Đời sống của đồng bào dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk – những phân tích và so sánh xã hội học - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 NGUYỄN MINH TUẤN

ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÊĐÊ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK - NHỮNG
PHÂN TÍCH
VÀ SO SÁNH XÃ HỘI HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SỸ XÃ HỘI HỌC



NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS. ĐẶNG CẢNH KHANH
PGS.TS. NGUYỄN THỊ THU HÀ HÀ NỘI - 2013 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu khảo sát xã hội học và dữ liệu định tính là
trung thực. Các số liệu và tài liệu khác đƣợc trích dẫn
nguồn tham khảo rõ ràng.
Tác giả
Nguyễn Minh Tuấn

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo hƣớng dẫn GS.TS Đặng

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK HIỆN NAY 40
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40
2.2. Thực trạng đời sống của ngƣời dân tộc Êđê tại Đăk Lăk hiện
nay xét dƣới những khía cạnh kinh tế 44
2.2.1. Cơ sở hạ tầng xã hội 44
2.2.2. Thu nhập và đánh giá mức sống 57
2.2.3. Điều kiện nhà ở và tiện nghi sinh hoạt gia đình 60
2.3. Thực trạng đời sống của ngƣời Êđê tại Đăk Lăk hiện nay xét
dƣới những khía cạnh phi kinh tế 67
2.3.1. Điều kiện giáo dục và y tế 67
2.3.2. Quan hệ gia đình thông qua bình đẳng giới trong gia đình 72
2.3.3. Hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, sinh hoạt lễ hội, cộng đồng 77 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐỜI SỐNG CỦA
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÊĐÊ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK 101
3.1. Chính sách xã hội 102
3.2. Quá trình đô thị hóa 110
3.2.1. Tác động của quá trình đô thị hóa tới thực trạng cơ sở hạ
tầng, thu nhập và đánh giá mức sống 111
3.2.2 Tác động của quá trình đô thị hóa tớinhà ở và tiện nghi sinh hoạt 121
3.2.3. Tác động của quá trình đô thị hóa tới giáo dục và y tế 125
3.2.4. Tác động của quá trình đô thị hóa tới bình đẳng giới trong
gia đình 131
3.2.5. Tác động của quá trình đô thị hóa tới hoạt động nghỉ ngơi giải
trí và sinh hoạt lễ hội, cộng đồng 136
3.3. Toàn cầu hóa và quá trình giao lƣu, tiếp biến văn hóa 149
3.4. Các đặc trƣng nhân khẩu xã hội 155
3.4.1. Giới tính 155
3.4.2. Độ tuổi 158

: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHH
: Xã hội học DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 : Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tại địa bàn sinh sống 45
Bảng 2.2: Đánh giá mức sống so với 5 năm trƣớc 57
Bảng 2.3: Thu nhập hàng tháng của các hộ gia đình 58
Bảng 2.4: Chất lƣợng, kiểu dáng nhà trong các buôn làng ngƣời Êđê 61
Bảng 2.5: Tiện nghi sinh hoạt trong các gia đình Êđê 64
Bảng 2.6: So sánh điều kiện giáo dục so với 5 năm trƣớc 67
Bảng 2.7: Nơi khám chữa bệnh của ngƣời dân tộc Êđê 69
Bảng 2.8: Ngƣời thực hiện chính các công việc trong gia đình ngƣời Êđê 73
Bảng 2.9: Ngƣời quyết định chính các công việc trong gia đình ngƣời Êđê 76
Bảng 2.10: Các hoạt động trong thời gian rỗi của ngƣời Êđê 78
Bảng 2.11: Các phong tục tiến hành lễ, tết của ngƣời Êđê 79
Bảng 2.12: Số lƣợng ngƣời Êđê còn duy trì, tham gia các lễ hội 86
Bảng 2.13: Thói quen mặc trang phục truyền thống của ngƣời Êđê 92
Bảng 2.14: Các hoạt động đƣợc tổ chức trong các buôn ngƣời Êđê 97
Bảng 3.1: Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tại 2 thời điểm nghiên cứu 112
Bảng 3.2: Ƣớc tính tổng thu nhập hàng tháng tại 2 thời điểm nghiên cứu 114
Bảng 3.3: Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tại 2 địa bàn nghiên cứu 115
Bảng 3.4: Ƣớc tính tổng thu nhập hàng tháng tại 2 địa bàn nghiên cứu 117
Bảng 3.5: Chất lƣợng và kiểu nhà tại 2 thời điểm nghiên cứu 121
Bảng 3.6: Tỷ lệ sở hữu các vật dụng sinh hoạt gia đình tại 2 thời điểm

