Nghiên cứu khoa học GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA PHẢ DÒNG HỌ PHAN - Pdf 13

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA PHẢ DÒNG HỌ
PHAN VĂN TẠI THÔN TỬ NÊ – XÃ MINH ĐẠO –
HUYỆN TIÊN DU – TỈNH BẮC NINH
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Lê Tuấn Hùng
Sinh viên thực hiện : Phan Thị Thoa
Khóa học : K56 Lưu trữ học và
Quản trị Văn phòng
Hà Nội, 2013
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu đề tài 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
4. Phạm vi nghiên cứu 3
5. Lịch sử nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 5
SƠ LƯỢC VỀ GIA PHẢ Ở VIỆT NAM 5
1.1. Khái niệm gia phả ở Việt Nam 5
1.2. Sự ra đời gia phả ở Việt Nam 5
1.3. Những nội dung cơ bản của gia phả ở Việt Nam 6
Tuy không quan trọng như phần chính phả song phần ngoại phả và phần phu khảo cũng
không thể thiếu trong gia phả. Vì ngoại phả là phần ghi chép việc cúng giỗ, nhà thờ, kỵ điền,
văn khấn, bản đồ khu mộ, danh sách những người đỗ đạt và quan hệ cưới hỏi với các họ…
Còn phần phụ khảo là phần nói về nhân văn, địa lý, làng mạc cùng phong tục tập quán tại
nơi cư trú, sinh sống của dòng tộc 8
1.4. Giá trị, vai trò và ý nghĩa gia phả ở Việt Nam 8

những đặc điểm, truyền thống khác nhau góp phần xây dựng và bảo tồn những
giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Trong khoảng 300 dòng họ lớn nhỏ ở nước ta thì có rất nhiều dòng họ
quyền quý, một trong số đó là dòng họ Phan Văn với bốn chi thuộc hai vùng địa
lý khác nhau. Trong đó, có ba chi định cư ở Phú Thọ là: chi trưởng cụ Phan Văn
Côn, chi thứ hai là cụ Phan Văn Dực và chi thứ tư là cụ Phan Văn Chỉnh. Riêng
chi thứ ba là cụ Phan Văn Tài lại định cư tại Thôn Tử Nê-xã Minh Đạo-huyện
Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh. Mặc dù sống tách biệt với ba chi ở Phú Thọ, tuy nhiên
chi thứ ba thuộc dòng họ Phan Văn luôn có mối quan hệ mật thiết và qua lại,
thăm hỏi với ba chi thuộc Phú Thọ. Không những thế, trong quá trình định cư và
sinh sống lâu dài, dòng họ Phan Văn thuộc thôn Tử Nê–xã Minh Đạo- huyện
Tiên Du–tỉnh Bắc Ninh tức chi thứ ba của dòng họ Phan Văn đã xây dựng nên
biết bao truyền thống quý giá cho xóm làng, cho quê hương đất nước. Đó là
truyền thống: “uống nước nhớ nguồn”, “ tôn sư trọng đạo”, đoàn kết, hiếu học,
yêu quê hương, đất nước và không ngại hy sinh gian khổ để bảo vệ độc lập-tự
do cho dân tộc. Những truyền thống quý giá này đã được lưu giữ và truyền lại từ
đời này sang đời khác thông qua gia phả của dòng họ, qua đó góp phần hình
thành nên những phẩm chất tốt đẹp cho từng cá nhân trong và ngoài dòng tộc.
