Nghiên cứu cơ sở khoa học lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai - Pdf 25

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Ngô Văn Vinh
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tác giả đã nhận được sự hỗ trợ và
giúp đỡ của Ban Chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng, Tổ Sau Đại học của
Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam cơ sở 2 và các quý Thầy, Cô đã tận tình
giảng dạy trong suốt chương trình đào tạo thạc sỹ.
Đặc biệt tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS. Nguyễn Thị Bảo Lâm
đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân
Lộc tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập số
liệu để hoàn thành tốt hơn đề tài tốt nghiệp.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng nghiệp, cảm ơn
sự động viên chia sẻ của gia đình và bạn bè gần xa.
Đồng Nai, ngày 12 tháng 04 năm 2012
Tác giả: Ngô Văn Vinh
iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vi
Danh sách các bảng vii
Danh sách các hình viii

3.1.1. Vị trí địa lý – kinh tế 22
3.1.2. Tài nguyên khí hậu 23
3.1.3. Tài nguyên đất đai 23
3.1.3.1. Về phân loại đất 23
3.1.3.2. Đặc điểm 26
3.1.4. Tài nguyên nước 28
3.1.5. Tài nguyên rừng 29
3.2.6. Thực trạng về môi trường 30
3.2. Nguồn lực kinh tế - xã hội khu vực BQLR phòng hộ Xuân Lộc 30
3.2.1. Đặc điểm dân cư 30
3.2.2. Sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi 31
3.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng 32
Chương 4 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1. Cở sở lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ
Xuân Lộc 35
4.1.1. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 35
4.1.1.1. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 35
4.1.1.2. Các hình thức sử dụng đất 38
4.1.1.3. Thực trạng công tác quy hoạch đất lâm nghiệp 40
4.1.1.4. Công tác giao khoán đất lâm nghiệp 41
4.1.1.5. Hiện trạng tổ chức quản lý đất lâm nghiệp 42
4.1.2. Đánh giá kết quả thực hiện công tác bảo vệ, phát triển rừng 42
4.1.2.1. Công tác bảo vệ rừng 42
4.1.2.2. Công tác trồng rừng 43
4.1.2.3. Khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên 44
v
4.1.2.4. Khai thác rừng trồng và lâm sản phụ 45
4.1.3. Đánh giá chung 46
4.1.3.1. Những thuận lợi 46

4.2.8. Ước tính vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư 76
4.2.8.1. Ước tính vốn đầu tư 76
4.2.8.2 Ước tính hiệu quả về môi trường 78
4.2.8.3. Ước tính hiệu quả về kinh tế 78
4.2.8.4. Ước tính hiệu quả về xã hội 80
Chương 5 81
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 81
vi
5.1. Kết luận 81
5.2. Tồn tại 81
5.3. Kiến nghị 82
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT Ý NGHĨA
1 BQL Ban quản lý
2 CSHT Cơ sở hạ tầng
3 FAO Tồ chức nông lương Liên hiệp quốc
4 FSC Hội đồng quản trị rừng quốc tế
5 GDP Tổng sản phẩm trong nước
6 GIS Hệ thống thông tin địa lý
7 IRR Tỷ lệ hoàn vốn nội tại
8 KCN Khu công nghiệp
9 NPV Hiện giá thuần
10 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
11 PRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
12 PTNT Phát triển nông thôn
13 QHLN Quy hoạch lâm nghiệp
14 QLRPH Quản lý rừng phòng hộ
15 SXKD Sản xuất kinh doanh
vii
16 UBND Ủy Ban nhân dân

viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ phân loại đất Ban QLRPH Xuân Lộc Error: Reference source not
found
Hình 4.1 Bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất Ban QLRPH Xuân Lộc Error:
Reference source not found
Hình 4.2 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất lâm nghiệp tại BQL . Error: Reference
source not found
Hình 4.3 So sánh tổng diện tích đất rừng trước và sau quy hoạch Error: Reference
source not found
Hình 4.4 Bản đồ Quy hoạch 3 loại rừng Ban QLRPH Xuân Lộc Error: Reference
source not found
Hình 4.5 Bản đồ Quy hoạch Bảo vệ & phát triển rừng Ban QLRPH Xuân Lộc Error:
Reference source not found
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên rừng có vai trò rất lớn đối với sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng
và các ngành kinh tế nói chung. Rừng không những là cơ sở để phát triển kinh tế -
xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên, do tốc độ tăng
dân số ngày càng cao, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách ồ ạt trong thời
gian dài để phục vụ cho nhu cầu của con người đã làm cho nguồn tài nguyên rừng
bị can kiệt nhanh chóng. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp quy hoạch
lâm nghiệp để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi
vùng miền hay mỗi khu vực.
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, là bộ phận không thể tách rời của nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Rừng
không những có vai trò bảo đảm môi trường nước, môi trường sống của động thực
vật và con người mà còn góp phần giữ vững và phát triển bền vững và phát triển ổn
định kinh tế - xã hội nói chung. Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh

38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; … đã tác động sâu sắc đến công tác
quy hoạch lâm nghiệp.
Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc là đơn vị quản lý 10.300 ha rừng và
đất lâm nghiệp nằm trong địa giới hành chính của 5 xã (Xuân Hòa, Xuân Thành,
Xuân Trường, Xuân Tâm, Xuân Hưng) thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Những năm qua, lâm nghiệp trên địa bàn quản lý của đơn vị đã có bước phát triển,
đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội và cải thiện môi trường sinh thái
của địa phương. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sự đầu tư hỗ trợ của
Nhà nước bằng các chương trình và dự án, công tác quản lý bảo vệ và phát triển
rừng của đơn vị đang từng bước được cải thiện.
Tuy nhiên, trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng cũng như trong quản lý
sử dụng rừng còn nhiều tồn tại và bất cập nảy sinh: rừng và đất lâm nghiệp cơ bản
3
đã được giao, khoán ổn định lâu dài theo quy định của Nhà nước nhưng sử dụng
còn kém hiệu quả; tình trạng cháy rừng, khai thác rừng trái phép vẫn còn xảy ra;
Việc sử dụng rừng chưa đúng mục đích, không theo quy hoạch, hiện tượng lấn
chiếm, mua bán chuyển nhượng đất rừng trái phép còn xảy ra. Từ năm 2007, việc
sắp xếp đổi mới các lâm trường theo Nghị định 200/NĐ-CP và thực hiện rà soát quy
hoạch 3 loại rừng đã làm thay đổi mô hình quản lý, thay đổi quy mô diện tích 3 loại
rừng và kế hoạch hàng năm trong công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm
nghiệp. Những thay đổi trên đòi hỏi phải xây dựng phương án quy hoạch lâm
nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học nhằm quản lý, bảo vệ chặt chẽ và sử dụng hiệu
quả nguồn tài nguyên rừng.
Để có những cơ sở, luận cứ góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp
tỉnh, huyện, xã phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa
học lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ
Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai” đã được thực hiện.
4
Chương 1

Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về
phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính nông
nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển đồng đều tất cả các ngành kinh tế
trong vùng.
Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hóa tương
lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo
lãnh thổ của các vùng. Là biện pháp xác định các công ty sản xuất chuyên môn hóa
một cách hợp lý. Là biện pháp thiết kế và thực hiện nghiêm túc việc sử dụng đất
đai trên từng khu vực cụ thể của vùng. Là biện pháp xác định sự phân bố đúng đắn
các cơ quan y tế và phục vụ sinh hoạt văn hoá cho người dân. Là biện pháp xây
dựng các tiền đề tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên, các thành tựu KHKT, các nguồn lao động nhằm thúc đẩy tất cả các công ty
phát triển với tốc độ nhanh, đồng thời cải thiện đời sống vật chất và văn hoá và
tinh thần cho người dân trong vùng lao động nông nghiệp đó.
Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp. Đồng thời các
vùng hành chính cũng là các vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế và tổ
chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển có kết quả tất cả các ngành kinh tế quốc
dân, như vậy trong quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành chính nông nghiệp
làm đối tượng quy hoạch. Quy hoạch vùng nông nghiệp có các nội dung như sau:
+ Lập kế hoạch phát triển tương lai của nền kinh tế quốc dân trong vùng
hành chính nông nghiệp.
+ Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững.
+ Tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đồ quy hoạch vùng.
+ Phân bố hợp lý các công ty chế biến nông - lâm sản.
+ Xác định cân đối lao động trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
+ Lập kế hoạch phân bổ nhân khẩu.
6
+ Phân bổ các công ty sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa cơ khí, thương
nghiệp dịch vụ.
+ Phân bổ cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, điện, nước, thông tin liên

bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện
phương pháp "Lâm phần kinh tế" của Judeich. Phương pháp này khác phương pháp
"Bình quân thu hoạch" về căn bản. Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo
thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ đưa vào diện khai thác. Hai phương pháp "Bình
quân thu hoạch" và "Lâm phần kinh tế" chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức
kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau. Phương pháp "Bình quân thu hoạch" và sau
này là phương pháp "Cấp tuổi" chịu ảnh hưởng của "Lý luận rừng tiêu chuẩn", có
nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng,
vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh
doanh rừng này được dùng phổ biến cho các nước có tài nguyên rừng phong phú.
Còn phương pháp "Lâm phần kinh tế" và hiện nay là phương pháp "Lâm phần"
không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành
phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng.
Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành "Phương pháp kinh doanh lô" và
"Phương pháp kiểm tra" [10].
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và thập kỷ 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành
giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm
1946, Jack đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên "Phân
loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất". Đây cũng là tài liệu đầu tiên, đề cập đến
đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại vùng Rhodesia trước đây
(nay là Cộng hoà Zimbabwe), Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn
quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho công tác trồng rừng.
Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí "East African Journal for
8
Agriculture and Forestry" đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở
Nam châu Phi. Năm 1966, Hội Đất học và Hội Nông học của Mỹ cho ra đời chuyên
khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong quy
hoạch sử dụng đất [3].
1.2. Nghiên cứu quy hoạch lâm nghiệp ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình phát triển công tác quy hoạch lâm nghiệp

- Đó là sự chuyển đổi từ nền lâm nghiệp truyền thống, lâm nghiệp Nhà nước
sang nền lâm nghiệp xã hội, gắn với định hướng phát triển của nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Hệ thống tính chất quản lý ngành cũng có nhiều thay đổi cho phù hợp với
yêu cầu quản lý tài nguyên rừng tổng hợp, đa ngành, đa mục đích.
- Trong sự thay đổi có tính cách mạng về tính chất và quản lý, hàng loạt các
chủ trương, chính sách mới được ban hành tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của
ngành lâm nghiệp nói chung và vấn đề quản lý rừng bền vững nói riêng.
- Công tác tổ chức sử dụng tài nguyên rừng (tổ chức sản xuất lâm nghiệp)
được quan tâm và có định hướng phát triển tích cực. Do nhận thức về vai trò quan
trọng của rừng trong vấn đề phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái nên các hoạt
động lâm nghiệp đặc biệt quan tâm đến hai loại rừng phòng hộ và đặc dụng. Dẫn
chứng là tháng 11/1997 Quốc hội nước ta đã thông qua dự án trồng mới 5 triệu ha
rừng (giai đoạn 1998 - 2010), trong đó quy hoạch trồng mới 2 triệu ha rừng đặc
dụng, phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất, đặc biệt trong giai đoạn này Chính phủ
đã ban hành một loạt các hệ thống luật pháp và những chính sách quan trọng nhằm
tăng cường công tác bảo vệ phát triển rừng và quản lý rừng bền vững.
Viện Điều tra Quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng Điều tra quy
hoạch của Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, không ngừng cải tiến cũng như áp
dụng các phương pháp điều tra hiện đại, QHLN của các nước cho phù hợp với trình
độ và điều kiện tài nguyên rừng của nước ta. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển
của các nước thì QHLN ở nước ta hình thành và phát triển muộn hơn rất nhiều.
10
Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, và tài nguyên rừng làm
cơ sở cho công tác QHLN chưa được giải quyết triệt để, nên công tác này ở nước ta
đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [10].
Những năm gần đây, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản liên quan
đến lĩnh vực phát triển lâm nghiệp, trong đó có thể kể đến một số các văn bản quan
trọng như: Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Quy chế quản lý

