Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam - Pdf 10

i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu
sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu
biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.

Người viết cam đoan Nguyễn Quốc Khoa

ii


iii TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trẻ em suy dinh dưỡng đã gây ra 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, không chỉ tác động
xấu đến tình trạng sức khỏe về lâu dài, ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ mà còn tác
động đến sự phát triển chung của quốc gia, khu vực và thế giới.
Đã có nhiều nghiên cứu về trẻ em suy dinh dưỡng trên thế giới. Đa số các nghiên cứu
này tập trung vào các nước đang phát triển. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về suy
dinh dưỡng trẻ em, nhưng đa phần chỉ tập trung vào các vấn đề dinh dưỡng học và dịch tễ học.
Đề tài này tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến tình trạng suy dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam. Các ảnh hưởng này được xét đến ở cấp độ trẻ em, gia
đình, cộng đồng và tác động tương tác giữa hộ gia đình và cộng đồng. Số liệu được sử dụng để
phân tích là số liệu chéo từ Tổng cục thống kê và UNICEF năm 2006. Kết quả phân tích cho
thấy các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em là: trình độ giáo
dục của người mẹ, vị trí của người mẹ trong gia đình, thu nhập của hộ gia đình, khu vực sinh
sống, hệ thống bảo vệ sức khỏe người dân và hạ tầng thông tin. Đề tài cũng chỉ ra xu hướng
suy dinh dưỡng trẻ em theo độ tuổi: Trẻ em lớn hơn 12 tháng tuổi có nguy cơ bị suy dinh
dưỡng cao hơn trẻ em dưới 12 tháng tuổi. Từ 48 tháng tuổi trở đi, tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng
có chiều hướng giảm. Ngoài ra, đề tài còn cho thấy sức khỏe của trẻ cũng chịu tác động của
các đặc tính không đồng nhất không quan sát được ở cấp độ gia đình và cấp độ cộng đồng.
Thông qua những bằng chứng thực nghiệm, đề tài đã đưa ra một số chính sách ở cấp độ
chính phủ, nhằm can thiệp để giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam.
CHƯƠNG 3. DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM 15
3.1. Dữ liệu 15
3.2. Phương pháp phân tích 16
3.3. Mô hình thực nghiệm 18
v 3.4. Các biến trong mô hình 20
3.4.1 Biến phụ thuộc 21
3.4.2 Biến độc lập 21
CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SUY DINH DƯỠNG TRẺ
EM VIỆT NAM 23
4.1. Phân tích đơn biến 23
4.2. Phân tích kết quả hồi quy đa biến 25
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 33
5.1. Kết luận 33
5.2. Gợi ý chính sách 33
5.3. Hướng phát triển 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 43
Phụ lục 1: Bảng tóm tắt biến 43
Phụ lục 2: Bảng thống kê mô tả 44
Phụ lục 3: Chuẩn hóa chỉ số Z. 45
Phụ lục 4: Cách tính chỉ số điểm tài sản (wealth index score) 46
Phụ lục 5: Kiểm định mối liên hệ giữa giới tính của trẻ và SDD ở trẻ 47
Phụ lục 6: Kiểm định mối liên hệ giữa tuổi của trẻ và SDD ở trẻ 48
Phụ lục 7: Kiểm định mối liên hệ giữa tuổi của mẹ khi sinh em bé và SDD ở trẻ 49
Phụ lục 8: Kiểm định mối liên hệ giữa vị trí của người mẹ trong gia đình và SDD ở trẻ 50
Phụ lục 9: Kiểm định mối liên hệ giữa trình độ giáo dục của mẹ và SDD ở trẻ 51
Phụ lục 10: Kiểm định mối liên hệ giữa dân tộc của hộ gia đình và SDD ở trẻ 52

WIS: Chỉ số điểm tài sản.

vii DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tỷ lệ trẻ em SDD trong mẫu khảo sát 15
Bảng 4.1: Kết quả phân tích đơn biến 24
Bảng 4.2: Hồi quy HAZ dùng mô hình fixed effects và random effects 26
Bảng 4.3: Hồi quy WAZ dùng mô hình fixed effects và random effects 27
Bảng 4.4: Tác động tương tác giữa trình độ giáo dục của người mẹ với các yếu tố trong cộng
đồng sử dụng mô hình hồi quy random effecs 31

