ĐẶT VẤN ĐỀ
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long được hình
thành bởi 3 cù lao lớn: An Hoá, Bảo, Minh do phù sa của bốn nhánh sông Cửu Long
(sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên) bồi tụ qua nhiều thế kỷ. Là một tỉnh
châu thổ nằm sát biển với chiều dài đường bờ biển 65 km, có địa hình bằng phẳng, rải
rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn.
Bến Tre nằm trong vùng châu thổ sông Cửu Long, là một trong năm vùng chịu
ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu. Tác động của biến
đổi khí hậu là thời tiết ngày một khắc nghiệt và diễn biết khó lường hơn, gió bão ảnh
hưởng thường xuyên hơn, nước mặn xâm nhập sâu hơn vào đất liền, tình trạng xói lở
bờ biển diễn ra càng thêm nghiêm trọng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh tình trạng xói lở
bờ biển đã và đang diễn ra nghiêm trọng tại các xã Thừa Đức, Thới Thuận (huyện
Bình Đại), Bảo Thuận, Tân Thuỷ, An Thuỷ (huyện Ba Tri) và Thạnh Hải (huyện
Thạnh Phú) đe doạ đến đời sống người dân và các công trình hạ tầng cơ sở. Tại các vị
trí này, vai trò của đai rừng ngập mặn ven biển là vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ
bờ biển, ổn định phù sa, chống xói lở và bảo vệ thành quả lao động của người dân sinh
sống phía sau đai rừng ngập mặn.
Trong những năm gần đây, tình hình sử dụng đất đai nói chung và đất lâm
nghiệp nói riêng trên địa bàn tỉnh đã có nhiều thay đổi do sự chuyển đổi mục đích sử
dụng đất, sử dụng rừng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bố trí lại vật nuôi
cây trồng.
Thực hiện theo Điều 12, 13 của Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006
của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Nghị định số
92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Công văn số 688/BNN-LN ngày
15/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai nhiệm vụ
sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, tỉnh Bến Tre tiến hành xây dựng quy hoạch bảo
vệ và phát triển rừng làm cơ sở để tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên
địa bàn của tỉnh.
Việc lập Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012 – 2020 để phù
hợp với định hướng phát triển chung của ngành trên phạm vi cả nước và từng bước cụ
Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh SPOT 5 và điều tra thực địa để xây dựng bản đồ
hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp thời điểm năm 2011 làm cơ sở cho việc lập quy
hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020 thì diện tích đất lâm nghiệp Bến Tre là
7.760,3 ha, trong đó diện tích đất có rừng 4.163,9 ha (chiếm 53,7%); diện tích đất chưa
có rừng 3.596,5 ha (chiếm 46,3%), chi tiết theo bảng 1.
Bảng 1. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2011
ĐVT: ha
Loại đất, loại rừng
Đất quy hoạch cho lâm nghiệp
1. Đất rừng đặc dụng
a. Đất có rừng
- Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
b. Đất chưa có rừng
(Đất trống, Bãi bồi, Cát,Vùng triều thấp)
c. Đất sản xuất kết hợp
d. Đất khác
2. Đất rừng phòng hộ
a. Đất có rừng
- Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
b. Đất chưa có rừng
(Đất trống, Bãi bồi, Cát,Vùng triều thấp)
c. Đất sản xuất kết hợp
d. Đất khác
3. Đất rừng sản xuất
a. Đất có rừng
- Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
205,2
356,9
105,8
3.730,3
1.821,5
408,6
1.412,9
424,1
2.780,0
2.584,0
1.916,1
847,8
1.068,3
205,2
205,2
356,9
105,8
1.566,5
785,4
170,3
615,1
176,4
2.020,3
948,1
208,0
426,3
15,4
410,9
87,5
87,5
762,8
169,4
7.760,3
4.137,1
1.271,8
2.865,3
716,8
716,8
2.256,3
650,1
16,9
15,4
3,1
12,3
1,0
1,0
1.376,4
397,2
8,8
388,3
86,0
86,0
731,6
1.583,8
789,4
173,4
616,0
177,4
177,4
475,4
141,7
2.