Bảng 3.22: Các hoạt động đƣợc địa phƣơng tổ chức tại 2 địa bàn nghiên cứu 145
Bảng 3.23: Tƣơng quan giữa giới tính của ngƣời trả lời và sự lựa chọn
địa điểm khám chữa bệnh 156
Bảng 3.24: Tƣơng quan giữa giới tính của ngƣời trả lời và các hoạt động
nghỉ ngơi, giải trí trong thời gian rỗi của họ 157
Bảng 3.25: Tƣơng quan giữa giới tính của ngƣời trả lời và thói quen mặc
trang phục truyền thống của họ 157 Bảng 3.26: Tƣơng quan giữa độ tuổi của ngƣời trả lời và sự lựa chọn địa
điểm khám chữ bệnh 159
Bảng 3.27: Tƣơng quan giữa độ tuổi của ngƣời trả lời và các hoạt động
nghỉ ngơi, giải trí trong thời gian rỗi của họ 160
Bảng 3.28: Tƣơng quan giữa độ tuổi của ngƣời trả lời và thói quen mặc
trang phục truyền thống của họ 161
Bảng 3.29: Tƣơng quan giữa trình độ học vấn của ngƣời trả lời và sự lựa
chọn địa điểm khám chữ bệnh 163
Bảng 3.30: Tƣơng quan giữa trình độ học vấn của ngƣời trả lời và các
hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của họ 164
Bảng 3.31: Tƣơng quan giữa trình độ học vấn của ngƣời trả lời và thói
quen mặc trang phục truyền thống của họ 165
Bảng 3.32: Tƣơng quan giữa nghề nghiệp của ngƣời trả lời và sự lựa
chọn địa điểm khám chữ bệnh 167
Bảng 3.33: Tƣơng quan giữa nghề nghiệp của ngƣời trả lời và các hoạt
động giải trí trong thời gian rỗi của họ 168
Bảng 3.34: Tƣơng quan giữa nghề nghiệp của ngƣời trả lời và thói quen
mặc trang phục truyền thống của họ 169

