Tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội tới đời sống của đồng bào dân tộc Êđê - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ – XÃ HỘI TỚI
ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÊĐÊ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK) CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 60 31 30
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ HÀO QUANG
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN MINH TUẤN
HÀ NỘI - 2007
1. Cơ sở hạ tầng 38
2. Mức sống và thu nhập 46
3. Điều kiện sinh hoạt và nhà ở 48
4. Điều kiện giáo dục và y tế 55
5. Sự phân công lao động trong gia đình 60
6. Hoạt động giải trí, lễ hội và sinh hoạt cộng
đồng…63
Chƣơng III. Các nhân tố tác động tới đời sống kinh tế – xã hội của đồng
bào dân tộc Êđê 82
1. Quá trình đô thị hoá 83
2. Nền kinh tế thị trƣờng 103
3. Chính sách xã hội 109
Phần Kết luận và khuyến nghị 118
Tài liệu tham khảo 121
Phụ lục 124

4
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành đƣờng lối đổi mới kinh tế, từ cơ
chế kinh tế nhà nƣớc tập trung sang cơ chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng
xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi ấy đã mang lại nhiều thành quả rực rỡ trong
mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Trong thực tế, quá trình
đổi mới trong 2 thập kỷ qua đã tạo ra một bộ mặt mới cho xã hội Việt
Nam. Các thành tựu to lớn về mặt kinh tế đã khiến cho Việt Nam ngày
càng trở nên thịnh vƣợng. GDP trung bình hàng năm tăng khoảng 7%, tổng
số ngƣời nghèo giảm xuống chỉ còn 8,3% vào năm 2004. Rõ ràng là những
biến đổi văn hoá - xã hội đã tác động rất lớn đến đời sống xã hội Việt Nam
hiện nay. Tuy nhiên, quá trình đổi mới đã đƣa đến những hệ quả khác nhau

chung trong cả nƣớc là 86%). Êđê là dân tộc thiểu số có số lƣợng ngƣời
chiếm tỷ lệ cao nhất tại Đăk Lăk với 13,69% tổng dân số toàn tỉnh và 70%
tổng dân số các dân tộc thiểu số sinh sống tại đây. Sự đa dạng trong thành
phần dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk đã tạo một nền văn hóa phong phú
nhiều bản sắc. Đi liền với sự đa dạng của các thành phần dân tộc đã nảy
sinh rất nhiều vấn đề xã hội đặt ra với việc quản lý của chính quyền địa
phƣơng nói riêng và trung ƣơng nói chung. Việc quản lý một địa bàn với
rất nhiều các dân tộc anh em cùng sinh sống là một điều không thật dễ
dàng đối với các cấp quản lý.
Từ khi đất nƣớc chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng với cơ chế mở
cửa, bà con dân tộc đã đƣợc tạo điều kiện nhiều hơn để phát triển về mọi
mặt từ đời sống vật chất đến tinh thần. Những chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nƣớc đã tạo điều kiện cho bà con đân tộc phát huy đƣợc các
nguồn lực sẵn có và tạo ra những nguồn lực mới. Từ cuộc sống thiếu thốn
cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nay đồng bào dân tộc thiểu số nói
chung và đồng bào dân tộc Êđê ở thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng đã
có thể nghĩ đến những nhu cầu cao hơn phục vụ cho cuộc sống, có những
gia đình đã có thể mua sắm vài chiếc ôtô vừa phục vụ cho sản xuất vừa
phục vụ cho sinh hoạt, những tiện nghi sinh hoạt gia đình nhƣ xe máy, tivi,
tủ lạnh… đã không còn xa lạ đối với bà con dân tộc. Các hộ gia đình đã có
của ăn của để, cuộc sống đã khấm khá lên rất nhiều. Những buôn làng với
hệ thống giao thông thuận tiện, những ngôi nhà tầng khang trang, những