Đánh giá diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp giai đoạn 2007-2011
Diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh năm 2011giảm 72,7 ha so với kết quả rà soát
quy hoạch ba loại rừng năm 2007. Trong đó, rừng đặc dụng Thạnh Phú không thay
đổi, rừng phòng hộ ven biển giảm 72,7 ha, rừng sản xuất là không thay đổi; diện tích
đất có rừng tự nhiên tăng 274,0 ha (trong đó: rừng phòng hộ tăng 261,6 ha; rừng sản
xuất tăng 12,4 ha) và diện tích rừng trồng tăng 319,4 ha (trong đó: rừng phòng hộ tăng
183,1 ha; rừng sản xuất tăng 136,3 ha). Nguyên nhân:
- Kết quả rà soát quy hoạch ba loại rừng năm 2007 sử dụng tài liệu hiện trạng từ
những năm trước, chưa thực hiện việc điều tra đánh giá chi tiết hiện trạng đất lâm
nghiệp. Số liệu thống kê diện tích rừng theo hồ sơ quản lý từ nhiều năm và giữa thực
địa, số liệu và bản đồ không có sự thống nhất.
- Năm 2011, để phục vụ cho việc lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, Phân
viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam bộ đã tiến hành giải đoán ảnh vệ tinh, kết hợp với
bản đồ nền VN-2000, bản đồ giải thửa, hiện trạng sử dụng đất năm 2010 (do Sở Tài
nguyên Môi trường cung cấp), bản đồ ranh giới rà soát quy hoạch 3 loại rừng (2007)
và tiến hành điều tra thực địa, rà soát thống nhất với 12 xã có đất lâm nghiệp trên địa
bàn tỉnh để xây dựng bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp, chi tiết đến từng lô
7.833,0
2.584,0
1.916,1
847,8
1.068,3
667,9
336,9
7.760,3
2.584,0
1.916,1
847,8
1.068,3
667,9
205,2
0,0
0,0
-131,7
331,0
462,7
131,7
-72,7
0,0
0,0
2.426,2
807,2
7.760,3
3.730,3
1.821,5
408,6
1.412,9
1.908,8
424,1
-72,7
-72,7
444,6
261,6
183,1
-517,4
-383,0
1.619,0
1.484,7
-134,3
1.446,0
1.446,0
0,0
963,0
169,4
-793,6
b. Ib ( cây bụi, gỗ rải rác)
c. Ic ( cây gỗ tái sinh rãi rác)
d. Đất khác
3. Đất quy hoạch cho rừng sản xuất
3.1 Có rừng
a. Rừng tự nhiên
b. Rừng trồng
3.2 Chưa có rừng
a. Ia (cỏ, lau lách, bãi bồi ...)
b. Ib ( cây bụi, gỗ rải rác)
c. Ic ( cây gỗ tái sinh rãi rác)
d. Đất khác
4. Đất phi nông nghiệp trong lâm nghiệp
3.
Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng
3.1.
Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Bến Tre là tỉnh có diện tích rừng rất thấp, chỉ chiếm 1,5% tổng diện tích tự
hiệu quả, chất lượng rừng trồng ngày càng được nâng cao.
3.2.2. Một số tồn tại
Diện tích rừng hàng năm có tăng nhưng không nhiều, chưa tương xứng với tiềm
năng cũng như mục tiêu đã đề ra.
Ý thức về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của một bộ phận dân cư còn kém
nên còn xảy ra hiện tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để nuôi tôm, khai thác lâm đặc
sản (khai thác sâm đất).
Năng suất, chất lượng rừng thấp do việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong
khâu giống, cải tạo rừng…
Tác động của ngành lâm nghiệp trong công tác xoá đói, giảm nghèo còn hạn chế;
thu nhập từ nghề rừng còn thấp và không ổn định.