1 CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU

1.1. Bối cảnh chính sách
Trẻ em suy dinh dưỡng (SDD) đã gây ra 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, tác động xấu
đến tình trạng sức khỏe về lâu dài, ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ và tác động đến sự
phát triển chung của quốc gia, khu vực và thế giới (WHO, 2010).
Tỷ lệ trẻ em SDD tuy đã có chiều hướng giảm trong những năm gần đây nhưng nhìn
chung vẫn còn là vấn đề thách thức và đáng được quan tâm trên thế giới, đặc biệt ở các quốc
gia đang phát triển. Để đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ, giảm tỷ lệ trẻ em SDD là đòi hỏi
cấp bách.
SDD thể thấp còi được coi là chỉ tiêu phản ánh trung thực nhất sự phát triển nói chung ở
trẻ em. Tổ chức Y tế thế giới khẳng định rằng việc mắc các bệnh nhiễm khuẩn và điều kiện
nuôi dưỡng kém là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến SDD thể thấp còi ở trẻ em. Hàng
năm, thế giới có khoảng 186 triệu trẻ em bị SDD thể thấp còi và khoảng 20 triệu trẻ có nguy
cơ dẫn đến SDD cấp (WHO, 2010). Cũng theo báo cáo này, 90% trẻ em SDD thể thấp còi
phân bố ở 36 quốc gia và đa số các em đều dưới 5 tuổi.
Theo báo cáo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2006 của UNICEF
(UNICEF, 2006), SDD có liên quan đến hơn một nửa trường hợp tử vong trẻ em trên toàn thế
giới. Trẻ em bị SDD thường tử vong vì những bệnh thường gặp hơn những trẻ bình thường và
nếu còn sống sót thì thường bị ốm đau triền miên và chậm phát triển. Ba phần tư trẻ em tử
vong vì các lý do có liên quan đến SDD ở mức độ vừa hoặc nhẹ.
Theo mô hình chu kỳ dinh dưỡng – vòng đời của tiểu ban dinh dưỡng Liên hợp quốc
(SCN, 2000), trẻ em thấp còi sau này lớn lên sẽ có chiều cao thấp. Bé gái bị SDD thể thấp còi
khi lớn lên sẽ trở thành phụ nữ thấp còi và khi sinh con thì nguy cơ con bị SDD thể thấp còi là
rất cao. Theo TS Lê Thị Hợp, Viện trưởng Viện dinh dưỡng quốc gia và các đồng nghiệp năm
2010:

Thường xuyên
bệnh tật
Suy giảm khả
năng phát triển
Chậm phát
triển
Suy giảm
chức năng
Năng suất
thấp

3 Các nghiên cứu ở Việt Nam về SDD trẻ em tương đối nhiều, nhưng đa phần chỉ tập
trung vào khía cạnh dinh dưỡng học và dịch tễ học. Số lượng nghiên cứu về nhân trắc học và
các yếu tố kinh tế xã hội tác động đến SDD trẻ em còn khá khiêm tốn và chưa đầy đủ.
Mặc dù được UNICEF đánh giá là một trong những nước có tốc độ giảm SDD nhanh
nhất trên thế giới nhưng Việt Nam vẫn còn nằm trong số những nước có tỷ lệ trẻ em SDD
dưới 5 tuổi cao, dao động theo vùng địa lý và kinh tế. SDD đã làm giảm 5% GDP hàng năm ở
nước ta (Nguyễn Công Khẩn, 2010). Theo thống kê của UNICEF (2009) và World Bank
(2011), tình trạng SDD trẻ em của Việt Nam so với các nước trong khu vực giai đoạn 2000–
2007 được mô tả trong hình 1.2, 1.3, 1.4.
Hình 1.2: Trẻ dưới 5 tuổi SDD thể thấp còi của Việt Nam so với khu vực (2000-2007).