6
cửa hàng, trung tâm mua bán, dịch vụ …đã và đang xuất hiện ngày một
nhiều. Bộ mặt của các buôn làng đang thay đổi từng ngày.
Nói tóm lại, chỉ cần qua những quan sát thông thƣờng chúng ta cũng
có thể nhận thấy đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (cụ thể ở đây là
đồng bào Êđê) ở thành phố Buôn Ma Thuột đang có những thay đổi tích
cực nhờ những chính sách đổi mới mà Đảng và Nhà nƣớc ta đã tiến hành

3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội tới đời sống của đồng bào dân
tộc Êđê trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột – Tỉnh Đăk Lăk.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Các hộ gia đình đồng bào dân tộc Êđê trên địa bàn thành phố Buôn Ma
Thuột – Tỉnh Đăk Lăk.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về không gian:
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 2 buôn làng của đồng bào dân tộc Êđê
trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột – Tỉnh Đăk Lăk, đó là buôn Alê
A - thuộc trung tâm thành phố và buôn Alê B - không thuộc khu trung
tâm (để tiện việc so sánh)
- Giới hạn về thời gian: Đề tài đƣợc tiến hành nghiên cứu từ 2/2006 –
6/2007
- Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tác động của
các nhân tố kinh tế - xã hội tới đời sống của đồng bào dân tộc Êđê
trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột – tỉnh Đăk Lăk. Tuy nhiên,
"các nhân tố kinh tế - xã hội" và "đời sống" đều là những khái niệm
rất rộng, do vậy trong khuôn khổ đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu
3 nhân tố cơ bản của sự biến đổi kinh tế - xã hội là nền kinh tế thị
trƣờng, quá trình đô thị hoá và các chính sách xã hội. Và những khía

8
cạnh trong đời sống chịu sự tác động của biến đổi kinh tế - xã hội
mà luận văn chọn để nghiên cứu là:
 Khía cạnh kinh tế: cơ sở hạ tầng xã hội, tiện nghi sinh hoạt hộ
gia đình, cơ cấu thu nhập và chi tiêu hộ gia đình.
 Khía cạnh phi kinh tế: giáo dục, y tế, sinh hoạt văn hoá tinh
thần (vui chơi giải trí và sinh hoạt tôn giáo).
4. Giả thuyết nghiên cứu

Giáo
dục
Y
tế
Sinh
hoạt
văn hoá
Phân
công


Yếu tố
cạnh
tranh
Phát
triển
các loại
hình
KT
Phát
triển
CSHT
đô thị
Chuyển
dịch cơ
cấu LĐ
Chính
sách
GD, Y
tế

pháp khác nhƣ thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên
cứu, để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn, cũng nhƣ để đối chiếu, so
sánh với những thông tin, số liệu mà đề tài đã thu thập đƣợc. Những số liệu
cơ bản và quan trọng nhất mà đề tài sử dụng để phân tích bổ sung và đối

11
chiếu là Báo cáo Chính trị và Báo cáo Tình hình kinh tế xã hội của phƣờng
Eatam – phƣờng chủ quản của 2 buôn Alê A và Alê B.
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng phƣơng
pháp quan sát để bổ sung thông tin và để đánh giá thái độ, cũng nhƣ tính
trung thực và khách quan của các câu trả lời, nhằm đánh giá tính xác thực
của thông tin thu đƣợc.
6. Kết cấu luận văn
Phần Mở đầu
Phần Nội dung: Gồm 3 chƣơng
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng đời sống của đồng bào dân tộc Êđê trên địa bàn
thành phố Buôn Ma Thuột
Chương 3: Những nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến đời sống của đồng
bào dân tộc Êđê
Phần Kết luận và khuyến nghị 12
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Tiếp cận lý thuyết
1.1 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống đƣợc viết và công bố thành sách năm 1927 của

