ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG KIM LIÊN
QUY TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY
TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN LUẬT
7
1.1.
Khái quát chung về lập pháp
7
1.1.1.
Bản chất, chức năng và vai trò của pháp luật
7
1.1.2.
Các tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của một dự án
luật
11
1.1.3.
Quan điểm của các trường phái về lập pháp
16
1.2.
Quy trình xây dựng văn bản luật
26
1.2.1.
Khái niệm quy trình xây dựng văn bản luật
26
1.2.2.
Những hạn chế và bất cập
48
2.3.
Hoạt động thẩm tra, thẩm định dự án luật
58 2.3.1.
Những ưu điểm cơ bản
58
2.3.2.
Những hạn chế và bất cập
62
2.4.
Thảo luận và thông qua văn bản luật ở kỳ họp của quốc
hội
65
2.4.1.
Những ưu điểm cơ bản
65
2.4.2.
Những hạn chế và bất cập
66
2.5.
Công bố văn bản luật
69
2.5.1.
Những ưu điểm cơ bản
69
2.5.2.
học, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia
vào quy trình xây dựng văn bản luật
98
3.2.5.
Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật trong việc xây dựng
văn bản luật
100
3.2.6.
Tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của
nước ngoài về quy trình xây dựng văn bản luật
101 3.2.7.
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện những quy định pháp
luật về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
102
3.2.8.
Xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm pháp luật về
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
104
3.2.9
Một số kiến nghị khác
105
KẾT LUẬN
107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
109
Để đạt được mục đích này, Bộ Chính trị cũng đã đề ra các giải pháp
xây dựng pháp luật trong đó có giải pháp "Đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục 2
xây dựng pháp luật từ sáng kiến pháp luật đến thông qua luật nhằm đẩy nhanh
quá trình soạn thảo, ban hành luật". Nghị quyết Đại hội XI viết: “Tiếp tục đổi
mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy
trình xây dựng luật, pháp lệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính
khả thi để đưa nhanh vào cuộc sống”.
Đồng thời, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới
sự lãnh đạo của Đảng được đề ra như một nhiệm vụ chiến lược với phương
châm "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ,
công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật".
Thực hiện chủ trương này, trong những năm vừa qua, các cơ quan nhà
nước đã từng bước đổi mới tổ chức, hoạt động và dần dần hoàn thiện hệ thống
pháp luật phục vụ cho công cuộc đổi mới cũng như xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một trong
những hoạt động góp phần quan trọng cho công cuộc này chính là hoạt động
xây dựng văn bản luật của Quốc hội Việt Nam.
Tuy nhiên quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế
dẫn đến chất lượng luật chưa cao như còn nhiều luật khung, luật ống và luật
xa rời thực tiễn khó áp dụng trong đời sống.
Nhằm tìm hiểu và đóng góp ý kiến của mình vào quy trình xây dựng
văn bản luật ở Việt Nam hiện nay, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Quy trình xây
dựng văn bản luật ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ cho
mình với mong muốn có những đóng góp nhỏ bé về mặt lý luận cũng như
thực tiễn hoàn thiện quy trình này ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động xây dựng văn bản luật đã được một số tác giả đề cập, song
- Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Dũng: "Hộ chiếu và hoạt động của Quốc hội một
số nước trên thế giới trong đó nhóm đề tài đã dành một phần để nghiên cứu
về quy trình lập pháp của Quốc hội một số nước trên thế giới" hoặc "Thử bàn 4
về việc đổi mới hoạt động lập pháp", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3, năm
2007, đề cập tới những hạn chế của hoạt động lập pháp từ đó khiến pháp luật
chậm đi vào thực tiễn, phân tích việc pháp luật ban hành phải tập trung vào
những vấn đề nóng bỏng nhất của cuộc sống.
- Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hoàn: "Pháp luật điều chỉnh hoạt động ban
hành văn bản quy phạm pháp luật trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta", Hội
thảo khoa học Nhà nước và pháp luật 20 năm đổi mới năm 2006, đánh giá
một cách tổng quát hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như những vấn đề đặt ra đối với
pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới;
- Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao (Chủ biên): "Báo cáo kết quả nghiên cứu
đánh giá quy trình xây dựng luật, pháp lệnh - thực trạng và giải pháp", Nhà
xuất bản Công an nhân dân, 2008, đề cập tới: thực trạng công tác xây dựng
luật, pháp lệnh ở Việt Nam; xác định những vấn đề, những bất cập trong các
khâu của quá trình xây dựng luật, pháp lệnh; lý giải những nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế; giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình xây dựng luật,
pháp lệnh để nâng cao chất lượng các dự án luật, pháp lệnh; phụ lục các
chuyên đề liên quan tới công tác xây dựng luật, pháp lệnh.
- Tác giả Nguyễn Chi Mai "Bàn về tính hợp lý của văn bản quy phạm
pháp luật", Hội thảo khoa học: Tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật,
Trường Đại học Luật Hà Nội, đánh giá, phân tích thực trạng văn bản quy phạm
pháp luật hiện nay chậm đi vào thực tiễn, còn nhiều luật khung, luật ống.
Và nhiều các công trình khoa học khác nữa nghiên cứu ở những
phương diện và cấp độ khác nhau về hoạt động xây dựng pháp luật nói chung,
pháp luật trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đề tài tập trung nghiên
cứu, phân tích các quan điểm khoa học có liên quan để giải quyết một số vấn
đề lý luận cơ bản về quy trình xây dựng văn bản luật. 6
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh để nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện
hành, thực tiễn áp dụng pháp luật và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm
hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội trong thời gian tới, nâng cao một
bước hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn.
5. Ý khoa học và thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu Luận văn này có giá trị tham khảo đối với
việc xây dựng văn bản luật của Quốc hội Việt Nam, cũng như trong việc
nghiên cứu và giảng dạy pháp luật ở nước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quy trình xây dựng văn
bản luật.
Chương 2: Thực trạng quy trình xây dựng văn bản luật ở Việt Nam
hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy trình xây dựng
văn bản luật ở Việt Nam hiện nay. 7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN LUẬT
hoá trong các văn bản pháp luật do một hệ thống các cơ quan nhà nước với
thẩm quyền khác nhau ban hành theo những thủ tục nhất định. Trong xã hội
có giai cấp, sự điều chỉnh của pháp luật trước hết nhằm mục đích điều chỉnh
các quan hệ giai cấp. Và như vậy, pháp luật là công cụ thể hiện sự thống trị
giai cấp, củng cố và bảo vệ giai cấp thống trị.
Bên cạnh đó, với tính cách là những quy tắc xử sự trong xã hội, bản
chất của pháp luật còn được bộc lộ thông qua tính xã hội của nó. Trong cuộc
sống xã hội, các cá nhân và tổ chức càng ngày càng có mối quan hệ đa dạng
và phong phú, thể hiện thông qua những hành vi xử sự khác nhau. Xã hội,
thông qua Nhà nước, ghi nhận những cách xử sự hợp lý, khách quan phù hợp
với lợi ích và yêu cầu của số đông trong xã hội. Đó là những quy tắc xử sự
mang tính phổ biến, khách quan. Giá trị xã hội của pháp luật cũng thể hiện
thông qua khả năng mô hình hoá và tiêu chuẩn hoá hành vi của nó. Qua đó,
pháp luật sẽ trở thành công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quá trình
xã hội, đưa đến cho con người những lượng thông tin nhất định về các giá trị
và yêu cầu của xã hội.
Tuỳ từng nhà nước khác nhau mà bản chất của pháp luật thiên mạnh
tính giai cấp hay tính xã hội của nó. Ở Việt Nam, lịch sử đã trải qua nhiều
thời điểm và giai đoạn mà tại đó, lợi ích và ý chí của giai cấp thống trị hoà
nhập với ý chí và lợi ích của giai cấp khác và của cả dân tộc Việt Nam. Trong
những trường hợp đó các quy định của pháp luật đã phản ánh những lợi ích
chung, lợi ích phổ biến của xã hội, của dân tộc. Và bản chất của pháp luật
Việt Nam thiên về tính xã hội nhiều hơn.