nguyên rừng hợp lý, xã hội hoá nghề rừng, thực hiện các cam kết quốc tế và khu
vực trong bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Song chỉ tiêu được chú trọng trong
QLRBV mới chỉ dừng lại ở chỉ tiêu số lượng (diện tích), còn các chỉ tiêu về chất
lượng như tính đa dạng sinh học, khả năng phòng hộ giữ đất giữ nước chóng xói
mòn, bảo vệ môi trường sinh thái lại được thể hiện bằng cách xây dựng các khu
rừng đặc dụng, các dự án trồng và bảo vệ rừng phòng hộ. Năm 1992, Chính phủ đã
phê duyệt chương trình trồng rừng phòng hộ mang mã số 327, sau này được lồng
ghép vào chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng đến năm 2010. Với chương trình
này, nước ta sẽ đạt được thành tựu trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng với
việc nâng cao diện tích rừng, tăng độ che phủ, đảm bảo về môi trường, đáp ứng nhu
cầu lâm sản cho nền kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân.
1.2.2. Các loại hình quy hoạch lâm nghiệp ở Việt Nam
(1) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh (SXKD) bao
gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm
trường; Quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng
phòng hộ, quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất lâm
nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình). Các
nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác
nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào
sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp.
(2) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
12
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành
chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành
phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường). Để phát triển, mỗi đơn vị đều
phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch
phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…
* Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp

huyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiên
kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phương
hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện.
- Quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: sản xuất, phòng
hộ và đặc dụng.
- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có.
- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi
rừng tự nhiên.
- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị
trường tiêu thụ.
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các
thành phần kinh tế trong huyện.
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải cho vận chuyển lâm
sản hàng hóa và trao đổi nội bộ.
- Xác định tiến độ thực hiện: Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
thường là 10 năm.
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản
xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân. Quy hoạch lâm
nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết cụ thể hơn và được tiến hành trong thời gian 10
năm. Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau:
14
- Điều tra các điều kiện cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất lâm
nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; điều kiện tài nguyên rừng.
- Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy
hoạch cấp huyện và các điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ
phát riển lâm nghiệp trên địa bàn xã.
- Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng. Xác định rõ
mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã. Căn cứ vào phương
hướng phát triển, các điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác

- Trồng rừng
- Khoanh nuôi tái sinh
- Nuôi dưỡng và làm giàu rừng
- Quản lý bảo vệ rừng
BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc đã đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp kỹ
thuật lâm sinh trong kinh doanh lợi dụng rừng, khai thác đảm bảo vốn rừng, nuôi
dưỡng rừng, làm giàu rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng nhằm nâng cao chất lượng
rừng và đã có những thành công đáng kể. Thực hiện chủ trương của Chính phủ về
hạn chế khai thác gỗ rừng tự nhiên và tiến tới đóng cửa rừng, tăng cường trồng rừng
và khai thác chế biến sản phẩm từ gỗ rừng trồng thì sản lượng khai thác hàng năm
của lâm trường giảm đáng kể và hiện nay chỉ còn khai thác gỗ nguyên liệu từ rừng
trồng.
Với quá trình hình thành và phát triển của BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc
qua các thời kỳ, ta cũng thấy được những khó khăn và thách thức đặt ra đối với
BQL hiện nay. Đó là việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng như thế nào để đáp ứng
nhu cầu lâm sản cho các ngành kinh tế và nhu cầu xã hội, nhưng vẫn đảm bảo được
tính bền vững trong kinh tế - xã hội, bền vững về môi trường sinh thái đó là vấn đề
cần có lời giải cho công tác tổ chức quản lý, xây dựng phát triển và kinh doanh lợi
dụng tài nguyên rừng bền vững trong giai đoạn hiện nay của BQL.
Những năm vừa qua, có nhiều chương trình, dự án đã và đang triển khai tại
BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc như: Chương trình 327, 661, 147 [1]; đã thực hiện rà
16
soát quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ
tướng Chính phủ [6]; lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết theo Thông tư 04/2005/TT-
BTNMT ngày 18/7/2005 của Bộ tài nguyên và Môi trường nhằm quản lý bảo vệ,
phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền
vững. Song, do chưa có quy hoạch phát triển lâm nghiệp ổn định lâu dài nên chất
lượng rừng trồng chưa cao, phân bố còn manh mún, chưa tạo thành được những dải
rừng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, cải tạo môi trường đồng thời đáp ứng được
mục tiêu kinh tế (nguyên liệu gỗ nhỏ, củi, lâm sản ngoài gỗ) hiện tại và lâu dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status