3.2.3. Nguyên nhân tồn tại
Nhận thức về lợi ích của rừng chưa thật sự đầy đủ, chưa đánh giá đúng các giá
trị môi trường của rừng đem lại trong cộng đồng nên chưa có sự quan tâm đầu tư đúng
mức của các thành phần kinh tế.
Diện tích đất từng hộ ít (0,5 đến 3 ha) và manh mún; chính sách đầu tư để
trồng và quản lý bảo vệ rừng thấp (10 triệu đồng/ha/4 năm; khoán quản lý bảo vệ
100.000 đồng/ha/năm) và lợi nhuận từ việc kinh doanh rừng thấp, chu kỳ kinh doanh
cây rừng dài (từ 5 – 10 năm mới có thu hoạch) cho nên không hấp dẫn người dân so
với nuôi trồng thuỷ sản.
Công tác giao đất, giao rừng triển khai thực hiện chậm do sự hướng dẫn giữa
ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ngành Tài nguyên – Môi trường có
những điểm chưa nhất quán (hiện nay tỉnh đang hoàn chỉnh đề án giao đất giao rừng).
Do điều kiện vùng quy hoạch lâm nghiệp trải dài dọc ven biển (65 km), địa
hình chia cắt bởi nhiều sông rạch nhưng lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng, cán bộ
lâm nghiệp cấp huyện và xã thiếu so với yêu cầu nên cũng gây khó khăn cho công tác
quản lý bảo vệ rừng.
6
hiệu quả của rừng trong việc hạn chế tác hại của sóng và gió biển;
-
Xác lập ranh giới, đóng mốc, lập hồ sơ, quản lý, tới từng lô rừng (tổng diện tích
rừng hiện có và rừng phát triển thêm là 4.988,8 ha).
2.2.
Phát triển rừng
(i)
Trồng và chăm sóc rừng mới trồng ở các vùng đất trống, bãi cát, vùng bồi tụ
-
Trồng và chăm sóc rừng mới trên vùng đất trống 134,1 ha: đến năm 2015 là
71,3 ha; tiếp theo trong giai đoạn 2016 – 2020 trồng rừng trên diện tích đất
trống còn lại (62,9 ha).
-
Trồng và chăm sóc rừng mới trên bãi cát 135,3 ha: đến năm 2015 là 115,9 ha;
tiếp theo trong giai đoạn 2016 – 2020 trồng rừng trên diện tích còn lại (19,4 ha).
-
Trồng và chăm sóc rừng mới trên vùng bồi tụ với diện tích 561,8 ha: đến năm
2015 là 316,5 ha; tiếp theo trong giai đoạn 2016 – 2020 trồng rừng trên diện
Thực hiện tỉa thưa rừng Đước với diện tích 960,0 ha, trong đó: huyện Ba Tri
28,4 ha, huyện Bình Đại 51,3 ha và huyện Thạnh Phú 880,3 ha.
-
Khai thác rừng Đước trồng 657,0 ha và 236,6 ha/năm dừa lá để giải quyết một
phần nhu cầu thiết yếu của nhân dân địa phương.
-
Xây dựng và phát triển các mô hình canh tác Lâm – Ngư nghiệp (mô hình 7/3).
-
Xây dựng và phát triển dự án du lịch sinh thái.
2.4.
Các hoạt động hỗ trợ bảo vệ phát triển rừng
-
Xây dựng được hệ thống vườn ươm phục vụ cho công tác trồng rừng (2,2 ha).
-
Củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nâng cao năng lực của
ban quản lý rừng, đáp ứng nhu cầu bảo vệ phát triển rừng và phòng cháy, chữa
cháy rừng ở vùng ven biển.
