Báo cáo nghiên cứu khoa học " BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN THỦY SẢN VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUI HOẠCH SẮP XẾP LẠI NÒ SÁO KHU VỰC SAM CHUỒN HỆ ĐẦM PHÁ TAM GIANG, TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ " potx - Pdf 14


99BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN
THỦY SẢN VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
TRONG QUI HOẠCH SẮP XẾP LẠI NÒ SÁO KHU VỰC SAM CHUỒN
HỆ ĐẦM PHÁ TAM GIANG, TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
Lê Thị Nam Thuận
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Mở đầu
Khu vực đầm Sam Chuồn, huyện Phú Vang là vùng quan trọng trong hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế. Diện tích đầm ước khoảng
2365 ha chiếm khoảng 34,6% diện tích đầm phá của huyện và liên quan chặt chẽ
đến các xã Phú An, Phú Xuân, Phú Mỹ cũng như vùng mặt nước của thị trấn
Thuận An [11]. Đây cũng là vùng có mật độ ao vây lưới và ao đất phát triển dày
đặc cản trở sự thông thoáng môi trường nước, luồng di chuyển của thủy sản, ô
nhiễm môi trường, suy giảm thảm rong cỏ thủy sinh và nguồn lợi thủy sản,
Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực này đối với sự phát triển và bảo
tồn nguồn lợi thủy sản đầm phá, trong tổng thể quy hoạch đầm phá đến năm
2010 của tỉnh Thừa Thiên - Huế, vùng Sam Chuồn đã và đang triển khai các hoạt
động đầu tiên là mở rộng luồng lạch (thường gọi là thủy đạo - TĐ) và sắp xếp lại
nò sáo dày đặc trên đầm, đưa hoạt động sản xuất thủy sản vào trật tự mới có lợi
cho bảo vệ nguồn lợi thủy sản và sinh thái - môi trường lâu dài. Trong quá trình
vận động triển khai rất cần thiết vai trò tự quản của cộng đồng, sự ủng hộ, tự
nguyện của người dân, sự tuyên truyền vận động kiên trì và phải đối mặt với

100
liên quan; nghề dịch vụ cũng dựa vào hoạt động này để tồn tại và phát triển. Mỗi
hộ thường tiến hành nhiều nghề để tăng thu nhập. Điều đáng lưu ý là số hộ có ao
vây lưới trên mặt nước đầm phá (hợp pháp và bất hợp pháp) chiếm tỷ lệ khá cao
với 57,66% tổng số hộ các thôn nghiên cứu.
Thống kê này cũng dự báo một thực tế là việc sắp xếp lại nò sáo trên vùng
Sam Chuồn sẽ gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng quyết định đến sinh kế trước
mắt và hàng ngày của người dân. Đồng thời sự tham gia của người dân trong tất
cả các bước thực hiện của hoạt động này là yếu tố quan trọng và quyết định hiệu
quả ổn định của việc sắp xếp lại nò sáo từng bước tiến đến loại bỏ ao vây lưới
theo quy hoạch chung của Tỉnh.
Bảng 1: Một số thông tin về các cộng đồng khu vực đầm Sam Chuồn
Thôn
Tổn
g số
hộ
Số hộ
sản xuất
thủy
sản
Số hộ
khai
thác
thủy
sản
Số hộ
làm ao
đất
Số hộ
làm ao
vây lưới


770
686
(89,09
%)
625
(81,16
%)
86
(11,17
%)
444
(57,66
%)
125
(16,23
%)
84
(10,91
%)
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2005
2.2 Tính cấp thiết của hoạt động mở rộng thủy đạo và sắp xếp lại nò
sáo khu vực đầm Sam Chuồn:
Theo báo cáo “Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng đầm phá
ven biển Thừa Thiên - Huế thời kỳ 2001 - 2010” của UBND Tỉnh, diện tích nuôi
quảng canh chắn sáo tập trung phần lớn vùng đầm Sam Chuồn. Do phát triển

