BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.PHẠM VĂN CHÍN
HÀ NỘI, NĂM 2011
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc ñến các thầy, cô trong khoa Giáo dục Chính trị ñã trang bị cho tôi
những kiến thức chủ yếu, ñộng viên tôi về mặt tinh thần, tạo ñiều kiện
về vật chất trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin biểu lộ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc ñến
PGS.TS. Phạm Văn Chín, người ñã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và
Tôi xin cam ñoan bản luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS. Phạm Văn Chín. Các số liệu, tài liệu nêu trong luận văn là trung thực, bảo
ñảm tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo ñều có xuất xứ rõ ràng, ñáng
tin cậy.
Đắk Lắk, ngày 20 tháng 10 năm 2011
NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Hải Yến
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt Nghĩa toàn bộ
BCH TW Ban chấp hành trung ương
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện ñại hóa
CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNXH Chủ nghĩa xã hội
HĐND Hội ñồng nhân dân
HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
HTX Hợp tác xã
NQTW Nghị quyết trung ương
Nxb. Nhà xuất bản
XHCN Xã hội chủ nghĩa MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN GIỮ GÌN VÀ PHÁY HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
với nhiều mối quan hệ hữu cơ chằng chịt, tác ñộng qua lại lẫn nhau, ñan xen vào
giữa các sự vật, hiện tượng và các quá trình phát triển của thế giới. Đặc biệt toàn
cầu hoá ñược xem như là quá trình liên kết phát triển giữa các quốc gia, dân tộc trên
thế giới. Sự tác ñộng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ñang diễn ra mạnh
mẽ cuốn hút tất cả các nước, các dân tộc trên thế giới vào quá trình quốc tế hoá mọi
lĩnh vực của ñời sống xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản vốn có của thế giới vẫn ñang
tồn tại và ngày càng diễn biến phức tạp. Điều ñó dẫn ñến một nguy cơ lớn dễ nhận
thấy là mối ñe doạ tiềm tàng về khả năng ñánh mất bản sắc văn hoá dân tộc ñối với
các nước có nền kinh tế chậm phát triển, trong ñó có Việt Nam, mặc dù nó cũng
ñem lại cho các quốc gia, dân tộc không ít những thuận lợi và cơ hội lớn.
Trong thời ñại ngày nay với vai trò sứ mệnh lịch sử của mình giai cấp vô sản
và quần chúng nhân dân lao ñộng ñã tự giác nắm lấy tất cả những gì tốt ñẹp, những
gì tinh tuý nhất của quá khứ, của hiện tại ñể làm phong phú và giàu ñẹp cho sự
nghiệp văn hoá của mình. Văn hoá cũng ñược xem như là “chứng minh thư” mà
thiếu nó thì mỗi quốc gia, dân tộc sẽ có nguy cơ ñứng bên bờ vực thẳm của sự ñánh
mất hay tiêu tan chính bản thân mình. Vì vậy, văn hoá ñóng một vai trò hết sức
quan trọng trong ñời sống của mỗi quốc gia, dân tộc “ văn hoá là nền tảng tinh thần
2
của xã hội, một ñộng lực thúc ñẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, ñồng thời là một
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [9-51]
Việt Nam là một quốc gia ña dân tộc (54 dân tộc anh em) ñược phân bố ñều
khắp các vùng khác nhau của Tổ Quốc. Do ñặc ñiểm và ñiều kiện, hoàn cảnh ñịa lý
của tường vùng khác nhau dẫn ñến hình thành các vùng văn hoá khác nhau. Trong
các vùng văn hoá của Việt Nam, Đắk Lắk một tỉnh của Tây Nguyên là nơi tập trung
một vùng văn hoá dân tộc ñặc sắc của cộng ñồng dân cư lâu ñời. Nền văn hoá ấy
ảnh hưởng sâu xa ñến từng dân tộc, từng con người Đắk Lắk. Nó biểu hiện ở thế
giới quan, nhân sinh quan, phong cách, tư duy lối sống, sinh hoạt, ứng xử….của con