Gia phả của dòng họ Phan Văn thuộc thuộc thôn Tử Nê–xã Minh Đạo–
huyện Tiên Du–tỉnh Bắc Ninh đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, gắn
bó và cùng trải qua biết bao thăng trầm, biến cố trong lịch sử dòng tộc nói chung
và của đất nước dân tộc ta nói riêng. Gia phả bao gồm, hai bản gia phả gốc bằng
chữ Nho, mười một quyển vở ghi bằng chữ quốc ngữ, trong đó có hai quyển là
bản dịch từ hai quyển gia phả gốc, hai quyển sách bằng chữ Nho của triết gia
Mạnh Tử(theo tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu Hán Nôm thì đây cũng
1
được coi là một bộ phận của gia phả, phục vụ công việc học tập trong gia tộc) và
một bảng phả đồ ghi chép lại lịch sử phát triển mười đời của dòng họ suốt mấy
trăm năm qua và có giá trị hết sức to lớn không chỉ trong dòng họ Phan Văn mà
còn có ý nghĩa không nhỏ đối với các dòng họ khác, với quê hương đất nước.

4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu các vấn đề: lịch sử ra đời, nội dung, ý nghĩa, giá
trị cũng như hiện trạng của gia phả dòng họ Phan Văn thuộc thôn Tử Nê – xã
Minh Đạo – huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh.
5. Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, có khá nhiều tác giả và nghiên cứu quan tâm đến vấn đề gia
phả. Song những nghiên cứu đó chủ yếu đề cập đến: khái niệm, lịch sử hình
thành, cấu trúc, nội dung, ý nghĩa của gia phả và cách lập một cuốn gia phả hoàn
chỉnh. Cụ thể là:
Trong sách Gia phả khảo luận và thực hành của tác giả Dã Lan Nguyễn
Đức Dụ viết năm 1992 đã tập trung nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển, ý
nghĩa của gia phả ở Việt Nam và so sánh với gia phả các nước khác. Tác giả đã
rút ra được khuyết điểm và đề ra một số phương pháp lập gia phả, song chưa đề
cập rõ nét quá trình giữ gìn gia phả ở Việt Nam.
Trong Cách dựng bộ gia phả hoàn chỉnh của tập thể các tác giả: Võ Ngọc
An – Võ Văn Sổ - Phan Kim Dung – Nguyễn Hữu – Trần Kim Xuyến (thuộc
Trung tâm nghiên cứu và thực hành gia phả thành phố Hồ Chí Minh) viết năm
2010 có đề cập đến nội dung và cách dựng một bộ gia phả hoàn chỉnh nhưng
cũng chưa đề cập đến cách bảo quản một bộ gia phả.
Trong Gia phả dòng tộc của Đại Đức Thích Minh Nghiêm viết năm 2009,
mặc dù đã đề cập đến đầy đủ các vấn đề về sự ra đời, nội dung, ý nghĩa, cách
viết phả; đề cập đến một số dòng họ lớn ở Việt Nam; một số truyền thống trong
dòng họ và vai trò của người trưởng họ. Song nó mang tính khái quát và chưa
nêu được biện pháp bảo vệ cũng như phát huy các giá trị của gia phả.
Trong sách Dòng họ Việt Nam của tác giả Đỗ Trọng Am năm 2011, ngoài
đề cập đến khái niệm, bố cục và nêu cách giữ gìn gia phả song chưa cụ thể,
ngoài ra cũng chưa nêu được biện pháp để phát huy giá trị gia phả của dòng họ.
Nhìn chung các nghiên cứu trên chủ yếu tìm hiểu những vấn đề chung của
gia phả, mới tiếp cận ở phạm vi vĩ mô mà chưa tiếp cận ở phạm vi vi mô. Một
số tác giả có tìm hiểu sâu về gia phả của những dòng họ cụ thể song chủ yếu là

trong Cách dựng bộ gia phả hoàn chỉnh xuất bản năm 2010 viết : “Gia phả là
quyển sách, quyển tập ghi chép tên tuổi, ký sự(tiểu sử thu gọn)ghi ngày sinh,
ngày tử, vị trí phần mộ và ngày lập mộ(đã chết) của từng người trong dòng họ
theo thứ tự các đời. Bởi khái niệm này đã bao hàm được hết nội hàm của một
cuốn gia phả dòng họ thông thường, khẳng định gia phả giống như một minh
chứng sống ghi chép lại lịch sử hình thành và phát triển của các thế hệ trong
dòng họ từ đời này sang đời khác.