nó với môi trƣờng. Hệ thống càng mở thì đƣờng biên của nó càng linh
hoạt.
 Luồng: Có thể quan sát mọi hệ thống theo các luồng vật tƣ, năng lƣợng
và thông tin.
 Sự phản hồi: Mọi hệ thống đều có các cơ chế phản hồi để cung cấp
thông tin về sự tiến triển của hệ thống và về sự điều chỉnh cần thiết.
Lý thuyết hệ thống đƣợc áp dụng rất hiệu quả trong quản lý đặc biệt là
việc thiết kế các hệ thống thông tin hay thiết kế ma trận tổ chức.
Dƣới góc độ xã hội học, lý thuyết hệ thống của nhà xã hội học Mỹ nổi
tiếng T. Parsons đƣợc hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng làm cơ sở cho
việc nghiên cứu đời sống xã hội.
Theo Parsons:
 Xã hội là một hệ thống tƣơng đối khép kín và đồng bộ của những hành
động.
 Hệ thống tổng thể cũng giống nhƣ một cá thể, luôn tự bảo tồn.
 Nó hƣớng tới một trạng thái cân bằng.
Nhƣ vậy, hệ thống xã hội đƣợc hình thành nhờ những trạng thái và
quá trình tƣơng tác mang tính xã hội của những cá nhân hành động, đồng
thời dƣợc dựa trên bốn hệ thống phân hệ hành động của con ngƣời (hệ
thống hành vi, hệ thống cá nhân, hệ thống xã hội và hệ thống văn hoá) và
mỗi hệ thống này mang lại hiệu suất, chức năng khác nhau phù hợp với
bốn phân hệ trên, đó là :
 Chức năng thích ứng (Adaptation - kí hiệu là A): cung cấp các phƣơng
tiện và năng lƣợng để thực hiện các mục đích đã xác định. Trong hệ

14
thống xã hội đây chính là tiểu hệ thống kinh tế, thực hiện chức năng
thích ứng của xã hội đối với sự biến đổi của môi trƣờng.
 Chức năng hƣớng đích (Goal attainment - kí hiệu là G): đóng vai trò
xác định các mục tiêu và định hƣớng cho toàn bộ hệ thống vào việc

Mọi xã hội cũng nhƣ tự nhiên không ngừng biến đổi. Sự ổn định của
xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi
trong bản thân nó.
Biến đổi xã hội là mối quan tâm của rất nhiều nhà xã hội học, các
thế hệ các nhà xã hội học khác nhau đã đƣa ra nhiều lý thuyết khác nhau về
biến đổi xã hội, phân tích và lý giải nguyên nhân cũng nhƣ tiên đoán các
loại hình biến đổi xã hội có thể xảy ra.
Quan điểm của các lý thuyết tiến hoá về biến đổi xã hội
Quan điểm tiến hoá về sự phát triển của xã hội còn có thể đƣợc gọi
là quan điểm tiến hoá một chiều (trong tƣơng quan với tiến hoá theo chu
kỳ của các nhà lý thuyết tuần hoàn về biến đổi xã hội). Bắt nguồn từ tiền
đề lý luận là thuyết tiến hoá sinh học của Đác - Uyn, một số nhà xã hội học
đã đƣa ra thuyết tiến hoá về xã hội, họ xem sự biến đổi xã hội là một quá
trình phát triển với các giai đoạn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
với điểm nhấn mạnh là xã hội ở giai đoạn phát triển càng cao thì càng thể
hiện tính ƣu việt của nó.
Đƣợc xếp vào dạng các lý thuyết tiến hoá về sự biến đổi xã hội có
thể kể đến quan điểm của các nhà xã hội học kinh điển nhƣ August Comte,
Herbert Spencer, Karl Marx
Dƣờng nhƣ có vẻ không hợp lý khi xếp Marx vào tập hợp những nhà
lý luận có quan điểm tiến hoá về sự biến đổi xã hội bởi trong hầu hết các
trƣờng phái lý thuyết ngƣời ta vẫn xem Marx là một đại diện tiêu biểu của
thuyết xung đột. Tuy nhiên, nhƣ đã nói, nếu xếp các quan điểm coi tiến
trình phát triển của lịch sử xã hội là một quá trình phát triển từ thấp đến
cao qua các giai đoạn khác nhau thì sự sắp xếp này lại không còn bất hợp