chế kinh tế nhà nƣớc tập trung sang cơ chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã
hội chủ nghĩa. Sự thay đổi ấy đã mang lại nhiều thành quả rực rỡ trong mọi
lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Trong thực tế, quá trình đổi mới
trong gần3 thập kỷ qua đã tạo ra một bộ mặt mới cho xã hội Việt Nam. Các
thành tựu to lớn về mặt kinh tế đã khiến cho Việt Nam ngày càng trở nên
thịnh vƣợng. GDP trung bình hàng năm tăng khoảng 7%, tỷ lệ nghèo đói theo
chuẩn mới năm 2011 còn 10%. Rõ ràng là những biến đổi văn hoá - xã hội đã
tác động rất lớn đến đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, quá trình
đổi mới đã đƣa đến những hệ quả khác nhau đối với các nhóm và tổ chức xã
hội khác nhau.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Dân số của các cộng đồng dân
tộc ở Việt Nam rất chênh lệch với nhau: bên cạnh dân tộc Kinh chiếm đa số,
một số dân tộc có số dân trên một triệu nhƣ Tày, Thái, Hoa, Mƣờng, Dao, H
Mông, nhƣng cũng có những dân tộc chỉ có một vài ngàn ngƣời nhƣ La Ha,
Mảng, Kháng, La Hủ, hoặc thậm chí vài ba trăm ngƣời nhƣ Ơ – đu, Brâu,
Sila) (Phạm Xuân Nam, 2001). Trong số 54 dân tộc chung sống ở Việt Nam,
dân tộc Kinh chiếm phần lớn với 86% dân số và có trình độ phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội, y tế và giáo dục cao hơn. Trừ ngƣời Kinh, ngƣời Hoa, ngƣời
Khơ-me và ngƣời Chăm, 50 dân tộc còn lại chủ yếu sinh sống ở vùng nông
thôn hoặc miền núi xa xôi và chịu những bất lợi về xã hội và kinh tế ở những
mức độ khác nhau. Tỉ lệ nghèo của nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số cao
hơn 4-5 lần so với đồng bào ngƣời Kinh và Hoa. Nhóm đồng bào dân tộc
thiểu số cũng có tỉ lệ suy dinh dƣỡng, mù chữ và bệnh tật cao hơn. Việc nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số để rút ngắn khoảng
cách chênh lệch giữa họ và ngƣời Kinh cũng nhƣ giữa họ với nhau là một
trong những vấn đề đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm. Quan điểm 2
định hƣớng về chính sách dân tộc giai đoạn 2011 – 2020 của Đảng và Nhà

3
tộc Êđê ở Đăk Lăk nói riêng đã có thể nghĩ đến những nhu cầu cao hơn phục
vụ cho cuộc sống, có những gia đình đã có thể mua sắm đƣợc ôtô vừa phục vụ
cho sản xuất vừa phục vụ cho sinh hoạt, những tiện nghi sinh hoạt gia đình
nhƣ xe máy, tivi, tủ lạnh… đã không còn xa lạ đối với bà con dân tộc. Các hộ
gia đình đã có của ăn của để, cuộc sống đã khấm khá lên rất nhiều. Những
buôn làng với hệ thống giao thông thuận tiện, những ngôi nhà tầng khang
trang, những cửa hàng, trung tâm mua bán, dịch vụ …đã và đang xuất hiện
ngày một nhiều. Bộ mặt của các buôn làng đang thay đổi từng ngày.
Nói tóm lại, chỉ cần qua những quan sát thông thƣờng chúng ta cũng
có thể nhận thấy đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (cụ thể ở đây là
đồng bào Êđê) ở Đăk Lăk đang có những thay đổi tích cực nhờ những chính
sách đổi mới mà Đảng và Nhà nƣớc ta đã tiến hành đƣợc hơn 20 năm nay.
Tuy nhiên, hiện trạng cụ thể đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của đồng bào
dân tộc Êđê tại Đăk Lăk đang thể hiện ra sao? Liệu có sự khác biệt đáng kể
nào trong hiện trạng đời sống của ngƣời Êđê sinh sống tại thành phố BMT
với ngƣời Êđê sinh sống tại các huyện miền núi của tỉnh Đăk Lăk? Nguyên
nhân của những khác biệt ấy (nếu có) và những biện pháp nhằm thu hẹp
khoảng cách?
Đó là những câu hỏi thôi thúc tôi lựa chọn đề tài "Đời sống của đồng
bào dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk- những phân tích và so sánh xã
hội học " để nghiên cứu.
Bên cạnh đó, xã hội học về tộc ngƣời, về các nhóm dân tộc thiểu số, tuy
là một chuyên ngành quan trọng trong hệ thống tri thức xã hội học, nhƣng
dƣờng nhƣ còn chƣa nhận đƣợc sự quan tâm thích đáng trong hoạt động giảng
dạy và nghiên cứu của bộ môn khoa học Xã hội học tại Việt Nam. Thông qua
công trình nghiên cứu này, tác giả muốn đóng góp một phần nhỏ vào hệ thống
tri thức lý luận và thực tiễn của chuyên ngành xã hội học về tộc ngƣời, về các
nhóm thiểu số cho việc đẩy mạnh nghiên cứu và hình thành chƣơng trình
giảng dạy chuyên ngành này trong tƣơng lai.