1.2. Sự ra đời gia phả ở Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu thì gia phả xuất hiện và ra đời đầu tiên ở Trung
Quốc vào khoảng đời nhà Chu với sự xuất hiện của cuốn sách “Thế bản” sau đó
lan ra các nước khác trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, căn cứ vào văn tịch chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú thì gia phả ở nước ta bắt đầu xuất hiện vào thời nhà Lý,
sau khi vua Lý Thái Tổ ra lệnh soạn “Ngọc Điệp”(phả vua) năm 1026. Đến thời
5
nhà Trần xuất hiện thêm “Hồng tông ngọc điệp”, thời nhà Lê có “Hoàng Lê
Ngọc phả”.
Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu lại có một số ý kiến cho rằng gia phả ở
nước ta có thể xuất hiện trước thời nhà Lý mà xuất hiện từ thời Hán thuộc. Ý
kiến này bắt nguồn từ cơ sở, nước ta đã chịu sự đô hộ của phương Bắc từ lâu,
chịu ảnh hưởng của âm mưu đồng hóa của quan lại Trung Quốc lúc bấy giờ,
trong cuốn Việt Nam văn hóa sử đại cương của tác giả Đào Duy Anh năm 1992
viết: “ tổ tiên bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu thời Bắc thuộc mà có lẽ từ
thời Triệu Đà”. Ngoài ra, còn sự kiện đáng chú ý nữa là Lý Tiến(năm 189), Lý
Cẩm(năm 544) là hai người thông minh, am hiểu chữ Hán, đọc nhiều sách chữ
Hán rồi sang Trung Quốc du học và được vua Hán cho giữ chức Thứ sử và có
giao lưu rộng rãi với quan lại nhà Hán. Vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng rất
có thể hai ông đã biết đến vấn đề gia phả của Trung Quốc từ rất sớm và sau khi
về nước đã truyền bá vào Việt Nam trước nhà Lý rất nhiều. Tuy nhiên, do thời
kỳ này nước ta chưa có sử gia, còn các nhà chép sử thì chưa tìm hiểu rõ và cũng

Phần quan trọng nhất, chiếm phần lớn nội dung và được xem như là linh
hồn của một cuốn gia phả đó chính là phần chính phả. Phần chính phả lại bao
gồm ba phần nhỏ là: phả ký, phả hệ và phả đồ.
Phả ký thường là một bài văn thuật tóm tắt hoặc tỉ mỉ tông tích và công
cuộc dựng nghiệp của ông tổ đầu tiên( cao thủy tổ, sơ tiên tổ hoặc khởi tổ) của
một dòng họ hoặc một ông tổ trong nghành(thường là ngành thứ) tách ra đứng
riêng thành một chi khác. Phần này ghi rõ tông tích lịch sử của ông bà tổ từ đời
thứ mấy, ông bà tổ sinh được mấy ngành, ngành nào, phần mộ, giỗ tế…để khẳng
định công lao của ông thủy tổ với dòng họ cũng như xóm làng.
Phả hệ là phần ghi chép tên tuổi danh tính của các thành viên trong gia
tộc từ ông thủy tổ trở xuống cho đến hàng con cháu. Đây là phần được ghi chép
đơn giản không khó khăn như lời nói đầu, bài nói đầu hay phả ký song lại là
phần quan trọng nhất của cuốn gia phả. Bởi thông qua phả hệ ta có thể biết được
các đời, mối liên hệ họ hàng trên dưới, ngang dọc, xa gần giữa các thế hệ con
cháu trong dòng tộc. Mặc dù được ghi chép đơn giản song phả hệ phải tuyệt đối
tuân thủ nguyên tắc: trên dưới, đích thứ, nội ngoại, chép con trai trước con gái
sau, dâu trước rể sau, ngành trưởng trước ngành thứ sau, thứ bậc thê thiếp thì bà
chính thất trước bà thứ thất sau, con bà chính thất trước con bà thứ thất sau. Như
cổ nhân xưa có câu: “ Trước chép tên cụ kỵ, thứ đến ông bà rồi tới cha mẹ và cô
chú(rể), sau cùng mới đến ngành khác”.