Cùng với tính giai cấp và tính xã hội, hệ thống pháp luật của bất cứ
quốc gia nào cũng chứa đựng trong mình bản sắc dân tộc [40, tr.306]. Pháp
luật phản ánh những phong tục, tập quá, đặc điểm lịch sử, trình độ văn minh 9
và văn hoá của dân tộc. Và như vậy, pháp luật mới gần gũi với mọi người,
những lỗ hổng pháp luật; Hai là, vì bản thân pháp luật có khả năng sáng tạo
định hướng và có tính quy luật, nên pháp luật có thể vượt lên, đón bắt và dự
liệu trước những quan hệ xã hội sẽ xuất hiện.
Tóm lại, sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội được
thực hiện theo hai hướng chính. Thứ nhất, pháp luật ghi nhận các quan hệ chủ
yếu và phổ biến trong xã hội; thứ hai, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của
các quan hệ xã hội. Pháp luật vừa làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự của các quan
hệ xã hội, đưa chúng vào những phạm vi khuôn mẫu nhất định, vừa tạo điều
kiện cho sự phát triển của các quan hệ xã hội theo hướng nhất định thể hiện ý
chí của Nhà nước. Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật
được thực hiện thông qua các hình thức quy định cho phép, ngăn cấm, khuyến
khích, quy định quyền và nghĩa vụ qua lại của các chủ thể quan hệ xã hội.
Về chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác
động của pháp luật lên ý thức và tâm lý con người, làm cho con người hành
động phù hợp với cách xử sự ghi trong quy phạm pháp luật. Và chức năng
này được thể hiện thông qua việc ban hành, tuyên truyền, phổ biến và giáo
dục pháp luật. Hơn nữa, khả năng giáo dục của pháp luật còn được thực
hiện thông qua đời sống và thực tiễn pháp lý, thông qua những hành vi cụ
thể của con người trong các lĩnh vực tuân thủ pháp luật, áp dụng pháp luật
và thi hành pháp luật.
c. Vai trò của pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước đặt ra và được bảo
đảm thi hành bằng các tổ chức, biện pháp mang tính chất nhà nước. Pháp luật
của mỗi xã hội đều thể hiện ý chí chính trị của giai cấp thống trị, đòi hỏi phải
phù hợp với cơ sở hạ tầng xã hội đó là yếu tố điều chỉnh mang tính chất bắt
buộc chung đối với các quan hệ xã hội. Do đó, pháp luật chính là phương tiện 11
thể hiện đường, lối chính sách của Nhà nước; là công cụ quyền lực của quản
bản sau:
a. Tiêu chuẩn về chính trị
Thứ nhất, dự án luật đó phải có nội dung phù hợp với đường lối, chính
sách của Đảng.
Cũng như các khoa học khác, khoa học pháp lý đòi hỏi phải có sự định
hướng sâu sắc trên cơ sở các tư tưởng, chính sách của Đảng cầm quyền.
Trong chế độ của nước ta, nội dung các dự thảo văn bản luật luôn chịu sự chi
phối bởi đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam.
Do đó, nội dung quan trọng được quán triệt trong hầu hết dự thảo văn
bản luật đó là việc phản ánh kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước ta trong từng thời kỳ. Và trong phạm vi, lĩnh
vực mà mỗi văn bản đó điều chỉnh phải phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ
của các cơ quan trung ương (bộ, ngành).
Và thực tế cho thấy những thành tựu của quy trình xây dựng hệ thống
pháp luật Việt Nam trong hơn hai mươi năm qua gắn chặt với quá trình hoàn
thiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Chính những chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, chẳng hạn về phát triển kinh tế, xã
hội, củng cố an ninh, quốc phòng đã làm cơ sở cho sự hình thành những quan
điểm và định hướng chiến lược cho sự phát triển của hệ thống pháp luật của
đất nước nói chung, xây dựng dự thảo văn bản luật nói riêng.
Thứ hai, dự án luật đó phải có nội dung phù hợp với nguyện vọng và
lợi ích chính đáng của nhân dân lao động.