Huyện Bình Đại:
3.226,3 ha (đất có rừng 1.553,6 ha)
-
Huyện Thạnh Phú:
2.780,2 ha (đất có rừng 2.285,7 ha)
Phân theo chủ quản lý
-
Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre:
-
Chi cục Kiểm lâm Bến Tre:
27,0 ha ( 0,4%)
-
Uỷ ban nhân dân huyện Ba Tri:
65,0 ha ( 0,8%)
8
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Đất sản xuất kết hợp
Đất khác trong lâm nghiệp
Đất rừng phòng hộ
Đất có rừng
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Đất sản xuất kết hợp
Đất khác trong lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất
Đất có rừng
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Đất sản xuất kết hợp
Đất khác trong lâm nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dung khác
Hiện
trạng
Quy
hoạch
7.760,3
2.584,0
1.916,1
399,6
1.947,1
175,5
958,6
322,2
1.446,0
465,9
15,4
450,5
47,9
762,8
169,4
Phân theo huyện
Ba Tri
Bình Đại
1.826,5
3.226,3
1.809,6
1.134,1
164,4
969,7
113,0
432,4
130,0
16,9
254,1
103,0
143,5
95,4
30,3
65,1
5,0
34,4
8,6
52,7
14,1
3,5
10,6
0,1
31,3
7,3
ĐVT: ha
Tăng/
giảm
72,7
260,1
-0,1
260,2
-154,5
-102,8
-2,8
72,7
525,2
3.
4.
5.
B
C
Đất lâm nghiệp
Rừng đặc dụng
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Đất sản xuất kết hợp
Đất khác trong lâm nghiệp
Rừng phòng hộ
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Đất sản xuất kết hợp
Đất khác trong lâm nghiệp
Rừng sản xuất
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Đất sản xuất kết hợp
Đất khác trong lâm nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dung khác
Hiện
trạng
103,0
3.803,0
399,6
1.920,3
175,5
978,7
328,9
1.446,0
15,4
450,5
47,9
762,8
169,4
9
ĐVT: ha
Phân theo chủ quản lý
Chi cục
BQL RPH&
UBND
kiểm lâm
ĐD Bến Tre
huyện
Bến Tre
7.756,1
27,1
49,8
2.584,0
847,7
762,8
168,9
0,5
Diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch cho toàn tỉnh trong kỳ quy hoạch tăng 72,7
ha (trong đó diện tích có rừng tăng 824,9 ha).
-
Theo đơn vị hành chính:
+ Huyện Ba Tri đến năm 2020 diện tích đất lâm nghiệp tăng 243,1 ha
+ Huyện Bình Đại đến năm 2020 diện tích đất lâm nghiệp giảm 170,4 ha
+ Huyện Thạnh Phú đến năm 2020 diện tích đất lâm nghiệp không thay đổi
-
Theo ba loại rừng:
+ Đất quy hoạch rừng đặc dụng không thay đổi
+ Đất rừng phòng hộ tăng 72,7 ha
+ Đất rừng sản xuất không thay đổi.
Bảng 5. Dự kiến chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp trong kỳ quy hoạch
theo đơn vị hành chính
ĐVT: ha
STT
Đơn vị
Diện tích
đất LN
3.396,7
2.780,2
72,7
243,1
-170,4
443,9
312,5
19,8
111,6
371,2
69,4
190,2
111,6
Tổng diện tích
đất LN dự kiến
định hình đến
năm 2020
(7)=(3)+(5)-(6)
7.833,0
1.826,5
3.226,3
2.780,2
Bảng 6. Dự kiến chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp trong kỳ quy hoạch theo chủ quản lý
Dự kiến chuyển đổi mục đích sử dụng
Toàn tỉnh
BQL RPH và ĐD Bến
Tre
Chi cục Kiểm lâm Bến Tre
UBND huyện Ba Tri
7.760,3
72,7
443,9
371,2
7.833,0
7.668,3
87,9
443,9
356,0
7.756,2
15,2
27,0
-
Xã Bảo Thuận điều chỉnh 35,1 ha ra khỏi đất lâm nghiệp, trong đó:
+ Tiểu khu 8 (từ rạch Đường Xuồng đến rạch Đường Khai) chuyển 5,5 ha (hiện
trạng là đất ruộng muối) để tiếp tục sản xuất ruộng muối theo quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2015 của xã.