Phả đồ là hình vẽ hay sơ đồ mô tả các cá nhân trong nội tộc, những
người thiên chức duy trì nòi giống của dòng họ mình, phả đồ có ghi tên con gái
nhưng không có con của con gái thể hiện tổng thể số lượng thành viên và mối
quan hệ trong gia tộc.
7
Tuy không quan trọng như phần chính phả song phần ngoại phả và phần phu
khảo cũng không thể thiếu trong gia phả. Vì ngoại phả là phần ghi chép việc
cúng giỗ, nhà thờ, kỵ điền, văn khấn, bản đồ khu mộ, danh sách những
người đỗ đạt và quan hệ cưới hỏi với các họ…Còn phần phụ khảo là phần
nói về nhân văn, địa lý, làng mạc cùng phong tục tập quán tại nơi cư trú,

các nhà nghiên cứu tìm hiểu phát hiện ra những ưu khuyết điểm để phát huy
những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong hoạt động giáo dục thực tế của
dòng họ và của đất nước.
Về y tế, con cháu trong gia tộc và chúng ta có thể khai thác các bài thuốc,
các phương pháp chữa bệnh cổ truyền… của các dòng họ có truyền thống làm
nghề y dược để áp dựng vào thực tế cuộc sống.
Về khoa học- công nghệ, các thành viên trong gia tộc có thể khai thác
những sáng tạo về khoa học - công nghệ, chế tạo và sử dụng máy móc thiết
bị….trong những ghi chép trong gia phả của các dòng họ mình để sản xuất máy
móc, trang thiết bi.
Tóm lại, gia phả dòng họ có giá trị hết sức to lớn về mặt lịch sử và thực
tiễn, nó thực sự vô giá và không gì có thể so sánh được. Vì vậy mà nó có ý nghĩa
hết sức quan trọng không chỉ trong gia tộc mà còn có ý nghĩa không nhỏ với quê
hương, đất nước.
Đối với gia tộc:
“Cây có cội, nước có nguồn” là người thì không thể quên đi cội nguồn vì
vậy trước hết gia phả cho con cháu trong gia tộc biết tường tận tông chi nhà
mình và biết được nguồn gốc mình sinh ra ở đâu. Có gốc thì mấy có ngọn, cái
gốc của mỗi con người là rất quan trọng bởi có tổ tông rồi mới có cha mẹ, có cha
mẹ thì mấy có mình. Không nhưng thế nó còn cho các thành viên trong gia tộc
biết vị trí thứ bậc của mình, của cha mẹ, ông bà mình ở đâu trong gia tộc để biết
cách ứng xử, ăn nói cho phù hợp, tránh những chuyện loạn luân có thể xảy ra
trong dòng họ.
Gia phả là một vật thiêng liêng của dòng họ, nó không chỉ ghi chép đầy
đủ các thành viên trong gia tộc mà còn ghi rõ ràng ngày mất của các bậc cha mẹ,
ông bà đã khuất để con cháu chăm lo cúng giỗ ông bà tổ tiên thể hiện đạo đức
uống nước nhớ nguồn của ông cha ta từ ngàn đời xưa đến nay. Để giáo dục con
cháu luôn nhớ về cuội nguồn, về công lao sinh thành và nuôi dưỡng của các bậc
cha mẹ, ông bà mà sống và làm việc cho tốt không phụ công sinh thành, nuôi
dưỡng. Là sự thể hiện truyền thống thờ cúng tổ tiên, một nét văn hóa truyền

gia phả thường có những người học rộng tài cao và hẳn không ít người biết làm
văn, làm thơ bởi vậy thấp thoáng trong các gia phả dòng họ ta có thể bắt gặp các
bài văn, bài thơ có giá trị nghệ thuật cao.