song đây là những nghiên cứu tổng hợp, nên chỉ mang đến những nhận thức
khái quát về đặc điểm văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, 5
chƣa thể đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của vấn đề phát triển xã hội trong
đời sống đƣơng đại.
Những nghiên cứu đề cập tổng quan về tình hình thực hiện chính sách
dân tộc ở Tây Nguyên, mà ở đó các vấn đề xã hội thƣờng có vị trí nổi bật.
Đáng chú ý là nghiên cứu của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam: “Một số vấn
đề kinh tế xã hội Tây Nguyên” [1989]; của Nguyễn Văn Tiêm và các tác giả
khác: “Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Điều tra đánh giá tác động của quá
trình phát triển kinh tế – xã hội đến đời sống của các dân tộc bản địa Tây
Nguyên trong những năm đổi mới” [1998]; ở đây, các yếu tố xã hội không
nghiên cứu riêng biệt, mà đƣợc đặt trong mối quan hệ với các yếu tố chính trị
và kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rõ những chuyển biến to lớn của
tình hình Tây Nguyên sau một quá trình thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ
Chính trị, đặc biệt từ khi có Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây
Nguyên (1998). Bên cạnh đó, các tổng kết này cũng chỉ rõ những tác động
của điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, trình độ dân trí và trình độ kinh
tế, Trên cơ sở đó, có khuyến nghị điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
Một số tác giả đã nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của phát triển
xã hội ở Tây Nguyên nhƣ phát triển giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, lao
động việc làm. Đáng chú ý là nghiên cứu của Lê Văn Định và Nguyễn Thị
Hải Yến: “Xoá đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Kon Tum
hiện nay” [2002]; của Trần Văn Chử: “Di dân với quá trình phát triển kinh tế
– xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trờng ở nước ta hiện nay” [2000]; của
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia: “Một số vấn đề phát triển
kinh tế – xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên” [2002]; của Mai Văn Mô:
“Nâng cao dân trí, động lực phát triển đời sống các dân tộc thiểu số ở Tây

làng tỉnh Đăk Lăk, chỉ ra những yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành và phát
triển đời sống văn hoá cộng đồng tại đây nhƣ phƣơng thức sinh hoạt khép kín,
tự cung tự cấp; văn hoá mang tính truyền miệng và sử dụng vật liệu không
bền của các dân tộc bản địa; phƣơng thức sinh hoạt kinh tế nƣơng rẫy; quá
trình xây dựng xã hội mới cùng với những biến đổi xã hội chung của tỉnh và
cả nƣớc. Với luận án tiến sỹ khoa học Triết học mang chủ đề "Mối quan hệ 7
giữa truyền thống du canh du cư và phương thức định canh định cư hiện nay
của đồng bào dân tộc ở Đăk Lăk", tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã phân tích và
đánh giá sự vận dụng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong công
tác vận động định canh định cƣ cho đồng bào dân tộc ở Đăk Lăk đồng thời
đƣa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển định canh định
cƣ ở Đăk Lăk theo hƣớng hiện đại hoá. Kỷ yếu hội thảo khoa học của trƣờng
Đại học Tây Nguyên (2007) về “Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc
Tây Nguyên” với 34 tham luận của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực
chuyên môn đã cung cấp một bức tranh khá toàn diện về các khía cạnh đời
sống văn hóa xã hội của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng nhƣ chỉ ra
những đòi hòi cấp thiết trong việc duy trì, bảo tồn và phát huy những nét đẹp
trong văn hóa truyền thống của các dân tộc này.
Riêng về dân tộc Êđê - một dân tộc bản địa có số dân sinh sống đông
nhất trong số các dân tộc thiểu số tại Đăk Lăk, những nghiên cứu về mọi mặt
đời sống của họ có thể đƣợc kể đến nhƣ nghiên cứu của Bế Viết Đẳng và các
tác giả khác "Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Đăk Lăk", NXB
KHXH, HN 1982 với 4 phần viết về diều kiện tự nhiên và dân cƣ, sản xuất
kinh tế, các quan hệ xã hội, văn hoá dân gian và những biến đổi kinh tế xã hội
trong đời sống của ngƣời Êđê hay "Người Êđê một xã hội mẫu quyền" của
Anne de Hautecloque -Howe, NXB Văn hoá dân tộc, HN 2004. Những công
trình này đã phác họa đƣợc một cách khái quát đời sống kinh tế - văn hoá - xã

