ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
AN THỊ NGỌC TRINH
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG
VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. HÀ THIÊN SƠN
2. TS. NGUYỄN ANH QUỐC
TP. HỒ CHÍ MINH – 2013
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án này là do tôi độc lập nghiên cứu, xây dựng
trên cơ sở tiếp thu ý tưởng khoa học của các tác giả đi trước dưới sự hướng
dẫn của TS. Hà Thiên Sơn và TS. Nguyễn Anh Quốc.
Các số liệu được trình bày trong luận án là trung thực dựa trên sự tìm
tòi, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố, đảm bảo tính khách
HĐI : Chỉ số phát triển người
KHXH&NV : Khoa học xã hộ
i và nhân văn
MTTQ: : Mặt trận Tổ quốc
Nxb : Nhà xuất bản
THPT: : Trung học phổ thông
ThS : Thạc sĩ
TS: : Tiến sĩ
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc
WHO : Tổ chức Thương mại thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 01
Chương 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA, VĂN HÓA DÂN
TỘC VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HÓA GIA
ĐÌNH VIỆT NAM 14
1.1. Quan niệm về văn hóa và giá trị văn hóa dân tộc 14
1.1.1.Quan niệm về văn hóa 14
1.1.2. Quan niệm về giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam 21
1.2. Gia đình Việt Nam và những giá trị văn hóa dân tộc trong
văn hóa gia đình Việt Nam 39
1.2.1. Khái quát về gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam 39
1.2.2. Những giá trị văn hóa dân tộc chủ yếu trong văn hóa gia đình
Việt Nam 57
1.2.3 Tính quy luật của sự vận động văn hóa gia đình Việt Nam 67
Chương 2. THỰC TRẠNG VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY 74
tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay 151
3.2.1. Đảm bảo những điều kiện vật chất và tinh thần c
ơ bản cho
gia đình 151
3.2.2 Tăng cường hơn nữa vai trò của pháp luật trong quản lý
gia đình………………………………………………………………… 156
3.2.3 Củng cố và xây dựng các chuẩn mực mới về văn hóa gia đình
Việt Nam ……………………………………………………………………166
KẾT LUẬN 175
PHỤ LỤC 179
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 189
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là một chỉnh thể đồ sộ, phong
phú bao gồm tri thức, tư tưởng, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật,
phong tục, tập quán và truyền thống… Văn hóa dân tộc vừa là “trầm tích”
của tình cảm và ý thức dân tộc trong quá khứ, vừa kết tinh thành hệ giá trị
chân - thiện - mỹ như một hệ giá trị phổ quát của văn hóa dân tộc trong quốc
gia và trong cộng đồng nhân loại. Tất cả những điều đó tạo nên hệ giá trị văn
hóa truyền thống dân tộc hay nói cách khác, mọi bản sắc dân tộc đều chứa
đựng các giá trị. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thầ
n cần cù, sáng tạo, chủ
nghĩa anh hùng xả thân vì nghĩa lớn của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, sự gắn
bó thân thiết với quê hương đất nước… biểu hiện thành tâm lý và ý thức,
phong tục tập quán và lối sống, tạo thành tính cách của mỗi con người trong
gia đình và cộng đồng dân tộc.
dân tộc trong quá trình xây dựng văn hóa gia đình, cộng đồng, xã hội là vấn
đề quan trọng được đặt lên hàng đầu. Cùng với sự biến đổi của xã hội, giá trị
quan hệ mang tính truyền thống trong đời sống gia đình từng bước thay đổi,
điều đó làm suy giảm việ
c tuân thủ và chấp nhận những quy chuẩn cũ trong
các quan hệ gia đình, làm nảy sinh nhiều quan niệm chưa thống nhất về gia
đình, văn hóa gia đình cũng như sự định hướng phát triển gia đình trong tương
lai. Từ đó, những nhu cầu mới trong việc nhận thức đúng đắn, khoa học về gia
đình và văn hóa gia đình ngày càng cần thiết, góp phần quan trọng trong việc
giữ gìn và phát huy giá trị vă
n hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng vai trò của gia đình
và văn hóa gia đình. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ:
“Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao
vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình vă
n hóa.
3
Xây dựng mối quan hệ khắng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội” [19,
tr.48]… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với
những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia
đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm củ
a mỗi người, là
tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi
dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền
thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”
đã được đề
cập đến từ rất lâu trong lịch sử. Có thể khái quát các kết quả công
trình nghiên cứu trên theo hai hướng sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa dân tộc và các
giá trị của văn hóa dân tộc. Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa
trước đây là công việc của nội bộ mỗi quốc gia, nhưng từ những năm 60 của thế
kỷ XX, nó đã trở thành vấn đề mang tính quốc tế.