Về phong tục tập quán, gia phả dòng tộc thường ghi chép lại các nếp
sống sinh hoạt, tục ma chay cưới hỏi, lễ hội…của gia tộc hay nói cách khác đó
cũng chính là những phong tục tập quán đặc sắc của quê hương, đất nước giúp
chúng ta hiểu sâu hơn nguồn gốc văn hóa xưa của người Việt.
Về xã hội, hiện nay đang có những chuyển biến về tư tưởng, lối sống, bên
cạnh cái đẹp thì có không ít cái xấu dẫn đến sự xuống cấp và băng hoại về đạo
10
đức của một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên. Vì vậy với nội dung của mình,
gia phả góp phần giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp,những chuẩn
mực, cái chân thiện mỹ của cuộc sống giúp con cháu luôn nhớ về cội nguồn nòi
giống Việt, giáo dục con cháu chăm lo học tập, đoàn kết chống lại sự chia rẽ gia
tộc, dân tộc để đảm bảo cho sự phát triển ổn định lâu dài của gia tộc cũng như
quốc gia.
11
CHƯƠNG 2
GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA GIA PHẢ DÒNG HỌ PHAN VĂN TẠI THÔN TỬ
NÊ- XÃ MINH ĐẠO-HUYỆN TIÊN DU- TỈNH BẮC NINH
2.1. Sự ra đời và nội dung cơ bản của gia phả dòng họ Phan Văn tại thôn
Tử Nê- xã Minh Đạo- huyện Tiên Du-tỉnh Bắc Ninh
2.1.1. Sự ra đời dòng họ Phan Văn
Theo Gia phả dòng họ của Đại Đức Thích Minh Nghiêm năm 2009 thì
dòng họ Phan hiện nay chiếm khoảng 4,5% dân số cả nước với lịch sử phát triển
lâu đời cách ngày nay khoảng 3000 năm, gắn với lịch sử dựng nước và chống
giặc ngoại xâm bảo vệ nòi giống, dòng họ Phan lại bao gồm nhiều họ khác nhau,
trong đó có dòng họ Phan Văn.
Dòng họ Phan Văn là một dòng họ quyền quý với lịch sử phát triển lâu
đời trên 500 năm bao gồm bốn chi thuộc hai vùng địa lý khác nhau. Đứng đầu

Quý. Tức là ra đời vào đời thứ năm, đời cụ Phan Văn Trầm trong khoảng thời
gian từ năm 1849-1914, cách ngày nay khoảng hơn 100 năm. Đánh dấu một
bước phát triển mới trong lịch sử phát triển của dòng họ, góp phần xây dựng và
gìn giữ những giá trị truyền thống của gia tộc, đồng thời tiếp tục khẳng định vị
trí, vị thế của dòng họ Phan Văn tại thôn Tử Nê- xã Minh Đạo- huyện Tiên Du-
tỉnh Bắc Ninh.
2.2.3. Những nội dung cơ bản trong gia phả dòng họ Phan Văn
Gia phả của dòng họ Phan Văn được ghi chép rất cụ thể, chính xác với
nội dung đầy đủ giống như các cuốn gia phả thông thường. Bao gồm: lời tựa, lời
mở đầu, phần chính phả, ngoại phả và phụ khảo.
a. Về lời tựa
Lời tựa ghi trong hai quyển gia phả cổ được ghi bằng chữ Nho của dòng
họ Phan Văn không được chép đầy đủ, chỉ ghi tên dòng họ: “ TỘC PHẢ PHAN
VĂN” mà không ghi địa danh hành chính đương thời. Song lời tựa được ghi
chép gắn gọn, rõ ràng, nổi bật ở mặt đầu tiên trong gia phả.