+ Tiểu khu 9 (khu vực đầu rạch Cống Bể) chuyển 3,5 ha để phục vụ nhu cầu
quốc phòng; và 26,1 ha để ổn định dân cư theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015
của xã Bảo Thuận.
-
Xã Tân Mỹ điều chỉnh ra khỏi đất lâm nghiệp 15,2 ha, trong đó:
+ Chuyển 6,2 ha đất lâm nghiệp để phục vụ cho đất phát triển giáo dục, một
phần phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch sử dụng đất xã Tân Mỹ đến năm
2015.
+ Thực hiện theo Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 9/6/2011 của Uỷ ban
nhân dân tỉnh Bến Tre về việc thu hồi và cho công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Vân
thuê đất để xây dựng Khu du lịch sinh thái Vàm Hồ tại xã Tân Mỹ với diện tích 9,0 ha.
(ii)
Huyện Bình Đại diện tích chuyển ra khỏi đất lâm nghiệp là 190,2 ha, bao gồm:
Xã Thới Thuận điều chỉnh ra khỏi đất lâm nghiệp diện tích 5,2 ha thuộc tiểu
khu 7. Trên phần diện tích này, người dân đã sinh sống lâu năm, hiện nay cuộc sống đã
ổn định. Theo quy hoạch sử dụng đất của xã đến năm 2015 thì diện tích này được đưa
ra khỏi lâm nghiệp và cấp cho người dân, tạo điều kiện cho người dân yên tâm sinh
sống và sản xuất. Chuyển 20,0 ha ra khỏi đất lâm nghiệp để phát triển Trung tâm sản
xuất tôm giống tập trung của tỉnh.
+ Khu vực Cồn Đâm chuyển khỏi đất lâm nghiệp diện tích 13,5 ha;
+ Khu vực Cồn Cao chuyển khỏi đất lâm nghiệp diện tích 7,6 ha;
+ Khu vực Cồn Lớn chuyển khỏi đất lâm nghiệp diện tích 10,6 ha;
Diện tích đất đưa vào quy hoạch đất lâm nghiệp trong kỳ quy hoạch 2012 –
2020 là 443,9 ha. Đối tượng đưa vào đất lâm nghiệp trong kỳ quy hoạch này là bãi bồi
vùng ven biển và cửa sông có khả năng trồng và phát triển rừng thuộc huyện Ba Tri
(312,5 ha), huyện Bình Đại (19,8 ha) và Thạnh Phú (111,6 ha).
4.
Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp theo ba loại rừng
4.1.
Quy hoạch đất lâm nghiệp thuộc rừng đặc dụng
Kết quả quy hoạch rừng đặc dụng trên địa bàn toàn tỉnh Bến Tre thời kỳ 2012 –
2020 với quy mô diện tích là 2.584,0 ha ở huyện Thạnh Phú. Toàn bộ diện tích quy
hoạch rừng đặc dụng do Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre quản lý.
-
Đất có rừng:
+ Đất có rừng tự nhiên:
+ Đất có rừng trồng:
4.2.
Đất chưa có rừng:
2.176,2 ha
847,7 ha
Đất có rừng:
+ Đất có rừng tự nhiên:
4.4.
465,9 ha
15,4 ha
+ Đất có rừng trồng:
450,5 ha
Đất chưa có rừng:
980,1 ha
Tổng hợp quy hoạch ba loại rừng thời kỳ 2012 - 2020
12
Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh 7.833,0 ha, chiếm 3,32% diện tích tự
nhiên và chiếm 3,96% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh, trong đó:
-
-
Phân theo cơ cấu 3 loại rừng:
+
Huyện Thạnh Phú:
2.780,2 ha (chiếm 35,5% đất lâm nghiệp)
5.
Tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020
5.1.