học số 1 -2 năm 1988.
Văn hoá dân gian Êđê là cả một mảng đề tài phong phú và thú vị bởi
nền văn hoá của dân tộc thiểu số này hết sức độc đáo và đa dạng. Tác giả Ngô
Đức Thịnh với "Văn hoá dân gian Êđê", NXB Dân tộc học, HN 1992 đã dành
trọn 7 chƣơng sách để viết về kho tàng văn hoá Êđê với truyện cổ, sử thi
khan, Klây duê lời nói vần, kiến trúc và mỹ thuật Êđê cũng nhƣ các luật tục
và lễ thức trong đời sống cá nhân và cộng đồng bởi theo ông "có lẽ không sai
khi nói rằng, trong các dân tộc thiểu số ở nƣớc ta, dân tộc Êđê có một nền văn
hoá dân gian thật phong phú, đa dạng, thấm đẫm những giá trị nhân bản, tiêu
biểu cho một trình độ phát triển văn hoá các dân tộc ở Việt Nam". Tác giả này 9
và Nguyễn Thị Hoà với luận án tiến sỹ chuyên ngành dân tộc học "Nhà ở và
sinh hoạt trong nhà của người Êđê ở Việt Nam", Trung tâm KHXH&NV
TPHCM, 1996 đều thống nhất một nhận định rằng vốn văn hoá, văn nghệ dân
gian của ngƣời Êđê rất độc đáo và phong phú nhƣng trong xu thế hiện nay,
những mất mát, biến đổi là không thể tránh khỏi. Có những biến đổi là những
chuyển biến tích cực, tạo điều kiện cho ngƣời Êđê dễ dàng tiếp cận với sự
phát triển, nhanh chóng hoà nhập cùng sự tiến bộ của cả nƣớc nói chung. Tuy
nhiên, cũng có những biến đổi là sự mất đi những đặc trƣng văn hoá truyền
thống tốt đẹp vốn đã tạo nên những nét rất riêng cho dân tộc thiểu số này.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng mặc dù tạo nên một mảng đề tài rất phong
phú, hấp dẫn và đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhƣng
dƣờng nhƣ đời sống của dân tộc Êđê thƣờng đƣợc nhìn nhận, nghiên cứu dƣới
góc độ văn hoá nhiều hơn. Góc nhìn xã hội học về đời sống của đồng bào dân
tộc thiểu số này có vẻ nhƣ vẫn còn là một mảnh đất đang bỏ ngỏ.
Gần gũi với xã hội học, một công trình nghiên cứu dƣới góc độ lịch sử,
nhân học và dân tộc học, luận án tiến sỹ lịch sử của Thu Nhung Mlô với đề tài
“Người phụ nữ Êđê trong đời sống xã hội tộc người” (2001) đã cũng cấp