Nguồn: UNICEF (2009) và World Bank (2011).
Togo và Ghana thua kém chúng ta về thu nhập bình quân đầu người nhưng họ đã kiểm
soát tỷ lệ SDD thể thấp còi ở mức thấp hơn chúng ta rất nhiều (Togo: 24%, Ghana: 22%, Việt
Nam: 36%). Và nếu so với các nước đang phát triển gần chúng ta nhất như Thái Lan (12%) và
Trung Quốc (5%) thì Việt Nam còn kém xa (hình 1.2). Điều này phần nào lý giải vì sao hàng


Nguồn: UNICEF (2009) và World Bank (2011).
Tỷ lệ SDD thể còi cọc bình quân giai đoạn 2000-2007 là khoảng 8% (hình 1.4). So với
các nước trong khu vực thì Việt Nam đang kiểm soát tỷ lệ này khá tốt. Tuy nhiên, cần hướng
đến con số mà các nước đang phát triển như Thái Lan đã đạt được (4%), thấp hơn chúng ta
50%.
Hình 1.4: Trẻ dưới 5 tuổi SDD thể còi cọc của Việt Nam so với khu vực (2000-2007).

Nguồn: UNICEF (2009) và World Bank (2011).
Vietnam
Thailand
China
Nepal
Campodia
Togo
Ghana
Mongolia
Phillippines
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
0 500 1000 1500 2000 2500 3000

Nguồn: Viện dinh dưỡng (2011).
Thống kê trên cho thấy tình trạng SDD trẻ em Việt Nam còn đáng lo ngại, đặc biệt là SDD thể
thấp còi và SDD thể nhẹ cân.
Kết quả của việc thực hiện chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010
(Chính Phủ, 2001)
Qua 10 năm thực hiện chiến lược, ý thức của các cấp chính quyền về tầm quan trọng của
dinh dưỡng đã chuyển biến rõ rệt. Giảm tỷ lệ trẻ SDD đã được coi là một trong những mục
tiêu phát triển kinh tế của địa phương. Phong trào tuyên truyền, vận động về ý thức chăm lo
sức khỏe dinh dưỡng đã lan rộng ra các vùng miền. Đã có nhiều nghị định và quyết định được
đưa ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2001-2010, đa số tập
trung vào công tác chăm lo sức khỏe trẻ em như: chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe
sinh sản, nghị định về sản xuất và cung ứng muối iốt cho người dân, chương trình mục tiêu về
vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng trẻ em cũng như
nhiều văn bản liên quan khác. Bên cạnh nỗ lực của nhà nước trong việc thực hiện chiến lược
dinh dưỡng quốc gia còn có sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế như UNICEF, ADB, FAO,
WHO, …
Tuy chiến lược khá hoàn chỉnh nhưng việc thực hiện chưa thực sự hiệu quả. Cụ thể, tỷ lệ
trẻ em SDD thể thấp còi có giảm nhưng vẫn chưa ổn định: từ 34,8% năm 2001 xuống còn
0
10
20
30
40
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
SDD thể nhẹ cân (%) SDD thể thấp còi (%) SDD thể còi cọc (%)
6 29,6% năm 2005 và tăng đột biến lên 35,2% năm 2006 rồi giảm nhẹ về 29,3% năm 2010 (hình
3.4). Tỷ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân có giảm, tuy đã đạt được chỉ tiêu đề ra nhưng vẫn còn cao

1.2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến tình trạng
SDD trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi. Từ đó có những đề xuất chính sách can thiệp phù hợp
nhằm giảm thiểu tình trạng SDD trẻ em bên cạnh các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể
là: 1) xác định khung phân tích và mô hình thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến SDD trẻ
em, 2) xác định các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến tình trạng trẻ em SDD của Việt Nam
sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình quốc gia và bộ số liệu nhân trắc học của
UNICEF năm 2006, 3) Gợi ý chính sách can thiệp nhằm cải thiện tình trạng SDD cho trẻ.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu những yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến SDD trẻ em Việt
Nam. Để cụ thể hơn, ta đặt ra những câu hỏi như sau:
• Những đặc tính nào của trẻ ảnh hưởng đến SDD trẻ em?
• Những yếu tố nào ở hộ gia đình ảnh hưởng đến SDD trẻ em?
• Những yếu tố nào trong cộng đồng ảnh hưởng đến SDD trẻ em?
Cuối cùng, cần có những chính sách gì để giảm thiểu tình trạng SDD này?
1.4. Cấu trúc luận văn
Đề tài gồm 5 chương. Chương 1 giới thiệu bối cảnh chính sách, phạm vi, nội dung
nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, lược khảo các nghiên
cứu trước, và khung phân tích của đề tài. Chương 3 mô tả dữ liệu định lượng, phương pháp
phân tích, mô hình thực nghiệm và các biến trong mô hình. Chương 4 trình bày các kết quả
phân tích định lượng. Chương 5 kết luận và gợi ý chính sách. 8