Đặc biệt sau Thập kỷ Quốc tế
Phát triển văn hóa (1988-1998) do UNESCO phát động với mục tiêu là thức
tỉnh nhân loại về nhân tố văn hóa trong phát triển xã hội, khuyến khích các nhà
lãnh đạo quốc gia đưa các nhân tố văn hóa vào các chương trình phát triển đất
nước. Thập kỷ văn hóa này đã được nhiều nước, nhiều dân tộc trong đó có Việt
Nam đón nhận và đạt kết quả khả quan.
Bước vào th
ế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng
công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và toàn cầu hóa (TCH); sự đa
dạng về sinh học và sự đa dạng văn hóa trên hành tinh ngày một suy giảm
nghiêm trọng, năm 1993 Hội nghị về môi trường thế giới của Liên Hiệp
Quốc họp ở Brazin đã ra lời tuyên bố về bảo vệ đa dạng sinh học. Ngày
2/11/2001 UNESCO đã ra “
Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa” đến
ngày 17/10/2003, UNECSO đã công bố “Công ước về bảo vệ di sản văn hóa
phi vật thể”. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký vào công ước
này và đã có nhiều hoạt động triển khai đạt kết quả.
Trước xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã hình thành các tổ chức
5
liên minh khu vực như EU, ASEAN, Liên minh châu Phi , yếu tố quốc tế
đang chiếm một vị trí quan trọng so với chủ quyền dân tộc. Đặc biệt trước
nguy cơ cuộc xung đột trên thế giới đa sắc màu như xung đột văn hóa, xung
cuộc hội thảo và công trình khoa học đề cập tới các khía cạnh lý luận và thực
tiễn của vấn đề bản sắc dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhìn chung, đã có nhiều tác phẩm xoay quanh chủ đề nhận thức, bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nhiều công trình vẫn
nặng về miêu tả các hiện tượng văn hóa, phần lớn các công trình chưa nhìn
nhận những giá trị v
ăn hóa truyền thống dân tộc trong khung cảnh chung của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa để từ đó xem xét
vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đó.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về gia đình, văn hóa gia đình và sự
biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam với tư cách là một bộ phận của văn
hóa dân tộc. Có thể nói các nhà kinh điển của chủ nghĩ
a Mác là những người
đóng góp to lớn cho vấn đề nghiên cứu gia đình. Các ông cho rằng gia đình
là một tổ chức xã hội đặc biệt và mang tính xã hội hóa cao. Sự ra đời của gia
đình gắn liền với sự hình thành xã hội với những cấu trúc chặt chẽ và logic
Tác phẩm nổi tiếng Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước của Ph. Ăngghen đượ
c coi là một trong những tác phẩm dẫn đường cho
trào lưu nghiên cứu về gia đình của thế kỷ XIX. Trong tác phẩm này, vấn đề
nguồn gốc gia đình được phân tích một cách sâu sắc, đặc biệt là quá trình
phát sinh của chế độ một vợ một chồng. Quá trình này bị chế định - như Ph.
Ăngghen đã nêu – không phải bởi tình yêu nam nữ – yếu tố được coi là sản
phẩm của một quá trình phát triển lâu dài và đầy mâu thu
ẫn của lịch sử - mà
bởi sự hình thành chế độ tư hữu và nhà nước. Ph. Ăngghen đặt lên hàng đầu
nhiệm vụ nghiên cứu nguồn gốc của gia đình bằng cách xem xét sự vận động
khách quan của quá trình đó đi từ chế độ quần hôn tới gia đình một vợ một
chồng. Ở mức độ cao nhất của nó, như Ph. Ăngghen đã đặc biệt nhậ
Vấn đề gia đình Việt Nam và biến đổi văn hóa gia đình Việt Nam được
đề cập đến trong một số tác phẩm của các tác giả: Nguyễn Từ Chi (1991),
Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội,
Hà Nội; Hồ Ngọc Đại (1996), Tam giác gia đình. Những nghiên cứ
u về gia
đình Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội; Vũ Quang Hà (biên dịch)
8
(2001), Tương lai của gia đình, Đại học quốc gia Hà Nội; Nguyễn Minh Hòa
(1998), Hôn nhân và gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhận diện và dự
báo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Công Hoàn (1993), Tâm lý học
gia đình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Vũ Tuấn Huy (1996), Những khía
cạnh của sự biến đổi gia đình, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội; Giáo sư Lê Thi
(2006), Cuộc sống và biến động c
ủa hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; … Các tác phẩm trên tập trung khẳng định gia
đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hội
rộng lớn. Do đó, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào
sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Gia đình phải là điểm xuất phát và
trở về của mọi chính sách xã hội.