16
lý nữa. Sở dĩ nhƣ vậy là bởi chúng ta biết rằng Marx coi sự biến đổi xã hội
là sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, hình thái sau có sự kế
thừa nhƣng phát triển cao hơn hình thái trƣớc.

năng xã hội, mỗi sự thay đổi trong một bộ phận sẽ dẫn tới sự thay đổi ở các
bộ phận khác và làm cho cả hệ thống xã hội biến đổi.
Thuyết chức năng - cơ cấu ít quan tâm tới sự hình thành xã hội vì nó
tập trung vào các chức năng xã hội, chính vì thế thuyết này cũng quan tâm
nhiều tới sự ổn định xã hội mà không nhấn mạnh các biến đổi và trong
nhiều trƣờng hợp thuyết này chỉ quan tâm tới các biến đổi với nghĩa tiến
triển. Ngƣợc với các nhà lý thuyết xung đột, các nhà lý thuyết chức năng -
cơ cấu không coi xung đột cũng nhƣ biến đổi xã hội là các quá trình tất
nhiên mà là những vấn đề "cần phải giải thích" và sẽ đƣợc giải thích từ
những phát triển phân rã hay sự mất cân bằng của hệ thống xã hội.
Quan điểm của các lý thuyết tuần hoàn về biến đổi xã hội
Trong khi các trƣờng phái lý thuyết khác và rõ nhất là trƣờng phái
tiến hoá coi xã hội phát triển theo một phƣơng, chỉ có tiến lên, thay đổi và
không quay trở lại, trƣờng phái tuần hoàn lại xem sự phát triển xã hội là
một chu trình khép kín với nhiều trạng thái khác nhau theo từng giai đoạn,
xã hội sẽ trải qua các giai đoạn một cách tuần tự và sẽ quay trở lại những
giai đoạn ban đầu theo một vòng tuần hoàn nhất định. Các tác giả tiêu biểu
của trƣờng phái này là Spengler và Toynbee, các ông cho rằng xã hội
không ngừng phát triển và khi tiến đến giai đoạn cuối cùng nó sẽ quay trở
lại giai đoạn đầu, với họ lịch sử đƣợc lặp lại mãi trong những chu kỳ không
kết thúc
Quan điểm của lý thuyết hành vi về biến đổi xã hội

18
Thuyết hành vi không đề cập nhiều đến sự biến đổi xã hội. Theo
thuyết này, biến đổi xã hội đƣợc xem là "sự thay đổi không có định hƣớng
của các chuẩn mực và thể chế" hay là "sự phát triển liên tục, sự tiến hoá".
Thuyết hành vi cũng nhìn nhận sự biến đổi xã hội từ góc độ hành vi cá
nhân, theo đó biến đổi xã hội hình thành qua một quá trình mà bắt đầu là
các cá nhân sau khi hành động và có đƣợc kết quả hành động sẽ nhận thức

động của các nhân tố kinh tế – xã hội.