là giá trị quan sát của trẻ i trong tổng thể khảo sát.
X
r
và σ
r
là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của tổng thể tham chiếu do WHO công
bố.
Từ đó, định nghĩa:
HAZ: là chỉ số Z chiều cao so với tuổi (phản ánh tình trạng SDD thể thấp còi).
WAZ: là chỉ số Z cân nặng so với tuổi (phản ánh tình trạng SDD thể nhẹ cân).
WHZ: là chỉ số Z cân nặng so với chiều cao (phản ánh tình trạng SDD thể còi cọc).
Các chỉ số nhân trắc học này được dùng để đo lường tình trạng dinh dưỡng của trẻ và cũng
được dùng để đo lường tình trạng nghèo đói trong xã hội (Heltberg, 2009).
Theo chuẩn của WHO, chỉ số Z nằm trong khoảng (-∞, -2) thì trẻ em được xác định là
SDD. Trong các chỉ số trên, chỉ số HAZ quan trọng nhất trong chiến lược nâng cao sự phát 1
Phương pháp đo lường sức khỏe dựa vào triệu chứng sinh hóa chỉ có giá trị trong thời gian ngắn và đối với
những trường hợp SDD nặng.
9 triển của thể trạng trẻ trong dài hạn; chỉ số WHZ phản ánh tình trạng sức khỏe của trẻ trong
ngắn hạn; chỉ số WAZ là tổng hợp hai chỉ số trên.
2.2. Cơ sở lý thuyết
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD trẻ em. Theo UNICEF (1998), các yếu
tố ảnh hưởng đến SDD trẻ em có thể được mô hình hóa như sau:
Hình 2.1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến SDD trẻ em của UNICEF.


Nguyên nhân
trực tiếp
Kết quả
Hấp thu dinh
dưỡng kém
Bệnh
Thiếu kiến thức và thái độ
phân biệt đối xử đã hạn chế
hộ gia đình tiếp cận nguồn
lực.
Hệ thống chính trị, văn hóa,
tôn giáo, kinh tế, xã hội, bao
gồm vị trí người phụ nữ, sự
hạn chế trong việc sử dụng
tiềm lực
.

10 cộng đồng, nhưng không xét đến mối tương quan giữa các chủ thể này. Gần đây, có xu hướng
khảo sát thêm mối tương tác giữa hộ gia đình và cộng đồng (quan hệ bổ sung hoặc thay thế);
và tính không đồng nhất ở cấp độ hộ gia đình và cộng đồng.
2.3.1 Đặc tính của trẻ
Giới tính
Một số nghiên cứu cho thấy bé trai bị SDD nhiều hơn bé gái (Sahn, 2002; Christiaensen,
2004; Linnemayr, 2008). Sahn giải thích nguyên nhân của sự khác biệt này khi nghiên cứu ở
Châu Phi là do gen của nữ bền vững hơn nam. Hơn nữa, các gia đình thường đầu tư dinh
dưỡng cho bé gái nhiều hơn bé trai vì họ quan niệm rằng bé gái sẽ đi lấy chồng và ở nhà
chồng nên cần được bù đắp khi còn nhỏ. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho thấy