Bên cạnh yêu cầu phải phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng,
nội dung của dự thảo văn bản đó phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tiêu chí này ra đời xuất phát từ một nguyên lý hết sức cơ bản, đó là:
nhân dân lao động vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quyền lực nhà nước. 13
14
Thứ ba, nội dung văn bản luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Pháp luật là một phạm trù chủ quan, phản ánh hiện thực khách quan. Sự
phản ánh đó xuất phát từ đòi hỏi của đời sống hiện thực, không thể cao hơn
trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Pháp luật có phản ánh
đúng hiện thực khách quan thì mới điều chỉnh được các quan hệ xã hội, cũng
như mới được xã hội chấp nhận. Nói xây dựng văn bản luật phải khách quan
không có nghĩa là các cơ quan có thẩm quyền bê nguyên, sao chụp lại các sự
kiện hoạt động mang tính tổ chức, kỹ thuật nghiệp vụ để mô tả chúng dưới
dạng các quy tắc xử sự của hành vi. Tính khách quan trong xây dựng văn bản
luật đòi hỏi người có thẩm quyền, cán bộ soạn thảo văn bản phải bám sát
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; Hiến pháp, luật; tình hình thực
tiễn xã hội; nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của quản lý nhà nước; thái độ, tâm
lý của cộng đồng dân cư đối với vấn đề, nội dung của văn bản luật sắp ban
hành Tính khách quan trong xây dựng văn bản luật cũng đòi hỏi phải loại
trừ tình trạng đề cao lợi ích cục bộ của ngành mình, coi thường lợi ích chung,
lợi ích của toàn xã hội.
Thứ tư, hệ thống văn bản pháp luật phải toàn diện, đồng bộ, khả thi,
công khai, minh bạch, bảo đảm phát huy vai trò và hiệu lực.
Về tính toàn diện, Nhà nước là tổ chức công quyền duy nhất, nhân danh
quyền lực của nhân dân thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng pháp luật
trên tất cả các mặt đời sống xã hội. Thực hiện chức năng này đòi hỏi hệ thống
văn bản luật phải đầy đủ, toàn diện.
Về tính đồng bộ, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật
thể hiện dưới hình thức các văn bản bao gồm nhiều bộ phận liên quan chặt
chẽ với nhau. Cho nên, khi đánh giá thực trạng xây dựng văn bản luật phải
xem bộ phận đã hình thành trong hệ thống pháp luật có mâu thuẫn, trùng lặp,
chồng chéo với nhau không. Một hệ thống văn bản luật không đồng bộ khó có
thể phát huy hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tính đồng bộ của
ngành luật trong cấu trúc tổng thể là hệ thống pháp luật hay không? 16
Thứ sáu, quy trình xây dựng văn bản luật phải hoàn thiện.
Văn bản luật chỉ có chất lượng cao khi thông qua quy trình xây dựng
hợp lý, khoa học, hiệu quả, đảm bảo các giai đoạn được thực hiện một cách
độc lập và được xác định theo một trật tự chặt chẽ, nghiêm ngặt, ghi nhận đầy
đủ ý chí của nhân dân, thu hút trí tuệ của các nhà khoa học, kinh nghiệm và
đóng góp của các đối tượng liên quan.
Ngoài ra, văn bản luật có chất lượng thì thể thức trình bày văn bản phải
đúng quy định của pháp luật. Thể thức của văn bản là kết cấu về hình thức
của văn bản theo quy định của pháp luật. (Thông tư số 01/2011/BNV ngày
19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn
bản hành chính).
1.1.3. Quan điểm của các trƣờng phái về lập pháp
Muốn làm luật tốt cần phải có quan niệm đúng về pháp luật và làm luật.
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ, hành vi của các chủ thể trong xã hội, trong
đó có cả Nhà nước. Nhà nước với vai trò, chức năng của mình và được sự uỷ
quyền của nhân dân để đặt ra pháp luật. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào mỗi quốc
gia và trong từng thời kỳ khác nhau mà cách thức đặt ra pháp luật là khác
nhau (quy trình xây dựng luật). Và quan niệm pháp luật phục vụ số đông quần
chúng nhân dân lao động hay số ít giai cấp thống trị mà ảnh tới cả quy trình
làm luật, cho ra đời những đạo luật tiến bộ hay không tiến bộ.
a. Quan điểm của Xô viết coi pháp luật là một yếu tố của kiến trúc
thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp
quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật v.v… cùng với những thiết chế
xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội,
v.v… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
năng cai trị của pháp luật trong cuộc sống. Và trong lịch sử, bất cứ giai cấp
cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện mục đích
chính trị của giai cấp mình. Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, 18
trực tiếp chính trị của giai cấp cầm quyền, là một công cụ sắc bén thể hiện
quyền lực của Nhà nước thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính
trị của nó “một đạo luật là một biện pháp chính trị”. Do đó, nhà nước nào,
pháp luật ấy.