Quản lý bảo vệ rừng
5.1.1. Bảo vệ rừng
Diện tích bảo vệ rừng vào năm 2020 là 4.553,8 ha, trong đó giao khoán bảo vệ
rừng là 35.523,8 lượt ha (bình quân mỗi năm 3.947,1 lượt ha).
Nhu cầu vốn đầu tư cho chương trình giao khoán bảo vệ rừng giai đoạn đến
năm 2020 là 7.104,759 triệu đồng.
5.1.2. Xác lập ranh giới, đóng mốc, lập hồ sơ, quản lý tới từng lô rừng
Xác định rõ ranh giới đất lâm nghiệp thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc
dụng trên bản đồ và thực địa, phục vụ việc quản lý, bảo vệ và ngăn chặn tình trạng lấn
chiếm rừng và đất rừng. Quy mô diện tích 7.756,2 ha, trong đó: đất có rừng là 4.919,3
ha (rừng tự nhiên 1.221,8 ha và rừng trồng 3.697,5 ha), đất chưa có rừng là 2.836,9 ha.
Nhu cầu kinh phí đầu tư để lập dự án xác định mốc, bảng ranh giới khu rừng là
1.696,0 triệu đồng. Sau khi dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ tiến hành thi
công đóng mốc, bảng ranh giới đất lâm nghiệp trên thực địa.
5.2.
Phát triển rừng
trồng 245,3 ha (RĐD 56,9 ha, RPH 188,3 ha). Nhu cầu kinh phí đầu tư trồng rừng mới
và chăm sóc rừng trồng mới trên vùng bồi tụ là 8.023,485 triệu đồng.
d)
Thực nghiệm trồng rừng ở vùng xói lở
Diện tích trồng rừng thực nghiệm trên vùng xói lở trong giai đoạn đến năm
2020 là 27,4 ha, thuộc diện tích quy hoạch rừng đặc dụng, trong giai đoạn 2012 – 2015
thử nghiệm trồng 9,7 ha; giai đoạn 2016 – 2020 tiếp tục trồng 17,7 ha. Nhu cầu kinh
phí đầu tư trồng rừng thực nghiệm và chăm sóc rừng trồng trên vùng xói lở là
2.314,920 triệu đồng.
e)
Trồng lại rừng sau khai thác
Diện tích rừng sau khai thác sẽ tiến hành trồng lại rừng trong thời kỳ quy hoạch
là 657,0 ha (trong đó: RPH 635,0 ha, RSX 22,1 ha). Giai đoạn 2012 – 2015 trồng
321,0 ha (RPH 309,2 ha, RSX 11,8 ha); giai đoạn 2016 – 2020 tiếp tục trồng 336,0 ha
(RPH 327,5 ha, RSX 10,3 ha). Nhu cầu kinh phí đầu tư trồng lại rừng sau khai thác và
chăm sóc rừng trồng lại là 3.592,095 triệu đồng.
5.2.2. Trồng cây phân tán
Trồng cây phân tán hàng năm bình quân là 60 ngàn cây/năm. Tổng số cây trồng
phân tán giai đoạn đến năm 2020 là 540 ngàn cây, tương ứng khoảng 490,9 ha (với
mật độ trồng dự kiến là 1.100 cây/ha).
Nhu cầu kinh phí đầu tư trồng cây phân tán trong phạm vi quy hoạch đất lâm
nghiệp giai đoạn đến năm 2020 là 2.160,0 triệu đồng.
5.3.
Xây dựng và thực hiện phương án điều chế để sử dụng bền vững tài
nguyên rừng
Chuyển hoá rừng Phi lao trồng ở xã An Điền và rừng Đước thuộc xã Thạnh
Hải, huyện Thạnh Phú thành các khu rừng giống với diện tích là 30 ha.
Vốn đầu tư xây dựng rừng giống là 1.500 triệu đồng
5.4.3. Xây dựng và sửa chữa trạm bảo vệ rừng
Số lượng trạm xây mới: 09 trạm thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng
Bên Tre với tổng kinh phí: 4.500 triệu đồng.