cùng kết luận như trên. Smith xác định vị trí của người mẹ trong gia đình dựa vào một trong
những thông tin sau: khả năng kiếm tiền; tuổi của người mẹ tại lần cưới đầu tiên; sự chênh
lệch về tuổi giữa cha và mẹ; sự khác nhau về trình độ giáo dục giữa cha và mẹ.
Trình độ giáo dục của người mẹ
Đa số nghiên cứu cho thấy trình độ giáo dục của người mẹ có tác động tích cực đến tình
trạng dinh dưỡng trẻ em, điển hình như các nghiên cứu ở các nước: Brazil (Thomas, 1990),
Pakistan (Alderman, 1994), Jamaica (Handa, 1999). Thông qua nghiên cứu ở Morocco,
Glewwe (1999) cho rằng trình độ giáo dục của người mẹ tác động đến việc chăm sóc sức khỏe
và dinh dưỡng của trẻ thông qua ba con đường. Thứ nhất, giáo dục sẽ giúp cung cấp trực tiếp
kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ trong tương lai. Thứ hai, những kỹ năng như biết
đọc, biết viết, biết tính toán được học ở trường sẽ giúp người mẹ có khả năng chẩn đoán và xử
lý những vấn đề về sức khỏe. Thứ ba, tăng cường sự hiểu biết về xã hội sẽ giúp người mẹ dễ
dàng tiếp nhận được những kiến thức y khoa hiện đại. Nghiên cứu của Christiaensen (2004) ở
Ethiopia cho thấy tác động của trình độ giáo dục của người mẹ lên dinh dưỡng của trẻ mạnh
gấp đôi tác động của người cha. Tuy nhiên, nghiên cứu ở Nicaragoa (David, 2004) lại cho thấy
không có mối quan hệ nào giữa trình độ giáo dục của người mẹ và tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em.
Số thành viên trong gia đình
Thời gian và nguồn lực là có giới hạn. Do vậy, gia đình càng đông thành viên thì khả
năng trẻ bị chi phối trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng càng nhiều và càng dễ dẫn đến SDD
(Alderman, 1994; Linnemayr, 2008). Tuy nhiên, trong nghiên cứu ở Ethiopia, Christiaensen
12 (2004) đã kết luận: gia đình càng đông thành viên thì trẻ càng ít bị SDD do hưởng được lợi thế
về thời gian, kinh nghiệm cũng như lợi thế kinh tế theo quy mô.
Thu nhập của hộ gia đình
Đa số các nghiên cho thấy thu nhập hộ gia đình có tác động tích cực đến tình trạng dinh
dưỡng trẻ em (Alderman, 2006; Shoshana, 2010). Nghiên cứu của Haddad (2003) cho thấy chỉ
riêng thu nhập là chưa đủ để giải quyết vấn đề SDD trẻ em. Hầu hết các nhà nghiên cứu sử

Nghiên cứu của Fotso (2005) đã cho thấy những biến động ngẫu nhiên ở cấp độ cộng đồng có
tác động đến tình trạng sức khỏe trẻ em. Tuy nhiên, Nghiên cứu của Uthman (2009) ở Nigeria
lại cho thấy tác động ngẫu nhiên ở cấp độ cộng đồng lên sức khỏe trẻ em là không có ý nghĩa
thống kê.
2.4. Khung phân tích
Thông qua khung lý thuyết, các bằng chứng thực nghiệm ở trên, khung phân tích của đề
tài sẽ như sau:
Hình 2.2: Khung phân tích.

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu trước.
2.5. Các nghiên cứu về trẻ em SDD có liên quan của Việt Nam
Các nghiên cứu về trẻ em SDD ở Việt Nam còn khá khiếm tốn, đa phần tập trung vào
yếu tố dinh dưỡng và đặc điểm của hộ gia đình:
Nguyễn Công Khẩn (2007) đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến SDD trẻ
em Việt Nam với số liệu điều tra năm 2004. Trong đó, tác giả tập trung chủ yếu đến các đặc
điểm của hộ gia đình như trình độ giáo dục của cha mẹ, số thành viên trong hộ, diện tích canh
tác, …, và đưa ra kết luận: chỉ có trình độ giáo dục của người cha ảnh hưởng đến SDD của trẻ,
Tình trạng dinh
dưỡng của trẻ
(nhân trắc học)
Đặc tính của trẻ
(tuổi, giới tính)
Đặc tính của cộng đồng
(khu vực sống, nước sinh hoạt, hệ
thống vệ sinh, hạ tầng thông tin)
Đặc tính hộ gia đình
(dân tộc, trình độ giáo dục của mẹ, vị trí
của người mẹ trong gia đình, tuổi của mẹ,
số thành viên trong gia đình, thu nhập)
Đặc tính sinh học
15 CHƯƠNG 3. DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ MÔ HÌNH THỰC
NGHIỆM