103
Nghĩ (1991)
[4]
Trước cơn lũ
năm 1999 (cho
toàn đầm phá)

1041998
(V -
XII)
2,00 -
28,60
7,44 -
8,25
21,70 -
33,40
Nguyễn Văn
Hợp và cs
(1999) [2]
-
XII/99-
IX/200
0
2,00 -
29,50
6,50 -
8,50
-

Cửa biển Hòa
Duân đã san
lấp (toàn đầm
phá và vùng
Thuận An)
Theo kết quả ở bảng 2, các yếu tố độ mặn, pH và nhiệt độ nước vùng đầm
phá có xu hướng tăng cao hơn năm 1998 là thời gian trước cơn lũ 1999. Hoạt
động nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã làm tăng ô nhiễm hữu cơ trong các ao nuôi
tôm do hàm lượng COD và BOD trong các ao nuôi trên phá tăng, đặc biệt vào
mùa khô. Mặt khác, hàm lượng DO giảm vào mùa khô sẽ ảnh hưởng xấu đến
nguồn lợi sinh học đầm phá và hiệu quả NTTS [3]. Kết quả nghiên cứu từ nhiều

105công trình cho thấy sản lượng khai thác thủy sản/ngư cụ có xu hướng giảm so với
trước đây (1975): sản lượng nghề sáo chỉ đạt 3 - 5kg so với 20 - 25kg trước đây
và hiện nay chỉ đạt 2,0 - 2,5kg/ngày đêm [5]. Kích thước tôm cá khai thác nhỏ,
hiệu quả kinh tế không cao. Đặc biệt nguồn cua bố mẹ và cua giống (Scylla
serrata) và tôm bạc (Penaeus merguensis) hầu như rất ít gặp. Nguyên nhân của
thực tế là do phát triển NTTS ven và trên phá đã làm hẹp vùng phân bố tự nhiên
của thủy sản, gây suy thoái và biến mất các vùng rong cỏ thủy sinh - nơi cư trú,
sinh sống của các nguồn giống thủy sản. Các hoạt động khai thác rong, cào lươn,
dậm trìa, có tác động nghiêm trọng và làm suy thoái rong cỏ thủy sinh, đặc biệt
vùng cửa sông Ô Lâu [9]. Nguy cơ dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học và nguồn
lợi đầm phá đang thực sự đe dọa. Trong khu vực đầm Sam Chuồn hiện trạng này
càng nghiêm trọng hơn do việc phát triển ao vây ồ ạt, ao đất nuôi tôm hạ triều,
trung triều và cao triều chưa tuân thủ đúng quy trình nuôi bảo vệ môi trường.
2.3 Vai trò của cộng đồng trong quá trình thực hiện quy hoạch sắp
xếp lại ao vây lưới trên khu vực Sam Chuồn

chưa có tổ chức tốt trong khai thác và NTTS.
- Nhiều khó khăn trong NTTS, nhiều ao đất, nghề
hèn và bệnh tôm.
1. Ô nhiễm môi
trường
2. Nghề hèn (tôm
cá ít)
4. Mặt nước khai
thác thu hẹp do
quá nhiều ao vây
ví, thiếu quy
hoạch và quản lý
5. Khai thác hủy
diệt (xiếc điện, te,
quệu máy)
6. Dân số tăng
nhanh
7. Dịch bệnh tôm,
thất thu lớn

107Thôn
Thủy
Diện
(Phú
Xuân)
- Dịch bệnh tôm, thất thu liên tiếp
- Nước thải từ ao nuôi cao triều, quy hoạh không