Tiêu biểu cho quan điểm này là Hàn Phi Tử. Ông coi pháp luật là cơ sở
duy nhất để quản lý xã hội và khẳng định: “Không có pháp luật luôn luôn
đúng”. Theo ông, pháp luật phải được viết thành văn và công bố rộng rãi cho
mọi người. Pháp luật phải nghiêm minh và có chế độ thưởng phạt đúng đắn.
Pháp luật là công cụ đắc lực và hiệu nghiệm nhất để duy trì và củng cố quyền
lực chính trị (uy thế) của nhà vua - công cụ của đế vương, chỗ dựa vững chắc
nhất để bảo đảm an toàn cho sự ngự trị của vua [26]. Hay các nước phương
Tây cổ đại cũng quan niệm vai trò thống trị của pháp luật trong xã hội, đến
tính tối cao, tính hợp lý của đạo luật. Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ của mỗi
cá nhân, kể cả Nhà nước, pháp luật phải phù hợp với pháp luật tự nhiên. Hoặc
thuyết đa nguyên, họ cho rằng luật pháp hình thành không phải dựa trên cơ sở
thực tiễn để giải quyết các vấn đề xã hội mà dựa trên yêu cầu và đòi hỏi của
các nhóm có quyền lợi liên quan.
Bên cạnh đó, một số quốc gia khác lại cho rằng kết quả của pháp luật là
phản ánh “đời sống chính trị”; đó là quyền lực tương đối của các nhóm có
cùng lợi ích. Các học thuyết về lựa chọn cộng đồng cho rằng, pháp luật bắt
nguồn từ một kiểu bán đấu giá do các cán bộ nhà nước thực hiện, họ “bán” dự
luật đó cho nhóm có lợi ích liên quan và với số phiếu bầu cao nhất. Tiêu biểu
cho học thuyết này là Mỹ. Ban đầu mô tả quá trình mà theo đó các nhà làm
luật, thay vì cố gắng đặt ra những luật lệ trên nền tảng cơ sở thực tế, họ lại
cách ban hành các đạo luật có thể chuyển đổi các thể chế - những phương
thức hành vi thâm căn, cố đế, truyền thống,… mà đã và đang kìm hãm người
dân đất nước họ trong nghèo đói và khổ đau.
Điều hành nhà nước tốt là cách thức mà trong đó, quyền lực được thực
thi trong việc quản lý các nguồn lực kinh tế và xã hội của một nước cho sự 20
phát triển.(Cách định nghĩa của Ngân hàng Thế giới) [47, tr.18]. Như vậy,
điều hành nhà nước tốt phải “quản lý nhà nước bằng luật pháp chứ không phải
bằng con người”. Muốn quản lý nhà nước có hiệu quả và các quyết định xuất
phát từ quá trình ra quyết định không tuỳ tiện. Bốn yếu tố minh hoạ cho các
quá trình này gồm:
Quản lý bằng quy chế: Các quyết định của những người ra
quy chế không liên quan đến cảm tính hay sự ngẫu nhiên võ đoán
của người ra quyết định mà tuân theo các chuẩn mực được thống
nhất dựa trên lý lẽ và kinh nghiệm [38];
Trách nhiệm giải trình: Những người ra quyết định giải
trình quyết định của mình một cách công khai, bắt buộc các
quyết định của họ phải được cấp thẩm quyền cao hơn và cuối
cùng là toàn bộ cử tri xem xét [38];
Sự minh bạch: Các quan chức điều hành công việc quản lý
một cách công khai đến mức công chúng và đặc biệt là báo chí
có thể biết được và tranh luận về nội tình công việc đó;
Sự tham gia: Những người chịu tác động bởi một quyết
định sắp ban hành - tức là những người có quyền lợi liên quan -
có cơ hội khả thi lớn nhất góp ý vào dự thảo và nếu không thì
cũng tham gia vào các quyết định của Chính phủ [38].
Bốn đặc tính này kết hợp với nhau có xu hướng duy trì trật
tự pháp chế và bảo đảm tính đại diện và tính có thể dự đoán được