b. Về lời nói đầu
Trong bản dịch hai quyển gia phả bằng chữ Nho có ghi: “…Gia phả một
nhà cũng như cuốn sử của một nước; việc ghi chép ấy còn gấp hơn nữa, tại sao
vậy? Vì rằng quốc sử mà mất đi thì còn có các vị phó quan còn có dã sử nhờ đó
mà tìm lại được. Nhà mà không có phả thì từ riêng một họ không có gì thể hiện
rõ ra ở trên đời. …Ôi ! có ông bà cha mẹ rồi mới có mình có con cháu, con con
cháu cháu trước sau cùng tồn tại với đất trời thì thủa ban đầu chỉ là từ một con
người thôi vậy. Nếu như không có gia phả thì đối với người xưa từ tên kiêng gọi
khi còn sống tới mồ mả khi người ta mất đều phó cho cõi mờ mịt chẳng mấy mà
13
lâm vào cái điều: “ uống nước mà quên nguồn đó vậy!”. Không có gia phả thì
đời sau chia ra làm các chi, phải lúc gặp các việc hiếu, hỷ không biết dựa vào
đâu, cơ hồ phải đến nhìn nhau như người đi đường vậy thôi …. Dòng họ Phan ta
vốn ở xã Tử Nê, tổng Chi Nê, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tới nay gần năm
trăm năm. Đắp bồi cơ nghiệp; giữ khuôn phép cần kiệm làm ăn, trong nhà hòa

Theo gia phả dòng họ Phan Văn tại thôn Tử Nê - xã Minh Đạo - huyện
Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh thì khởi thủy của dòng họ là cụ ông Phan Quý công tự
Phúc Tài(một trong bốn người con của cụ ông Phan Trung Mẫn và cụ bà Đoàn
Thị Từ Tuy) và cụ bà Đoàn quý thị hiệu từ Hiền. Phần phả ký được viết tóm tắt,
ngắn gọn nhưng đã cho con cháu biết được nguồn gốc xuất xứ, cũng như quan
hệ họ hàng với ba chi Phan Văn ở Phú Thọ. Song nó chưa thể hiện được công
cuộc xây dựng, đóng góp công lao của cụ Phan Văn Tài với dòng họ cũng như
quê hương, đất nước (phụ lục 2.1).
Phần phả hệ
Phần phả hệ của dòng họ Phan Văn ghi chép lại lịch sử phát triển mười
đời trên năm trăm năm của dòng họ. Theo gia phả, khởi thủy của dòng họ là cụ
Phan Văn Tài và cụ bà Đoàn Thị Hiền; cao tổ khảo là cụ ông Phan Văn Lộc và
cụ bà Trần Thị Chinh; tằng tổ khảo là cụ ông Phan Văn Lương và cụ bà Đoàn
Thị Tường; hiền tổ là cụ ông Phan Văn Hòa và cụ bà Trần Thị Bích(chính
thất),cụ bà Nguyễn Thị Nhớn(thứ thất). Đến đời thứ năm của dòng họ thì phân
chia thành nhiều chi nhỏ khác nhau và được viết tiếp chi tiết từ đời này sang đời
khác đến tận ngày nay, tổng cộng cũng đã được mười đời.
Qua gia phả, thấy phần phả hệ được ghi chép đầy đủ, tóm tắt lịch sử phát
triển mười đời của dòng họ, cùng với những hoạt động tiêu biểu của các thành
viên trong gia tộc. Song do thiếu tư liệu nên từ cụ đệ nhất thể tổ đến cụ đệ tứ thế
tổ thì chỉ ghi tên của các cụ ông, cụ bà, ngày mất, riêng hai cụ đệ tam và đệ tứ có
thêm nơi an táng chứ chưa ghi rõ được tính cách, phẩm chất cũng như các hoạt
động tiêu biểu của các cụ. Mà phải bắt đầu đến đời các cụ đệ ngũ thế tổ trở
xuống mấy ghi chép khá đầy đủ chi tiết về các nội dung này.
