ti trật tự phép tắc riêng, ông bà, cha mẹ là tấm gương cho con cháu noi theo, lắng nghe
những tâm tư tình cảm của các con, còn con cháu ngoan ngoãn hiếu thảo với ông bà
cha mẹ, tuy nhiên giữa vợ với chồng là quan hệ bình đẳng chứ không như quan niệm
của Nho gia, người chồng có quyền quyết định tất cả trong gia đình. Trong xã hội mới,
tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau, trong nền kinh tế thị trường và có
Nhà nước pháp quyền, mọi công dân được phép làm tất cả những gì mà pháp luật
không cấm, còn công chức chỉ làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi người được
18
khuyến khích làm giàu theo pháp luật, bằng lao động của mình. Kinh tế tư nhân tỏ rõ là
một động lực của phát triển kinh tế và được khuyến khích phát triển mạnh mẽ, lâu dài.
trọng nam khinh nữ dẫn đến hiện tượng mất cân bằng giới tính trong xã hội.
Đối với những người hiền tài chưa được sử dụng đúng với tài năng của họ và
chưa có chính sách thiết thực để phát triển nhân tài. Trong các cơ quan Nhà nước vẫn
còn hiện tượng “con ông cháu cha” mặc dù tài năng có hạn nhưng lại được giao những
vị trí quan trọng, trong khi những người có tài năng thực sự lại phải làm những việc
không quan trọng, không thể phát huy được năng lực. Hoặc như những người được cử
đi học nước ngoài, hay đi du học cũng không trở về phục vụ đất nước, do điều kiện
trong nước chưa đáp ứng được với nhu cầu nghiên cứu, làm việc của họ như ở nước
ngoài, dẫn đến hiện tưởng chảy máu chất xám rất nhiều.
Nền giáo dục của nước ta hiện nay còn mang nặng tính lý thuyết, ít thực hành, rập
khuôn máy móc v.v gây ra hiện tượng thừa thầy thiếu thợ trong sản xuất kinh doanh. Trong
khi vấn đề đạo đức là quan trọng trước tiên đối với đào tạo một con người thì hiện nay, đạo
đức chỉ là một phần rất nhỏ trong những môn giảng dạy trong nhà trường.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ẢNH HƯỞNG TÍCH
CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA NHO GIA ĐỐI
VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Những giải pháp về giáo dục
Nền giáo dục của ta phải đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ khoa học và
công nghệ, cán bộ quản lí, công nhân kĩ thuật và nhân viên đủ về số lượng và có những
kĩ năng nghiệp vụ cần thiết, lành nghề, những người lao động có tri thức cao, có phẩm
chất tốt theo những giá trị đạo đức truyền thống, tiên tiến của các dân tộc mình, những
người có hoài bão lớn, có lí tưởng sống cao cả vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”. Ngày nay kiến thức của loài người đang tăng lên nhanh
chóng và khoa học đang phát triển rất nhanh, công nghệ luôn luôn thay đổi. Do vậy,
giáo dục thường xuyên, học và tự học suốt đời sẽ là một yêu cầu bắt buộc của cuộc
sống. Tình hình này đòi hỏi việc giáo dục ở nhà trường những đổi mới cơ bản. Giáo
dục phải võ trang cho người học tinh thần học tập, phương pháp tư duy khoa học,
20
những kiến thức cơ bản và ngoại ngữ để sau đó họ có thể tự học, tự phát triển suốt cuộc
đời. Một hệ thống tài liệu, giáo trình, sách báo tham khảo chất lượng cao, hấp dẫn cần
giác, tự thân vận động và tinh thần phấn đấu cao, không dựa dẫm ỉ lại vào người khác.
KẾT LUẬN
Qua phân tích những tư tưởng chính trị - xã hội của Nho gia và ảnh hưởng của nó tới
quá trình xây dựng xã hội mới ở Việt Nam, chúng ta thấy rằng: những tư tưởng của Nho gia
tuy có từ cách đây hàng mấy nghìn năm nhưng vẫn có giá trị thực tiễn nhất định, nếu biết
vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, những tư tưởng ấy sẽ
góp phần tích cực giúp chúng ta đạt được mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, gia
đình ấm no hạnh phúc, là cái nôi nuôi dưỡng mỗi người cả về vật chất lẫn tinh thần, giúp
con người ngày càng hoàn thiện hơn. Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của nền kinh
tế thị trường vấn đề đạo đức trong giới trẻ đang rất đáng báo động thì những tư tưởng về đạo
đức, Nhân – Lễ - Nghĩa – Trí – Tín của Nho gia được vận dụng để giáo dục là cần thiết hơn
bao giờ hết. Tuy nhiên, nếu chỉ vận dụng một cách máy móc những tư tưởng này của Nho
gia sẽ làm cho con người và xã hội ngày càng trì trệ, không có trí tiến thủ, dẫn tới nền kinh
tế ngày càng lạc hậu hơn so với thế giới.
Tóm lại, ngày nay tuy không còn ảnh hưởng nhiều trong đời sống chính trị nhưng
những tư tưởng của Nho gia vẫn có ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống hàng ngày, nó
hiện diện trong tâm hồn mỗi người Việt Nam đó là những tư tưởng về lòng ái quốc, coi
trọng học hành, coi trọng các mối quan hệ xã hội (dựa trên tư tưởng về Lễ-Nghĩa). Về
đời sống tâm linh thì có phong tục thờ cha mẹ, tổ tiên, các bậc tiền bối có công đức.
Nói chung về mặt văn hoá Nho gia có ảnh hưởng rất sâu nặng và ảnh hưởng này ngày
nay thường mang tính tích cực hơn là tiêu cực. Đó cũng là điểm khác biệt chủ yếu giữa
hai nền văn hoá Đông – Tây mà chúng ta đang cố gắng khẳng định bản sắc .
22
DANH MỤC TÀI LIỆU
1. Giáo trình triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc
chuyên ngành triết học) – Nhà xuất bản chính trị - hành chính.
2. http://www.doko.vn/luan-van/Nen-van-minh-Trung-Quoc-89596
3. http://www.go.vn/diendan/showthread.php?892087-Lich-su-van-minh-Trung-Quoc
4 http://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o
5.http://hvpgvn.edu.vn/index.php?