Chương này sẽ trình bày sự kết nối giữa lý thuyết và phân tích thực nghiệm. Đầu tiên là
thông tin về nguồn dữ liệu sử dụng trong phân tích. Sau đó trình bày phương pháp phân tích,
mô hình thực nghiệm. Và cuối cùng là mô tả các biến sử dụng trong mô hình.
3.1. Dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong phân tích thực nghiệm được lấy từ khảo sát mức sống hộ gia đình
năm 2006 (VHLSS, 2006) của Tổng cục thống kê (GSO), kết hợp với dữ liệu điều tra nhân
trắc học trẻ em dưới 5 tuổi của UNICEF thực hiện năm 2006 theo mẫu điều tra của VHLSS
(2006). VHLSS (2006) cung cấp những thông tin về hộ gia đình như nhân khẩu học, giáo dục,
sức khỏe, việc làm, thu nhập, chi tiêu; và những thông tin ở cấp độ cộng đồng như dân số, tôn
giáo, tín dụng và những thông tin khác. Khảo sát này được thực hiện trong cả nước, bao gồm
45945 hộ gia đình, 3063 địa bàn, và trên 8 vùng. Bộ dữ liệu nhân trắc học của UNICEF cung
cấp thông tin về chiều cao, cân nặng, tuổi, giới tính và từ đó tính ra các chỉ số Z cho trẻ dưới 5
tuổi. Trong phạm vi đề tài, 2035 mẫu được chọn là những hộ gia đình có con dưới 5 tuổi
tương thích giữa hai bộ số liệu. Sự kết hợp số liệu này cho phép phân tích và giải thích sâu
mối quan hệ giữa dinh dưỡng và các yếu tố kinh tế xã hội. Kết quả thống kê mô tả các đặc tính
của trẻ, hộ gia đình và cộng đồng ở phụ lục 2. Mức độ SDD trẻ em trong mẫu khảo sát được

tuổi của Việt Nam thông qua các chỉ số nhân trắc.
Đầu tiên sẽ phân tích đơn biến để xem xét tỷ lệ trẻ em bị SDD với các đặc điểm kinh tế
xã hội. Trong phần này, biến phụ thuộc là các chỉ số nhân trắc học Z được nhị phân hóa: SDD
(chỉ số Z < -2) và không SDD (chỉ số Z ≥ -2). Mô hình phân tích đơn biến là mô hình logistic,
kết hợp với kiểm định Chi-square và Independent sample test. 2
Chỉ số Z được chuẩn hóa theo định nghĩa của WHO (phụ lục 3)

-2.5
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
0_2
3_5
6
_
8
9
_
11

42_44
45_47
48_50
51_53
54
_
56
57
_
59
Chỉ số Z
Tháng tuổi
HAZ
WAZ
WHZ
17 Kế đến, phân tích đa biến với chỉ số nhân trắc học Z (biến liên tục) là biến phụ thuộc của
mô hình và các biến độc lập là tất cả các nhóm biến về trẻ, hộ gia đình và cộng đồng. Biến phụ
thuộc nhân trắc học liên tục cho phép đánh giá tổng quát tình trạng dinh dưỡng của trẻ, giúp
các nhà hoạch định chính sách dự báo về nguy cơ SDD ở trẻ. Mô hình ước lượng là fixed
effects và random effects.
Vì dữ liệu sử dụng phân tích là dữ liệu đa cấp (multilevel): cấp độ trẻ em, cấp độ hộ gia
đình và cấp độ cộng đồng. Trẻ em sống trong những gia đình, những cộng đồng khác nhau có
thể sẽ chịu những tác động khác nhau. Trong phạm vi một cộng đồng, các hộ gia đình và trẻ
em trong hộ gia đình sẽ cùng chịu những tác động từ những yếu tố chung trong cộng đồng đó,
ví dụ như hệ thống hạ tầng giao thông, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trình độ quan lý của cấp
lãnh đạo, và những yếu tố không quan sát được khác.
Chính vì những đặc trưng của bộ dữ liệu như trên, các mẫu dữ liệu có thể không độc lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status