Số lượng trạm sữa chữa: 04 với tổng kinh phí sửa chữa nâng cấp trạm là 800
triệu đồng.
5.4.4. Phòng cháy, chữa cháy rừng
Hàng năm, Ban quản lý rừng phải xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy
rừng trình các cấp thẩm quyền phê duyệt và thực hiện theo phương án đã được duyệt.
Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng hành năm thể hiện các nội dung:
−
Hợp đồng quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng với cộng đồng
dân cư địa phương.
−
Xây dựng công trình phòng cháy, chữa cháy rừng.
−
Mua sắm trang thiết bị phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng.
−
Kiện toàn ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng.
−
5.4.6. Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về các giá trị của rừng, về rừng
và môi trường
Thông qua tuyên truyền, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của người dân trên
các lĩnh vực trồng và quản lý bảo vệ rừng, nuôi trồng thuỷ sản dưới tán rừng, khai thác
lâm sản từ rừng… giải quyết kịp thời những thắc mắc của dân về những chủ trương,
chính sách của trung ương và địa phương về lâm nghiệp.
Tăng cường công tác phối hợp giữa ban quản lý dự án, chính quyền địa phương
và Kiểm lâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng.
Thường xuyên tổ chức học tập quán triệt Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày
8/2/2012 của Thủ tướng chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các
cấp về rừng và đất lâm nghiệp. Các Ban quản lý dự án phải xây dựng được quy chế
phối hợp với Hạt kiểm lâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy
rừng, không để xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau khi xảy ra mất rừng.
5.4.7. Rà soát công tác giao đất giao rừng
Ban quản lý có rừng phòng hộ ven biển lập phương án giao khoán bãi bồi để
khuyến khích các hộ nhận khoán phát triển vốn rừng trên cơ sở gắn liền với quyền lợi
được giao khoán bổ sung diện tích đất bãi bồi.
Hoàn tất việc đóng cọc mốc phân ranh bãi bồi vùng đệm của đai rừng phòng hộ
ven biển của tỉnh để làm cơ sở giao khoán cho hộ và triển khai trồng rừng bằng nguồn
vốn trung ương và tổ chức quốc tế.
-
Hoàn thành việc cấp, đổi sổ giao khoán cho các hộ nhận khoán.
Bằng nguồn vốn đầu tư của trung ương và tổ chức nước ngoài đẩy mạnh các
hoạt động khuyến lâm, xây dựng các điểm trình diễn về trồng rừng, nuôi trồng thuỷ
sản dưới tán rừng; tổ chức các đợt tham quan học tập kinh nghiệm để tạo điều kiện
sinh kế cho người dân và cải thiện đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo.
5.4.8. Xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Giải pháp về quản lý
−
Giải pháp về sự phối hợp đa ngành
−
Các giải pháp về xã hội
−
Giải pháp về nguồn vốn
−
Giải pháp về khoa học, kỹ thuật và công nghệ
−
Giải pháp về nguồn nhân lực
−
Hỗ trợ của các ngành và hợp tác quốc tế
7.
Tổng hợp đầu tư và hiệu quả kinh tế
-
Chi phí quản lý:
4.447,060 triệu đồng.
Phân theo nguồn vốn đầu tư:
-
Vốn ngân sách nhà nước:
41.128,677 triệu đồng
-
Vốn liên doanh liên kết:
6.842,198 triệu đồng
-
Vốn tài trợ:
6.782,496 triệu đồng
-
Vốn tự có:
6.863,973 triệu đồng
7.2.2. Hiệu quả về kinh tế và xã hội
Việc duy trì và nâng cao độ che phủ của rừng ngập mặn sẽ duy trì và tăng sản
lượng thuỷ sản và bảo vệ bờ biển. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới giá trị cung
cấp dinh dưỡng của mỗi ha rừng ngập mặn ở vùng phòng hộ ven biển là 250
USD/ha/năm. Tổng giá trị dinh dưỡng và giá trị bảo vệ bờ biển của khu rừng hằng
năm là 4,5 – 5,0 triệu USD.