Giáo sư Lê Thi (2002) với các tác phẩm Gia đình Việt Nam trong bối
cảnh đất nước đổi mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; Vai trò của gia đình
trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội hay Vũ
Ngọc Khánh (1998) với tác phẩm Văn hóa gia đình Việt Nam, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội;… nghiên cứu gia đình Việt Nam đang trong quá trình biến
đổi mạnh m
ẽ từ truyền thống sang hiện đại. Nhiều giá trị văn hóa quý báu
của gia đình truyền thống, nhiều giá trị văn hóa tiên tiến của gia đình hiện
đại đang cùng hiện diện trong đời sống gia đình.
đình và việc xây dựng gia đình mới ở Vi
ệt Nam hiện nay của Minh Anh (Tạp
chí Triết học, số 10/2005)… trong đó các tác giả khẳng định gia đình truyền
thống Việt Nam trước đây chịu ảnh hưởng nhiều ở Nho giáo, một số trong
đó – loại gia đình nề nếp hay gia đình lễ nghĩa – được xây dựng theo tinh
thần Nho giáo. Vì vậy khi nhắc đến gia đình truyền thống Việt Nam không
thể bỏ qua ảnh hưởng Nho giáo.
Đề tài: Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ ở gia
đình của Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ (Nxb. Khoa học xã hội
1991); Trẻ em lang thang đường phố nhìn từ góc độ gia đình (Báo Phụ nữ
Việt Nam số 29/1994); Đề tài: Gia đình và cơ cấu hộ gia đình Việt Nam
10
của GSCMALER MISCMAN và Vũ Mạnh Lợi (Tạp chí xã hội học số
3/1994 – Dự án VIE/88/PO5); Vấn đề gia đình trong sự biến đổi và phát
triển của xã hội của Tương lai (Tạp chí Xã hội học số 3/1998); Đề tài: Bạo
lực giới trong gia đình: thực trạng và giải pháp ngăn chặn của Hoàng Bá
Thịnh (Tạp chí Lý luận chính trị số 3/2003) khẳng định bạo lực gia đình là
mộ
t trong những hiện tượng đáng lo ngại nhất của tình trạng khủng hoảng
gia đình hiện nay.
Một số đề tài khác như đề tài: Sự biến đổi của gia đình Việt Nam của
Viện xã hội học (Chủ nhiệm đề tài Vũ Tuấn Huy và Vũ Mạnh Lợi năm 2004);
Đề tài: Phát huy vai trò của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước c
ủa Nguyễn Thị Vân (Tạp chí Phát triển nhân lực số 1/2007);
Đề tài: Những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân công thực
hiện công việc nội trợ giữa vợ và chồng của Phạm Thu Trang (Thông tin
Khoa học xã hội, Hà Nội số 4/2008); Võ Nguyên Du (2000), Một số nội dung
và biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em trong gia đình, Luận án
tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, trong những công
trình nghiên cứu trên chưa công trình nào nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc và có
hệ thống về việc giữ gìn và phát huy các giá trị của văn hóa dân tộc trong
quá trình xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam. Chính vì vậy, trong luận án
này, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu các công trình khoa học đã được công
bố, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng của vi
ệc giữ gìn và phát huy các giá
trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam, từ đó rút ra
các phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn
chế những mặt tiêu cực trong quá trình xây dựng văn hóa gia đình Việt
Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: Làm rõ những vấn đề lý luận chung về văn hóa
dân tộc, vă
n hóa gia đình, nghiên cứu thực trạng việc giữ gìn và phát huy giá
trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình, từ đó đề xuất những giải
pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy giá trị đó trong giai đoạn hiện nay.
12
Nhiệm vụ của luận án: để đạt được mục đích đặt ra, luận án thực hiện
các nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, trình bày khái luận chung về văn hóa dân tộc và văn hóa gia
đình Việt Nam hiện nay.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với
việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia
đình Việt Nam hiện nay
Ba là, xác đị
nh mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm phát huy
giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
cứu vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong quá trình
xây dựng văn hóa gia đình ở nước ta hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng việc giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa dân tộc, luận án trình bày phương hướng và giải pháp
góp phần gi
ữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình
Việt Nam theo hướng ổn định và phát triển.
Nội dung và kết quả của luận án là cơ sở khoa học góp phần hoạch định
các chủ trương, chính sách về xây dựng phát triển các giá trị văn hóa gia đình
đồng thời xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngoài ra, nội dung của luận án được sử dụng làm tài liệ
u tham khảo cho
những nơi nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa dân tộc, văn hóa gia đình.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được kết cấu gồm 03 chương, 07 tiết. 14
Chương 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA,
VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC
TRONG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
1.1. QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA, GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC
1.1.1. Quan niệm văn hóa
t động sống của con
người, từ hoạt động sản xuất vật chất đến hoạt động tinh thần, phản ánh kiểu
lựa chọn sáng tạo của cá nhân và cộng đồng. Trong quá trình lịch sử, quan
niệm về văn hóa ở phương Đông và phương Tây có những điểm giống
nhau nhưng cũng có những điểm khác nhau.