người. Vì sự vận ñộng, biến ñổi của thế giới luôn diễn ra không ngừng, ñiều ñó
không thể không ảnh hưởng ñến văn hoá Đăk Lăk, ñó là giá trị văn hoá của dân tộc
Êñê ở Đăk Lăk. Hơn nữa, vấn ñề quan trọng ñược ñặt ra là không thể có bình ñẳng
Có nhiều bài viết, công trình khai thác về mối quan hệ giữa văn hoá và phát
triển: Trần Ngọc Hiên “ Văn hoá và phát triển-từ góc nhìn Việt Nam” NXB Khoa
học xã hội, HN, 1993; Phạm Văn Đồng “Văn hoá và ñổi mới” NXB Chính trị Quốc
gia, HN,1998; Hoàng Trinh “Vấn ñề văn hoá và phát triển” NXB Chính trị Quốc
gia, HN,1996;
Một số công trình, bài viết về văn hoá dưới góc ñộ triết học: Vũ Thị Kim
Dung-cách tiếp cận vấn ñề văn hoá theo quan ñiểm triết học Mác, tạp chí triết học
số 11/1998; Vũ Đức Khiển- Văn hoá với tư cách một khái niệm triết học và vấn ñề
xác ñịnh bản sắc dân tộc của văn hoá, tạp chí triết học số 6/2000; Nguyễn Huy
Hoàng “Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của C.Mác, NXB Văn hoá thông
tin, Viện văn hoá, Hà Nội, 2002.
Các bài viết làm rõ tầm quan trọng của văn hoá trong nền kinh tế thị trường
hiện nay như: Đặng Hữu Toàn-Vai trò của văn hoá trong sự phát triển lâu bền theo
hướng công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, tạp chí triết học số 2/1999; Đặng Quang
Định-Vai trò của văn hoá ñối với sự phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ ñẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, tạp chí Lý luận Chính trị sô 12/2001.
4
Nhiều công trình viết về bản sắc văn hoá, dân tộc và bản sắc văn hoá các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam như: Trần Ngọc Thêm “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”,
NXB.TP.HCM; Đỗ Huy- Trường Lưu “Bản sắc dân tộc của Việt Nam”, Viện văn
hoá,1999; Huy Cận “Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc” NXB Chính trị QG,
HN,1994; Ngô Văn Lệ “Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, NXB Giáo dục,
HN, 1998; Ngô Đức Thịnh “ Văn hoá dân gian Êñê”, NXB Văn hoá dân tộc,
HN,1992; Phan Đăng Nhật “Sử thi Êñê”, NXB khoa học xã hội, HN, 1991; Chu
Thái Sơn “ Hoa văn cổ truyền Đắk Lắk”, NXB văn hóa dân tộc, HN, 1997; Y Thih-
Trương Bi “ Truyện cổ Êñê” (tập 1,2), Sở văn hoá thông tin Đắk Lắk, 1983; Lê Huy
Vũ “Lễ hội dân gian Êñê”, NXB văn hoá dân tộc, HN 1995.
Nhìn chung các công trình chưa ñi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống
“Vấn ñề giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá của dân tộc Êñê ở Đắk Lắk hiện nay”.
Vì thế, việc nghiên cứu “vấn ñề giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá của dân tộc Êñê
6
Chương 1
VĂN HOÁ VÀ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở TỈNH
ĐĂK LĂK
1.1.Quan ñiểm Mác xít về văn hoá và giá trị văn hoá
1.1.1.Khái niệm văn hoá
Văn hoá là gì? Câu hỏi ñã ñược ñặt ra từ lâu với tư duy nhân loại. Trong lịch
sử lơài người, xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau bằng cách này hay cách
khác, ñã có rất nhiều ñịnh nghĩa về văn hoá. Trong tiếng Việt, văn hoá ñược dùng
theo nghĩa thông dụng ñể chỉ học thức ( trình ñộ văn hoá), lối sông (nếp sống văn
hoá); theo nghĩa chuyên biệt ñể chỉ trình ñộ văn minh của một giai ñoạn (văn hoá
Đông Sơn) … “Đề cương về văn hoá Việt Nam” của Đảng cộng sản Đông Dương
năm 1943 ñã xếp văn hoá bên cạnh kinh tế, chính trị và xem nó bao gồm cả tư
tưởng, học thuật, nghệ thuật, Uỷ ban Unesco của Liên hiệp quốc thì xếp văn hoá
bên cạnh khoa học và giáo dục, tức là ñặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn
hoá.