Phả hệ trong gia phả dòng họ Phan Văn được ghi chép đơn giản không
cầu kỳ trong từng câu chữ, có sự phân biệt rõ ràng vai vế cũng như đặc điểm của
các cá nhân với nhau và được tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc ghi chép của gia
phả: trên dưới – đích thứ, nội ngoại, dâu trước rể sau, trưởng trước thứ sau, bà
chính thất trước – bà thứ thất sau và con bà chính thất trước - con bà thứ thất sau
(phụ lục 2.2).

khác nhau, tập hợp lại đã phản ánh lịch sử phát triển hơn chục năm qua của dòng
họ Phan Văn (phụ lục 2.3).
Quy chế dòng họ
Trong gia phả dòng họ Phan Văn có ghi chép truyền thống kỷ cương dòng
họ xưa và nay. Cụ thể là: “…Về kỷ cương phép tắc : “ Lấy cần kiệm để duy trì
bồi đăp sự nghiệp, lấy kỉ cương, lễ độ, ôn hòa, trí tuệ để trị nhà, yên vui trong
họ, lấy thuần thục, chất phát, nhân ái, trung hậu, kiên quyết để đối nhân xử thế
gấp đắp cơ sở mãi mãi tới ngày nay’…là tấm gương, là phương châm hành
động, chúng ta là bậc con cháu kế tiếp phải trân trọng, lấy đó là hình mẫu để soi
và làm theo. Để vận dụng với những đổi thay của xã hội, sự phát triển của dòng
họ, tô thắm thêm kỷ cương phép nước của tổ tiên, chúng ta già, trẻ, dâu cũng
như gái, trai phải có trách nhiệm vun đắp cho dòng tộc mà làm theo những quy
định sau đây:
1- Phải đoàn kết chặt chẽ với nhau ở từng nhà, cả dòng họ.
2- Sống có kỷ cương, phép tắc lễ độ, tôn trọng lẫn nhau để giữ trọn tình nhà
phép họ.
3- Giúp đỡ chăm sóc nhau lúc ốm đau, khi có công to việc lớn.
4- Kiên quyết, khôn khéo, văn minh, lịch sự với xã hội để giữ gìn truyền
thống và thanh danh dòng họ.
5- Bảo vệ, đùm bọc lẫn nhau khi khó khăn, hoạn nạn, coi nghĩa tình lớn hơn
tất cả.
17
6- Đảm bảo cho cộng đồng dòng họ yên vui,vững mạnh, văn minh, hạnh
phúc, từng gia đình, từng người trong họ phải:
a, Các con, các cháu phải kính trọng ông bà cha mẹ, phụng dưỡng chu đáo
ông bà, cha mẹ khi trở về già, lúc ốm đau.
b, Bố mẹ thương yêu, nuôi dậy con cái chu đáo khi chưa đến tuổi trưởng
thành.
c, Anh em phải thương yêu kính trọng đùm bọc lẫn nhau, trên kính dưới
nhường, trên bảo phải dưới phải nghe.

dòng họ; nhiệm vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, ông bà, cha mẹ với con
cái, anh chị em trong nhà; trách nhiệm chấp hành quy chế của dòng họ cũng như
quy định của Nhà nước; hoạt động tổ chức, điều hành, quản lý và lập kế
hoạch…của dòng họ.
Về mồ mả tổ tiên
Bên cạnh những hoạt động thờ cũng tổ tiên hàng năm thì trong gia phả
của dòng họ còn ghi chép rõ ràng, cụ thể, đầy đủ các nội dung về mục đích, yêu
cầu, tổ chức, lập kế hoạch, quá trình triển khai và kết quả kế hoạch di chuyển
các phần mộ của các gia đình trong dòng họ vào mộ khu mộ chung. (phụ lục
2.4)
19
Hình 2.2: Khu mộ dòng họ Phan Văn
Về mối quan hệ với ba chi Phan Văn ở Phú Thọ
Mặc dù sống ở hai vùng địa lý khác nhau song ba chi Phan Văn ở Phú
Thọ và chi Phan Văn ở Tử Nê luôn nhớ về nguồn gốc tổ tiên và mối quan hệ anh
em với nhau. Nó được thể hiện trong gia phả của dòng họ Phan Văn ở thôn Tử
Nê: “…Hôm nay, ngày 2-7 Nhân Thân, đại diện các gia đình họ Phan văn đang
cư trú, làm ăn sinh sống nơi chôn rau, cắt rốn, quần tụ tại nhà Phan văn Tỉnh
trưởng tộc của một chi họ Phan văn để tưởng niệm ngày cụ đệ ngũ thế tổ Phan
quý công tự Phúc Hòa đi vào cõi vĩnh hằng.