Đăk Lăk: những phân tích và so sánh xã hội học”, tiếp tục đi vào tìm hiểu
đời sống của đồng bào dân tộc Êđê tại Đăk Lăk với địa bàn nghiên cứu mở
rộng hơn trƣớc (không chỉ dừng lại ở thành phố BMT mà còn tiến hành tại
huyện Krông Ana) và tiến hành những so sánh theo 2 trục thời gian và không
gian, cũng nhƣ phân tích những yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới
đời sống của ngƣời Êđê tại Đăk Lăk để hiểu rõ hơn những biến đổi trong mọi
mặt đời sống của đồng bào dân tộc Êđê tại địa bàn nghiên cứu.
Nhƣ vậy, điểm mới của luận án so với các công trình nghiên cứu đi
trƣớc của các tác giả khác chính là nỗ lực nhìn nhận các khía cạnh của đời
sống cũng nhƣ sự biến đổi và chỉ ra đƣợc những yếu tố tác động tới đời sống
của ngƣời dân tộc Êđê tại Đăk Lăk từ góc độ xã hội học, vận dụng các lý
thuyết xã hội học vào việc lý giải những phát hiện từ nghiên cứu, sử dụng các
phƣơng pháp điều tra xã hội học để thu thập và xử lý thông tin. Đề tài là một
công trình xã hội học chuyên sâu về đời sống của một nhóm dân tộc thiểu số, 11
qua đó góp thêm một góc nhìn đối với đời sống của các nhóm dân tộc thiểu số
ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Đề tài "Đời sống của đồng bào dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đăk
Lăk- những phân tích và so sánh xã hội học " là việc vận dụng các lý thuyết
XHH nói chung và các lý thuyết XHH trong lĩnh vực văn hóa và dân tộc nói
riêng để giải quyết vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình hội nhập của các
nhóm dân tộc thiểu số vào sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội chung của
cả nƣớc.
Những nghiên cứu và phân tích thực tiễn của đề tài sẽ cung cấp dữ liệu
phác thảo bức tranh chung về đời sống muôn màu muôn vẻ của ngƣời dân tộc
Êđê tại Đăk Lăk, cũng nhƣ chỉ ra một số yếu tố tác động tới đời sống của họ,
từ đó góp phần tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách nhằm nâng cao chất

nghi sinh hoạt hộ gia đình, thu nhập của hộ gia đình) và phi kinh tế (giáo dục,
y tế, nghỉ ngơi giải trí, sinh hoạt cộng đồng và bình đẳng giới trong gia đình);
- So sánh hiện trạng đời sống của ngƣời Êđê hiện nay với thời điểm 5
năm trƣớc;
- So sánh hiện trạng đời sống của ngƣời Êđê tại thành phố BMT và của
ngƣời Êđê tại huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk;
- Phân tích một số yếu tố chính tác động tới sự biến đổi đời sống của
ngƣời dân tộc Êđê tại Đăk Lăk, bao gồm: chính sách xã hội, quá trình đô thị
hóa, toàn cầu hóa, giao lƣu và tiếp biến văn hóa, cũng nhƣ một số đặc trƣng
nhân khẩu xã hội của ngƣời Êđê (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp).
6. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
6.1. Đối tượng nghiên cứu
Đời sống của đồng bào dân tộc Êđê trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
6.2. Khách thể nghiên cứu
Các hộ gia đình đồng bào dân tộc Êđê trên địa bàn thành phố BMT và
huyện Krông Ana – Tỉnh Đăk Lăk và cán bộ quản lý thuộc chính quyền xã,
phƣờng tại địa bàn nghiên cứu. 13
6.3. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về không gian:
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 2 địa điểm là phƣờng Eatam thành phố
BMT và xã Dray Sáp, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Giới hạn về thời gian:
+ Đối với những số liệu thứ cấp, đề tài sử dụng kết quả của cuộc điều
tra tiến hành tháng 6/2006;
+ Đối với việc điều tra bằng bảng hỏi, đề tài tiến hành vào tháng
3/2011.
- Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về đời sống của

xã hội
Quá trình
Đô thị hóa
Toàn cầu hóa
Giao lƣu và
Tiếp biến
Văn hóa
Đặc trƣng
Nhân khẩu
xã hội
Đời sống của đồng bào dân tộc Êđê
tại Đăk Lăk
Khía cạnh
Kinh tế
Khía cạnh
phi kinh tế
Cơ sở
hạ
tầng

hội
Nhà ở
tiện
nghi
sinh
hoạt
Mức
sống,
thu
nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status