Ở phương Đông, từ ngữ “văn hoá” ñã xuất hiện rất sớm từ thời Tây Hán (thế
thường là ñầu mối của những cuộc tranh luận nhiều khi vô bổ.
Các quan niệm trên, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác ñã phản ánh ñược
những nét ñặc trưng của văn hoá. Song văn hoá là một phạm trù hết sức rộng lớn,
phong phú và ña dạng, là một hiện tượng xen kẽ và thẩm thấu trong tất cả mọi hoạt
ñộng trong tất cả mọi hoạt ñộng của xã hội. Do vậy, những quan niệm về văn hoá
vừa rất linh hoạt vừa có nhiều nghĩa, khó có thể có ñược một công thức, một ñịnh
nghĩa gon gàng mà bao hàm ñầy ñủ ý nghĩa của nó. Hơn thế nữa ví văn hoá là một
hiện tượng xã hội khá phức tạp và phần nào ñó sẽ vượt ra ngoài những quan niệm
trên. Vì rằng: văn hoá là kết quả của quá trình lao ñộng và hoạt ñộng xã hội của con
người, nên ñề cập ñến vấn ñề này, các nhà lãnh ñạo Đảng và nhà nước ta ñã khẳng
ñịnh: “văn hoá sản sinh ra trong quá trình con người tác ñộng vào tự nhiên và tiến
hành ñấu tranh xã hội” [5-257].
8
Như vậy, văn hoá là sản phẩm trực tiếp của con người, văn hoá bao giời cũng
mang tính lịch sử, tính giai cấp. Hay nói khác ñi, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau,
văn hoá cũng có những ñặc ñiểm riêng biệt là phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị.
Bởi lẽ, văn hoá bao gồm những tư tưởng, những giá trị, những chuẩn mực ñạo ñức
của một giai cấp nhất ñịnh trong xã hội. Chính từ cội nguồn của nó, người ta khẳng
ñịnh văn hoá ra ñời là nhờ lao ñộng.
Văn hoá trước hết phải có tính hệ thống. Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một
nền văn hoá ñều có liên quan mật thiết với nhau. Nhờ có tính hệ thống mà văn hoá,
với tư cách là một ñối tượng bao trùm mọi hoạt ñộng của xã hội, thực hiện ñược
chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hoá thường xuyên làm tăng tốc ñộ ổn ñịnh của
xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết ñể ứng phó với môi trường tự
nhiên và xã hội của mình.
Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hoá là tính giá trị. Trong từ “văn hoá”
thì văn có nghĩa là “vẻ ñẹp”, văn hoá có nghĩa là “ trở thành ñẹp, thành có giá trị”.
Văn hoá chỉ chứa cái ñẹp, chứa các giá trị. Nó là thước ño mức ñộ nhân bản của xã
hội và con người.
Đặc trưng thứ ba của văn hoá là tính nhân sinh. Văn hoá là một hiện tượng
hoàn thiện hơn, thoát ly dần với bản năng ñộng vật và tiến tới bản chất “tộc loài”
của mình.
Như vậy, văn hoá ñược hình thành và phát triển trên cơ sở sự hình thành và
phát triển con người. Trình ñộ phát triển chung của văn hoá phụ thuộc vào trình ñộ
chinh phục tự nhiên của con người.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, bảo vệ và phát triển các nguyên lý của triết
học Mác, V.I.Lênin cũng phân tích sâu sắc thêm về mặt xã hội của văn hoá với cách
tiếp cận từ hình thái kinh tế-xã hội. Chính Lênin ñã ñề ra nguyên tắc quan trọng
trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới. Đó là những nguyên tắc về tính ñảng,
tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hoá; xác ñịnh sự nghiệp văn
hoá là một bộ phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh ñạo của Đảng
cộng sản.