1.3. Lý thuyết xung đột
Bắt đầu phổ biến vào những năm 1960 nhƣ một sự đối trọng với
trƣờng phái Cấu trúc chức năng, lý thuyết xung đột đƣợc xem là một
trƣờng phái lý thuyết lớn trong xã hội học bắt nguồn từ những quan điểm
của Marx. Các tác giả tiêu biểu của trƣờng phái này là George Simmel,
Vilfredo Pareto, Joseph Schumpeter, Ralf Dahrendorf, Lewis Coser….
Để tìm hiểu thuyết xung đột, chúng ta phải bắt đầu bằng việc nắm
vững khái niệm xung đột. Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, để tránh
việc hiểu nó với phạm vi quá rộng hay quá hẹp, ta có thể hiểu xung đột xã
hội là các quan hệ và quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay
nhiều cá nhân, nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong những cách giải
quyết vấn đề nhất định.
Hạt nhân ban đầu của thuyết xung đột là quan điểm của Marx về
xung đột giai cấp đƣợc Marx phát triển dựa trên sự phân tích xã hội tƣ bản
tự do thế kỷ 19. Theo Marx, xung đột không phải là quá trình hình thành
bên ngoài các cáu trúc xã hội và tác động vào sự phá huỷ nó mà là kết quả
của xã hội và chỉ đƣợc giải thích trong khuôn khổ đó. Với Simmel, xung
đột không chỉ là kết quả không tránh khỏi của các cấu trúc xã hội hay động
cơ cần thiết cho lịch sử mà còn là thành phần cấu thành trung tâm của
chính quá trình xã hội và là đối tƣợng độc lập của phân tích xã hội học.
Thuyết xung đột của Simmel đƣợc xem xét dƣới giác độ cá nhân, không
phải các giai cấp hay xung đột quyền lực chia rẽ toàn xã hội mà chính quan

20
hệ xung đột giữa các cá nhân là trung tâm. Về sau, các tác giả hiện đại
khác nhƣ Joseph Schumpeter, Ralf Dahrendorf, Lewis Coser… đã tiếp tục
phát triển thuyết xung đột với những quan điểm khác nhau. Và sự phát
triển mạnh mẽ của thuyết xung đột gắn với quan điểm của Ralf Dahrendorf

cho rằng biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc của xã hội; cách hiểu
rộng coi biến đổi xã hội là sự thay đổi so sánh với một tình trạng hoặc nếp
sống có trƣớc.
Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu hành vi xã
hội, các quan hệ, thiết chế và các hệ thống phân tầng xã hội đƣợc thay đổi
qua thời gian; mọi sự khác biệt về điều kiện hay các khía cạnh tổ chức, cấu
trúc so sánh giữa hai khoảng thời gian khác nhau đều có thể coi là biến đổi
xã hội.
Tuỳ thuộc vào phạm vi ảnh hƣởng của biến đổi xã hội mà chúng ta
có (1) biến đổi vĩ mô là những biến đổi diễn ra trong một phạm vi rộng
lớn, những biến đổi này diễn ra rất chậm chạp và rất khó nhận thấy; (2)
biến đổi vi mô là những biến đổi nhỏ, nhanh chóng và dễ dàng nhận thấy.
Vì tầm quan trọng của khái niệm biến đổi xã hội, rất nhiều nhà xã
hội học đã quan tâm và đƣa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm
này. Chẳng hạn nhƣ tác giả Lock Wood cho rằng biến đổi xã hội là "sự
thay đổi trong cơ cấu thể chế của một xã hội sao cho ta có thể nói tới một
sự biến đổi về thể loại xã hội"; tác giả Heintz và Peter lại cho biến đổi xã
hội là "toàn bộ các thay đổi xảy ra trong một khoảng thời gian trong một
cơ cấu xã hội"; hay tác giả khác, Zapf, lại xem biến đổi xã hội là "sự lệch
khỏi những trạng thái tƣơng đối ổn định hoặc sự thay đổi các cơ cấu xã
hội" Mặc dù đƣa ra những định nghĩa khác nhau nhƣng các tác giả này
dƣờng nhƣ có vẻ thống nhất ở một điểm đó là nói đến biến đổi xã hội là
nói đến sự thay đổi trong cơ cấu của xã hội đó, biến đổi xã hội không bao
hàm những thay đổi xảy ra thƣờng xuyên, tự nhiên và không gây ra những
tác động đáng kể tới cấu trúc của xã hội (chẳng hạn nhƣ quá trình sinh tử