vệ môi trường bền
vững

Nguồn: Kết quả điều tra 2005

108 Nghiên cứu ở bảng 1 cho thấy có 57,66% hộ dân có ao vây lưới và
16,23% hộ khai thác tự nhiên (không có ao vây lưới - tiểu nghệ) trên mặt nước
khu vực đầm Sam Chuồn. Do vậy quá trình thực hiện sắp xếp lại nò sáo theo quy
hoạch liên quan đến đời sống của nhóm dân cư này, đặc biệt là nhóm ao vây lưới.
Kết quả thảo luận nhóm và hội thảo cấp xã cho thấy nhận thức của cộng đồng rất
ủng hộ chủ trương của Tỉnh nhưng bên cạnh cũng có nhiều băn khoăn về sinh kế
(bảng 3).
Từ các vấn đề được thảo luận nêu trên cho thấy việc thực hiện mở rộng
thủy đạo và sắp xếp lại nò sáo là hết sức cấp thiết để giải quyết những vấn đề liên
quan chung giữa các cộng đồng vùng Sam Chuồn. Quá trình thực hiện sắp xếp
được chính quyền các xã triển khai với một Ban Quy hoạch chuyên trách được tổ
chức từ cấp xã đến Sở, hoạt động có định hướng, kế hoạch và định kỳ giao ban
báo cáo kết quả từ giữa năm 2004 đến nay. Quy trình sắp xếp được các xã thực
hiện theo các bước:
1. Họp dân thông báo chủ trương sắp xếp lại nò sáo (lần 1); 2. Giao thời gian để
bà con thực hiện; 3. Họp dân lần 2; 4. Giao thời gian lần 2; 5. Hoạt động phối
hợp vận động tuyên truyền của các đoàn thể (Phụ nữ, Đoàn thanh niên) và Mặt
trận; 6. Vận động gia đình có văn bản cam kết thực hiện tự giác tháo dỡ nò sáo
vây ví trái phép; 7. Thông báo thời gian (ngày) đoàn làm việc liên ngành kiểm tra
và cưỡng chế thực hiện tháo dỡ nò sáo vây ví trái phép; 8. Thực hiện kiểm tra và
cưỡng chế tháo dỡ
Có thể thấy ở quy trình trên, các xã đang thực hiện chủ trương mở rộng

tái chiếm mặt nước sau khi giải tỏa sắp xếp (Trưởng thôn chủ trì hoặc Cụm
trưởng)

1105. Thống nhất các tiêu chí xác định giữa chính quyền và cộng đồng (Xã
chủ trì)
6. Giao thời gian lần 2 (Xã chủ trì);
7. Hoạt động phối hợp vận động tuyên truyền của các đoàn thể (Phụ nữ,
Đoàn thanh niên) và Mặt trận (Xã chủ trì);
8. Vận động gia đình có văn bản cam kết thực hiện tự giác tháo dỡ nò sáo
vây ví trái phép và không tái chiếm mặt nước (Hộ gia đình thực hiện);
9. Thông báo thời gian (ngày) đoàn làm việc liên ngành kiểm tra và cưỡng
chế thực hiện tháo dỡ nò sáo vây ví trái phép (Xã chủ trì);
10. Thực hiện kiểm tra và cưỡng chế tháo dỡ (Xã chủ trì)
11. Tổ (nhóm) tự quản tổ chức cộng đồng tự quản lý vùng mặt nước tự
nhiên theo quy chế cộng đồng đã thảo luận ở bước 5 (Cộng đồng chủ trì).
Với quy trình này, chúng tôi đang từng bước thực hiện ở các thôn đã chọn
thuộc vùng Sam Chuồn trong vai trò cầu nối giữa chính quyền và cộng đồng để
thực hiện có hiệu quả chủ trương mà Tỉnh đã đề ra. Theo các bước thực hiện nêu
trên cho thấy cần phải kiên trì vận động, lồng ghép giải thích giáo dục môi
trường, bảo vệ tài nguyên để tăng cường chuyển biến nhận thức cho cộng đồng.
Được như vậy quá trình sắp xếp lại nò sáo mới đạt hiệu quả cao và ổn định, các
xáo trộn về tình hình kinh tế xã hội của địa phương sẽ hạn chế ở mức thấp nhất.
Đồng thời kết hợp hài hòa các phương thức tổ chức thực hiện và quản lý những
chủ trương chính sách lớn về phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh đúng với phương
châm “Dân biết - Dân bàn - Dân kiểm tra” theo hai chiều “Từ trên xuống” và
“Từ dưới lên”.