10
Nói ñến bản chất của văn hoá, Hồ Chí Minh có quan niệm về văn hoá rất
rộng gắn liền với hoạt ñộng sống của cá nhân, cộng ñồng và ý nghĩa của văn hoá rất
bao quát, Người viết “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục ñích của cuộc sống, loài người
phải sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, ñạo ñức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và
các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ñó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người ñã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu ñời sống và ñòi hỏi của
sự sinh tồn” [41-4]. Khái niệm văn hoá trong cách diễn ñạt của Hồ Chí Minh nhấn
mạnh mục ñích của văn hoá là ñáp ứng nhu cầu ñời sống và sự sinh tồn. Cách ñặt
vấn ñề này nhắc nhở người ta cách ứng xử với văn hoá và cách sử dụng văn hoá.
Con người cần phải biết trân trọng văn hoá, giữ gìn và phát huy nó ñể ñến lượt
mình, nó ñáp ứng những nhu cầu của con người.
Sau cách mạng tháng tám 1945, trong bộn bề công việc chống thù trong giặc
ngoài, Hồ Chí Minh ñã không ngừng quan tâm ñến văn hoá. Trong diễn văn khai
mạc hội nghị văn hoá toàn quốc (11-1946), Hồ Chí Minh ñã nhấn mạnh ñến mối
liên hệ giữa văn hoá và chính trị. Đồng thời, Người ñề cao vai trò của văn hoá:
IX, nghị quyết ñại hội một lần nữa khẳng ñịnh: “xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
ñậm ñà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là ñộng lực thúc ñẩy sự phát triển xã
hội”.
Như vậy, nói ñến văn hóa là nói ñến con người. Lịch sử văn hóa là lịch sử
của con người và loài người: con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con
người trở thành Người. Điều ñó có nghĩa là tất cả những gì liên quan ñến con người,
ñến mọi cách thức tồn tại của con người ñều mang trong nó cái gọi là văn hóa. Có
thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là sự thể hiện những
lực lượng ñó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tinh thần của con
người. Từ ñó, văn hóa ñược chia làm hai lĩnh vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính tương ñối, bởi cái gọi là “
văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các
12
giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh
thần, mà thường ñược “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất. Ngoài ra còn các
giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất
khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực ñạo ñức, giao tiếp, ứng xử, lối sống,
phong tục tập quán…Văn hóa tồn tại và phát triển trong mối quan hệ thích nghi giữa
con người với tự nhiên, giữa con người với con người. Vì vậy, văn hóa không phải
là giá trị cố ñịnh, bất biến mà văn hóa luôn phát triển. Văn hóa là mục tiêu và ñộng
lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Văn hóa không phải là “cái chung trừu tượng” giống nhau ở mọi xã hội, mọi
cộng ñồng - dân tộc. Nếu mỗi cộng ñồng – dân tộc có ñời sống xã hội riêng biệt, ñặc
thù, một lịch sử hình thành và một hiện thực con người không ñồng nhất với các
cộng ñồng khác, thì tất nhiên văn hóa mang tính riêng biệt, ñặc thù của mỗi dân tộc.
Một dân tộc tồn tại là tồn tại cùng với nền văn hóa do chính mình tạo ra. Văn hóa in
dấu của mọi mặt ñời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất ñịnh, của một cộng ñồng
riêng biệt, chúng ta gọi là “bản sắc dân tộc của văn hóa” hay “bản sắc văn hóa dân
tộc”.
Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VIII) ra
chiến, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể. Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với
kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự
nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hoá. Đa dạng hoá các hoạt
ñộng của phong trào “Toàn dân ñoàn kết xây dựng ñời sống văn hoá”. Xây dựng và
phát triển chương trình giáo dục văn hoá, thẩm mỹ, nếp sống văn hoá hiện ñại trong
nhân dân. Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra
những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Đồng thời tăng cường
quản lý nhà nước về văn hoá. Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn ñịnh. Tăng
cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá. Chống sự xâm nhập văn hoá
ñộc hại, lai căng, phản ñộng. Xây dựng, nâng cấp ñồng bộ hệ thống thiết chế văn
hoá. Tạo ñiều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin ñại chúng phát triển. Nâng
14
cao chất lượng tư tưởng văn hoá, hiện ñại về mô hình, cơ cấu, cơ sở vật chất kỹ
thuật. Xây dựng cơ chế quản lý khoa học, phù hợp. Đảm bảo tự do, dân chủ cho
những hoạt ñộng sáng tạo văn hoá, văn học, nghệ thuật. Đi ñôi với phát huy trách
nhiệm công dân của văn nghệ sỹ. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt ñộng, cơ cấu
tổ chức của các hội văn học- nghệ thuật từ trung ương ñến ñịa phương.