22
của các thành viên trong xã hội). Trên cơ sở nhƣ vậy, chúng ta có thể coi
biến đổi xã hội là dạng tổng quát nhất của các quá trình xã hội dẫn tới sự
thay đổi, coi biến đổi xã hội là "một thuật ngữ rộng nhất dùng để gọi bất kỳ


23
trình này. theo quan điểm của các nhà xã hội học thì cũng có nhiều định
nghĩa, nhƣ:
J.John Palen, nhà xã hội học ngƣời mỹ đã đƣa ra định nghĩa: “Đô thị
hoá chính là quá trình mà các vùng nông thôn chuyển hoá thành các vùng
đô thị”
Tập thể các nhà khoa học của trƣờng Đại học Tennesee thì cho rằng:
Đó là “Sự tăng lên số lƣợng các vùng đƣợc gọi là thành thị, nhƣ là sự tăng
quy mô dân cƣ sống trong khu vực đô thị”.
Một số nhà khoa học Mỹ đƣa ra khái niệm: “Đô thị hoá là quá trình
một số lƣợng lớn dân cƣ rời khỏi vùng thôn quê và các thị trấn nhỏ để mà
định cƣ ở các thành phố và các vùng phụ cận của chùm đô thị”
Nhà xã hội học nổi tiếng ngƣời Mỹ John Macionis, trong cuốn sách
giáo khoa Sociology xuất bản tại Mỹ năm 1980 đã định nghĩa: “Đô thị hoá
không đơn thuần chỉ là sự thay đổi phân bố dân cƣ trong xã hội mà còn là
sự chuyển hoá (transform) các khuôn mẫu (patterns) của đời sống xã hội”.
Đó chính là sự phổ biến và lan truyền những khuôn mẫu hành vi, lối ứng
xử, lối sống đặc trƣng của ngƣời dân đô thị, hay các quan hệ văn hoá đô thị
tới các vùng nông thôn và trên phạm vi toàn xã hội.
Ở Việt Nam, một số nhà xã hội học cũng cho rằng: Đô thị hoá, đó là
quá trình chuyển đổi từ xã hội tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông
dân) sang xã hội phi tam nông, tức là chuyển đổi hình thức cƣ trú từ những
nơi vốn là nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn với kiểu cƣ trú truyền thống trở
thành nơi cƣ trú mới có đời sống văn minh và quan trọng nhất ở đây là sự
chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp từ những ngƣời nông dân làm nông nghiệp
(chăn nuôi, trồng trọt) sang hoạt động phi nông nghiệp”.
4

2.3. Khái niệm chính sách xã hội.

thông qua, vấn đề kết hợp giữa tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ xã hội mới
đƣợc đặt trong nội dung, phƣơng hƣớng của chính sách xã hội. Cƣơng lĩnh
ghi rõ: "Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con ngƣời là động lực to
lớn phát huy mọi tiềm năng, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội".

5
Văn kiện Đại hội đại biểu toà n quốc lần VI, Nxb sự thật, Hà Nội, !987, tr 86

25
Phƣơng hƣớng lớn của chính sách xã hội là: “Phát huy nhân tố con
ngƣời trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
của công dân, kết hợp tốt tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời
sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trƣớc mắt
với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội. "
6

Tại Đại hội VIII, nhận thức lý luận về kết hợp tăng trƣởng kinh tế và
công bằng xã hội đƣợc xác định rõ trong 5 quan điểm để hoạch định hệ
thống chính sách xã hội, một trong những quan điểm chỉ đạo đó là
“Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo.
Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các
vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cƣ.” Xuất phát từ đó, Đảng và Nhà
nƣớc ta luôn có những chính sách ƣu tiên phát triển đối với các khu vực,
các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn thấp hơn mặt
bằng chung. Đó là một phần trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nƣớc ta.
Chính sách dân tộc:
Là loại chính sách đối với lĩnh vực, đối tƣợng đặc thù của giai cấp
cầm quyền, trong điều kiện quốc gia đa dân tộc. Có ý kiến cho rằng, theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status