Cũng giờ phút thiêng liêng này, chi họ Phan ở cội nguồn xúc động, vui
mừng sự có mặt Bác Phan văn Chung, cháu Phan văn Thanh thuộc chi Phan Văn
đang sinh sống tại Thanh Đình. Chú Phan văn Cộ, cháu Phan thanh Bình, Phan
văn Chung thuộc chi họ Phan Văn đang sinh sống tại Trù Mật tỉnh Phú Thọ có
chút lễ mọn tưởng niệm cụ đệ ngũ thế tổ Phan quý công tự Phúc Hòa. Cây có
gốc, nước có nguồn, những con người dù ở đâu, xa xôi cách trở ngàn trùng nếu
có nhân văn cùng hướng về cội nguồn…”
Về khuyến học, khuyến tài
Dòng họ Phan Văn là một dòng họ rất quan tâm đến bồi đắp nhân tài cho
gia tộc cũng như cho quê hương đất nước, điều đó được thể hiện cụ thể trong

Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa III. Và ông Phạm Gia
Khánh, nguyên là trung tướng, giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, giám đốc Học
viện quân y Việt Nam(Vì ông Phạm Gia Khánh và ông Phạm Gia Khiêm là cháu
ngoại của cụ Phan Thị Vồ, con gái lớn của cụ ông Phan Văn Trầm và cụ bà Lê
Thị Nhường thuộc đời thứ sáu của dòng họ Phan Văn).
Theo hướng dẫn số 01- HDTW ngày 05/01/2012 của BCHTW đối với
người vào Đảng yêu cầu cần phải thẩm tra lý lịch không chỉ người vào Đảng mà
còn phải thẩm tra cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ(chồng) hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng
bản thân; vợ hoặc chồng, con đẻ của người vào Đảng có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ.
Như vậy, mặc dù không có giá trị cao về mặt chính trị song gia phả dòng
họ Phan Văn đã đóng góp một phần nhỏ, là cơ sở để làm hồ sơ giấy tờ trong
hoạt động học tâp và công tác để con cháu trong gia tộc có thể được tuyển
dụng, khen thưởng và bổ nhiệm vào các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính
trị- xã hội…
2.2.2. Về kinh tế
Trong gia phả của dòng họ Phan Văn có ghi chép một số vấn đề có liên
quan đến thừa kế tài sản, về chi tiêu đóng góp, ủng hộ của các thành viên trong
gia tộc đối với các hoạt động giỗ họ; khuyến học, khuyến tài; ma chay cưới hỏi;
xây dựng mồ mả, thờ cúng ông bà tổ tiên, khuyên góp hay trợ giúp những gia
đình khó khăn…Những ghi chép này mặc dù không có giá trị cao đối với quê
21
hương, đất nước song nó có giá trị không nhỏ đối với gia tộc. Giúp cho hoạt
động đóng góp và chi tiêu tài chính trong dòng họ Phan Văn được minh bạch,
rõ ràng tránh những sung đột tranh chấp hay mất mát tài sản, tiền bạc của cải
của dòng họ; góp phần cải thiện đời sống vật chất của các gia đình trong dòng
họ giúp dòng họ ngày càng phát triển không ngừng không chỉ về số lượng mà
còn cả về chất lượng.
2.2.3. Về văn hóa- xã hội
Gia phả dòng họ Phan Văn có giá trị cao về văn hóa- xã hội. Cụ thể là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status