Đại hội XI, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa ñược ñúc kết cô ñọng hơn,
cụ thể hơn, tập trung vào 4 nội dung quan trọng:
Một là: Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong
phú, ña dạng; tiếp tục ñẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang, lễ hội…; triển khai cuộc vận ñộng xây dựng gia ñình Việt Nam góp phần giữ
gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, còn người Việt Nam, nuôi
dưỡng giáo dục thế hệ trẻ.
Hai là: Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các
di sản văn hóa truyền thống, cách mạng. Theo ñó, tiếp tục phát triển nền văn học,
nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, ñậm ñà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ,
vươn lên hiện ñại, phản ánh chân thật, sâu sắc ñời sống, lịch sử dân tộc và công
cuộc ñổi mới ñất nước; cổ vũ, khẳng ñịnh cái ñúng, cái ñẹp, ñồng thời lên án cái
xấu, cái ác. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy ñịnh của pháp luật về sở
bảo.
Quá trình xây dựng môi trường văn hóa phải chú trọng xây dựng ñời sống
văn hoá, vì ñó là bước ñi ban ñầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá.
Xây dựng ñời sống văn hóa cần phải ñược tổ chức một cách bài bản, có chủ trương,
chiến lược và từ trong từng gia ñình Việt Nam, trong thôn, bản, khu phố, trong các
tổ chức ñoàn thể…, không chỉ là vài cuộc liên hoan văn nghệ quần chúng theo ñịnh
16
kỳ hay chào mừng, cổ vũ một vài ngày kỷ niệm, sự kiện nào ñó. Đối với văn học,
nghệ thuật hay bảo tồn phát huy các di sản văn hóa cũng phải có mục tiêu cụ thể,
nhằm ñạt tới kết quả cuối cùng là có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thực sự phát
huy chức năng giáo dục, ñịnh hướng thẩm mỹ cho công chúng, nâng cao ý thức dân
tộc, trách nhiệm của mỗi người với những giá trị ñó. Các cơ quan thông tin, truyền
thông ñặc biệt là báo chí, xuất bản là những công cụ trực tiếp, ñắc lực, có trách
nhiệm tuyên truyền cho quá trình chăm lo phát triển văn hóa của ñất nước trên cơ sở
vì mục ñích, lợi ích của nhân dân và ñất nước. Đương nhiên, ñội ngũ ñó phải ñược
quan tâm, chăm lo ñào tạo, rèn luyện chính trị, tư tưởng, có năng lực chuyên môn
ñồng thời phải có ñạo ñức nghề nghiệp, trách nhiệm công dân, nếu không sẽ không
thể ñáp ứng ñược yêu cầu thông tin, giáo dục, tổ chức và xã hội phù hợp với môi
trường văn hóa lành mạnh theo quan ñiểm của Đảng.
Công việc ñổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học,
nghệ thuật, ñất nước, con người Việt Nam với thế giới…thực chất cũng là nhằm xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh, ña dạng, phong phú. Vì văn hóa Việt Nam
muốn phát triển không thể không có lộ trình, kế hoạch cụ thể ñể quảng bá ra nước
ngoài; muốn quảng bá phải có thiết chế, phải có ñầu tư về con người và cơ sở vật
chất cho nhiệm vụ này (một vài trung tâm văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài như
hiện nay là không thể hoàn thành ñược). Đồng thời chọn lọc, giới thiệu những giá
trị văn hóa của bè bạn thế giới vào nước ta cũng là công việc cần ñược quan tâm ñể
làm ñẹp thêm bức tranh văn hóa nước nhà.
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, ña dạng theo quan
ñiểm của Đảng nêu trên, là sự kiên ñịnh (kế thừa, bổ sung, phát triển) quan ñiểm
là sự ñứt ñoạn trong sự phát triển văn hoá, là sự tiêu diệt hoặc từ chối những di sản
và truyền thống văn hoá quá khứ, mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội mới tất yếu phải
kế thừa các thành tựu của văn hoá quá khứ.