Quy
hoạch
Số
hộ
dân
liên
qua
n
20 -
30
50 75 100
Ghi chú
Phú An

10
50 -
60
80 87 - - - 87
Thôn Định
cư với
130/200 ha
mặt nước
của xã
Phú
Xuân
10 -
20
30 -
40
80 130 54 -60

146
19 5 108

Nguồn: Kết quả điều tra năm 2005
Từ bảng trên cho thấy việc sắp xếp lại nò sáo đang được các xã vùng Sam
- Chuồn thực hiện từng bước, trong đó Phú An và Phú Mỹ có lộ trình gần với quy
hoạch chung của Huyện và Tỉnh. Triển khai chủ trương quy hoạch đã có liên
quan với khoảng 416 hộ dân với các mức ảnh hưởng khác nhau từ 20 - 30% đến
100%. Thực tế này càng cho thấy tính chất phức tạp của quá trình thực hiện, các
khó khăn mà chính quyền địa phương gặp phải và tính cấp thiết có sự tham gia
của cộng đồng để đảm bảo tính ổn định, bền vững trong quản lý và bảo vệ nguồn
lợi vùng Sam - Chuồn nói riêng cũng như toàn hệ đầm phá nói chung.
3. Kết luận và một số đề xuất:
Từ thực tế nghiên cứu kết hợp với tình hình địa phương và nguyện vọng
của cộng đồng, chúng tôi có một số kết luận và đề xuất sau:
- Trong điều kiện thực tế của vùng Sam Chuồn, quá trình quy hoạch cần
có sự tham gia của cộng đồng, tăng cường sự gắn kết và hiểu biết giữa chính
quyền với cộng đồng trong sự nghiệp chung bảo vệ tài nguyên thủy sản và môi
trường đầm phá.

114 - Nghiên cứu quán triệt và triển khai hiệu quả một số hướng chính sách
bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và khai thác thủy sản của Bộ Thủy sản [6].
- Tăng cường tiếp cận cộng đồng theo quy trình 11 bước đã nêu, nâng cao
vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản bền vững.

- Triển khai đồng bộ trên cả 4 xã - thị trấn liên quan về thời gian thực
hiện, về quy định chiều rộng đường thủy đạo, đặc biệt vùng Thuận An, tỷ lệ vùng

Giang Lagoon. Published by CoRR-CIDA-IDRC. Thế Giới Publishers,
Hà Nội (2002).
8. Lê Thị Nam Thuận. Kết quả bước đầu về mối liên hệ của một số yếu tố
sinh thái - môi trường với sự xuất hiện các loài thủy sản vùng Thuận
An, hệ đầm phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tóm tắt Báo cáo
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Nuôi Trồng Thủy Sản lần thứ II - Bắc
Ninh, 11/2003, tr 123 (2003).
9. Lê Thị Nam Thuận. Về sự thay đổi môi trường và nguồn lợi thủy sản
hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Tạp chí Thủy sản. Số 12/2004, tr.
19-21 (2004).
10. Ủy ban ND tỉnh Thừa Thiên - Huế & Sở Thủy Sản. Báo cáo tổng hợp
Quy hoạch quản lý khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên - Huế.
Huế, tháng 12/2003 (2003)

11611. Ủy ban ND huyện Phú Vang. Chỉ thị của UBND Huyện v/v tăng
cường chỉ đạo sắp xếp, giải tỏa nò sáo, quản lý khai thác và nuôi trồng
thủy sản trên đầm phá (2004).

117CONSERVATION AND DEVELOPMENT OF AQUATIC RESOURCE
WITH THE PARTICIPATION OF COMMUNITY IN THE PLANNING
NET ENCLOSE REORGNIZATION IN SAM CHUON AREA
BELONGING
TO TAM GIANG LAGOON, THUA THIEN HUE PROVINCE
Le Thi Nam Thuan

I. Vùng nuôi nò sáo chưa quy hoạch

Phú Tân - Thuận An
Phú An
II. Vùng nuôi nò sáo quy hoạch
Phú Tân - Thuận An


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status