Cũng theo tính toán của Ngân hàng Thế giới nếu 1 ha rừng ngập mặn được bảo
vệ và duy trì thì sẽ cho sản lượng thuỷ sản đánh bắt được ngoài khơi là 700 kg, giá trị
này của vùng dự án ước tính 4.000 tấn/năm.
Việc thực hiện dự án sẽ góp phần giải quyết việc làm, ổn định an ninh và trật tự
xã hội của các xã và thị trấn vùng ven biển Bến Tre. Với chương trình phát triển Nông
– Lâm – Ngư kết hợp sẽ góp phần ổn định cuộc sống của các hộ dân, thúc đẩy phát
triển nền kinh tế của địa phương, góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội.
Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về các giá trị của hệ sinh thái rừng
ngập mặn ven biển và kỹ thuật sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước.
Góp phần bảo vệ nhân dân vùng ven biển tránh khỏi những thảm hoạ tự nhiên
như sóng biển, gió, cát di động và sự lan truyền nước mặn vào nội đồng.
8.
Danh mục các dự án ưu tiên
(1)
(2)
(3)
(4)
Dự án Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bến Tre
Dự án thống kê, kiểm kê và lập hồ sơ quản lý tài nguyên rừng
Đề án giao đất, giao rừng, cho thuê đất, thuê rừng tỉnh Bến Tre
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng rừng Đước để xác định thời điểm tỉa thưa
cộng đồng dân cư với các bên liên quan.
Các thể chế được thiết lập cần có các cán bộ có chuyên môn phù hợp, với
nguồn ngân sách và quy chế tài chính thích hợp đủ để thực hiện trên cơ sở các chương
trình hành động có tính khả thi cao.
Các dự án phát triển ở vùng ven biển và trong khu vực cần được đánh giá tác
động môi trường. Đẩy mạnh các nghiên cứu liên ngành về rừng ngập mặn nhằm hỗ trợ
cho công tác quản lý.
Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành từ khâu quy hoạch sử dụng đất đến các
khâu chỉ đạo thực hiện các dự án trên các vùng đất lâm nghiệp, đặc biệt là những nơi
gần các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng với
chính quyền và các đoàn thể ở địa phương có rừng. Xây dựng quy chế, xác định trách
nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể quần chúng đối với việc bảo vệ và
quản lý rừng.
Tăng cường các biện pháp tuyên truyền giáo dục trong nhân dân, phát huy sâu
rộng ý thức bảo vệ rừng của toàn dân, huy động nhân dân sẵn sàng phối hợp với kiểm
lâm, chính quyền địa phương, đoàn thể, lực lượng vũ trang ngăn chặn có việc hiệu quả
chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng.
Rà soát công tác giao khoán rừng và đất rừng để rừng có chủ thật sự, việc giao
khoán phải đảm bảo đúng đối tượng, diện tích và theo đúng quy định của Nghị định
01/CP của Chính phủ. Xây dựng quy chế hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân
được giao, được thuê, nhận khoán rừng. Đo đạc, kiểm kê đất lâm nghiệp. Xây dựng hồ
sơ quản lý theo dõi diễn biến sử dụng đất lâm nghiệp đến từng lô rừng và từng hộ dân.
Đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan, đoàn thể. Xây dựng các chương trình
giảng dạy, giáo trình và phát triển hỗ trợ giảng dạy. Thu hút các tổ chức nghiên cứu,
các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế tham gia vào các hoạt động bảo vệ,
phát triển và nghiên cứu rừng ngập mặn.
Cung cấp thông tin và đào tạo kỹ thuật để hỗ trợ những nhà quản lý các cấp.
Nâng cao nhận thức về rừng ngập mặn cho các nhà chính trị, hoạch định đất đai... Xây
dựng trung tâm thông tin rừng ngập mặn.