Ở phương Đông, thuật ngữ văn hóa xuất hi
ện ở Trung Quốc từ rất
sớm. Quẻ Bí trong Chu dịch nói: “Quan sát dáng vở (văn) con người, lấy đó
để giáo hóa thiên hạ” trong đó đã bao hàm ý nghĩa văn và hóa. Khổng Dĩnh
Đạt trong cuốn Chu Dịch chính nghĩa, đã giải thích ý nghĩa câu ấy như sau:
ý nói bậc thánh nhân quan sát dáng vẻ con người, tức là Thi, Thư, Lễ, Nhạc,
theo đó để giáo hóa thiên hạ. Tuy vậy, “văn” không phải chỉ là cái bên
ngoài có thể thay đổi, mà nó còn có nguồ
n gốc linh thiêng, gắn với mệnh
Trời cho nên “văn” cũng là Đạo. Thánh nhân là người chịu mệnh Trời
đem “văn” để “hóa thành thiên hạ”. Đó là đạo “nội thánh ngoại vương”,
chức năng kép của văn hóa, vừa đáp ứng nhu cầu thế tục vừa đáp ứng nhu
cầu tâm linh. Vì vậy, thuật ngữ văn hóa không chỉ mang nội dung chính trị
mà còn mang cả nội dung tinh thần sâu sắc. Mục đích c
ủa học vấn là để
nắm vững thiên văn, địa văn và nhân văn, từ đó hướng tới tu thân, tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ.
Ưu điểm nổi bật của cách hiểu phương Đông về khái niệm văn hóa là
nó hướng tới hoàn thiện đời sống tinh thần bên trong của con người, chú ý
xây dựng các cộng đồng theo một hệ thống chỉnh thể từ gia đình, dòng họ
tới
quốc gia, dân tộc. Hạn chế lớn nhất của nó là ở chỗ nó bị quy vào khung
16
“Mệnh Trời”, ít chú ý tới khuyến khích và giải phóng nhu cầu sáng tạo, cải
xuất hiện một cuộc vận động văn hóa rộng lớn và sâu sắc lôi cuốn cả châu
17
Âu từ giữa thế kỷ XIV. Do sự phát triển của các đô thị, do sự mở rộng thị
trường thế giới, nhờ việc phát minh ra châu Mỹ và con đường biển sang Ấn
Độ, những mầm móng tư bản chủ nghĩa đang hình thành trong lòng chế độ
phong kiến. Cuộc vận động văn hóa này đã làm nảy sinh những “con người
khổng lồ” như Đăngtơ của Ý, Xécvăngtét ở
Tây Ban Nha… Họ là những
người hướng tới xây dựng một nền văn hóa mới nhằm giải phóng con người
thoát khỏi những ràng buộc của thần quyền và vương quyền, khẳng định
quyền lực trí tuệ, khả năng sáng tạo của con người trong thế giới hiện thực.
Tư tưởng đó dần dần được chuyển vào từ điển của các nước phương Tây và
nhấn mạnh đến khía cạnh trí tuệ, sáng tạo và tinh thần nhân bản của con
người. Sự đa dạng của các định nghĩa về văn hóa bắt nguồn từ sự đa dạng
trong cách tiếp cận, do đó dẫn đến những cách hiểu khác nhau về khái niệm
này. Dominique Wolton đã nêu ra ba cách hiểu khái niệm văn hóa trong một
số ngôn ngữ chính của phương Tây: i) Văn hóa theo nghĩa cổ của Pháp chỉ
sự
sáng tạo, chỉ các tác phẩm; ii) Văn hóa trong tiếng Đức gần với văn minh,
bao hàm các giá trị, các biểu tượng và di sản được công nhận và chia sẻ
trong một số cộng đồng người nhất định; iii) Trong tiếng Anh, văn hóa mang
tính nhân học hơn và bao gồm cả lối sống, phong cách, cách cư xử thường
ngày, hình ảnh và những điều thần bí.
Như vậy, lược qua lịch sử phát triển của khái niệm v
ăn hóa, từ xưa
đến nay, ở phương Đông cũng như phương Tây, chúng ta thấy xuất phát từ
sự vận động khách quan của đối tượng nghiên cứu, các nhà khoa học văn hóa
đã vượt qua các định nghĩa duy danh, tìm các phương pháp tiếp cận khác
nhau để đi sâu vào bản chất của khái niệm.
chỉ gắn liền với xã hội, với tự nhiên mà còn gắn với sự phát triển của chính
bản thân con người; gắn với các phương thức hoạt động, các thiết chế nền
tảng của đời sống xã hội như thiết chế lao động, thiết chế tín ngưỡng, thiết
chế gia đình… Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: Đối với
một số ng
ười, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy
và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại