Báo cáo tóm tắt kết quả rà soát cơ chế, chính sách liên quan đến triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 - Pdf 13

1 BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VĂN PHÒNG BAN CHỈ ĐẠO NHÀ NƯỚC VỀ KẾ HOẠCH BẢO VỆ VÀ
PHÁT TRIỂN RỪNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

BÁO CÁO TÓM TẮT

KẾT QUẢ RÀ SOÁT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN
ĐẾN TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN
RỪNG GIAI ĐOẠN 2012-2020


3. Phát triển rừng 10
3.1. Bất cập, hạn chế về phục hồi rừng, cải tạo rừng 10

3.2. Những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh 11

4. Khai thác, sử dụng rừng 11
4.1. Bất cập, hạn chế 11

4.1.1. Khai thác lâm sản 11

4.1.2. Sản xuất nông lâm kết hợp 12

4.1.3. Cho thuê rừng đặc dụng để kinh doanh du lịch sinh thái 13

4.2. Những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh 13

4.2.1. Nghiên cứu khoa học trong RPH 13

4.2.2. Dịch vụ môi trường rừng 13

5. Đầu tư, tín dụng, tài chính 14
5.1. Bất cập, hạn chế 14

5.1.1. Cơ chế đầu tư, hỗ trợ đầu tư 14

5.1.2. Tín dụng 15

5.1.3. Thuế và các khoản thu nộp ngân sách 16


ii

CÁC TỪ VIẾT TẮT

BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng
LTQD Lâm trường quốc doanh
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
NTQD Nông trường quốc doanh
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTR Phát triển rừng
QPPL Quy phạm pháp luật
RĐD Rừng đặc dụng
RPH Rừng phòng hộ
RSX Rừng sản xuất
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
QLR Quản lý rừng
UBND UBND
1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012. Đây là
văn bản quan trọng nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 18/2011/QH13
ngày 25/11/2011 của Quốc hội về kết thúc việc thực hiện Nghị quyết số
08/1997/QH10 và Nghị quyết số 73/2006/QH11 về Dự án trồng mới 5 triệu ha

rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; một số chính sách tăng cường công tác
bảo vệ rừng.
Nhóm 3 - Phát triển rừng: trồng rừng, phục hồi rừng, cải tạo rừng; khoa
học, công nghệ và khuyến lâm; chính sách hỗ trợ lương thực trồng rừng thay thế
2

nưong rẫy; chính sách khuyến khích phát triển rừng; thanh lý rừng trồng được
đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước; khuyến lâm.
Nhóm 4- Khai thác, sử dụng rừng: khai thác lâm sản, sản xuất nông
lâm kết hợp; nghiên cứu khoa học; dịch vụ môi trường rừng; cho thuê rừng đặc
dụng để kinh doanh du lịch sinh thái (chế biến lâm sản được lồng ghép trong
việc rà soát chính sách đầu tư, tín dụng)
Nhóm 5 - Đầu tư, tín dụng, tài chính: cơ chế đầu tư, hỗ trợ đầu tư; quản
lý đầu tư xây dựng công trình lâm sinh; tín dụng, thuế và các khoản thu nộp
ngân sách; xác định giá các loại rừng; quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Nhóm 6- Tổ chức hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp: cơ quan quản lý
chuyên ngành về lâm nghiệp, tổ chức hệ thống sản xuất lâm nghiệp (công ty lâm
nghiệp; Ban quản lý rừng đặc dụng; Ban quản lý rừng phòng hộ; quản lý rừng
cộng đồng).
4. Phương pháp rà soát
- Thu thập, chọn lọc, nghiên cứu các văn bản QPPL còn hiệu lực pháp lý
tính đến tháng 8/2012 do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương ban
hành.
- Lập bảng kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, vận dụng các tiêu
chí chung áp dụng đối với việc rà soát văn bản QPPL, như đảm bảo tính minh
bạch, tính hệ thống, tính khả thi; phát hiện văn bản có mâu thuẫn, chồng chéo,
thiếu thống nhất, không còn phù hợp với thực tiễn, khó vận dụng hoặc những
vấn đề chưa được pháp luật hiện hành điều chỉnh phục vụ cho việc triển khai
thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012 - 2020.
5.Nội dung báo cáo, gồm 2 phần:

phân cấp RPH); trong khi đó hàng năm mới thống kê diện tích rừng đặc dụng,
RPH, rừng sản xuất; quy chế khai thác lâm sản quy định về khai thác gỗ và
LSNG đối với RPH nói chung, chưa có quy định khai thác gỗ và LSNG đối với
RPH ở cấp rất xung yếu, xung yếu, ít xung yếu Mặt khác, phân loại RĐD quy
dịnh tại Luật BV&PTR (bao gồm: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên (khu
dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh), khu bảo vệ cảnh quan, khu
rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học) khác với quy định phân cấp khu bảo
tồn tại Điều 16 Luật đa dạng sinh học năm 2008, theo dó, khu bảo tồn gồm
Vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài – sinh cảnh, khu bảo vệ
cảnh quan.
- Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/06/2009 của Bộ
NN&PTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, trong đó (Điều 3 - tiêu
chí xác định rừng) quy định đối với rừng mới trồng phải đảm bảo mật độ 1.000
cây/ha, trong khi đó nếu trồng rừng theo băng, theo dải chỉ cần 600 cây/ha đã
đảm bảo quy định, vùng cát trồng 1.100 cây/ha, nếu đảm bảo tỷ lệ sống trên
85% sẽ được nghiệm thu nhưng không công nhận là rừng (vì mật độ dưới 1.000
cây). Điều 8 - phân loại rừng theo trữ lượng, quy định rừng nghèo, trữ lượng từ
10 - 100m
3
, biên độ quá rộng sẽ khó quản lý loại rừng này.

4

1.1.2. Giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp
a) Giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp
- Giao rừng: Luật BV&PTR (Điểm b Khoản 3 Điều 24 - Giao rừng) quy
định Nhà nước giao RSX là rừng tự nhiên có thu tiền sử dụng rừng đối với các
tổ chức kinh tế. Quy định này cần được xem xét lại, vì phần lớn rừng tự nhiên
hiện còn là rừng trung bình, rừng nghèo, hầu như không có thu nhập gì từ rừng
và phải qua một thời gian dài đầu tư vào rừng (25 - 30 năm) mới có sản lượng

khoán RPH, được hưởng tỷ lệ giá trị sản phẩm khai thác căn cứ vào hiện trạng
rừng khi giao cho hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, việc giao rừng hoặc khoán
rừng trước đây chủ yếu mới xác định về vị trí, diện tích rừng và loại rừng; chưa
xác định cụ thể trạng thái rừng khi giao hoặc khoán nên không có căn cứ để tính

5

mức hưởng lợi cho hộ gia đình, cá nhân, làm cho nhiều địa phương lúng túng.
Mặt khác, việc xác định hiện trạng rừng làm cơ sở để giao rừng và tính toán
hưởng lợi theo các tỷ lệ phần trăm cụ thể quy định trong Quyết định 178 đòi hỏi
rất công phu và tốn kém, nhiều địa phương không thể thực hiện được.
+ Rừng không có trữ lượng, không có lâm sản phụ, nơi đất xấu không thể
kết hợp được sản xuất nông ngư nghiệp; rừng ở vùng sâu vùng xa, địa hình hiểm
trở khó khai thác và vận chuyển lâm sản ra ngoài (rừng trên núi đá vôi, rừng
giáp biên giới, RPH chắn cát ven biển, rừng có nhiều cây gỗ quý…) thì quyền
hưởng lợi từ rừng hầu như không khả thi.
+ Chưa quy định rõ phương pháp tính toán khi phân chia lâm sản khai
thác chính giữa hộ gia đình với xã hoặc bên giao khoán như: địa điểm phân chia
sản phẩm, giá lâm sản làm căn cứ phân chia sản phẩm, chi phí khai thác, vận
xuất lâm sản; quy định mức ăn chia đối với gỗ đổ gãy, tỉa thưa, tận thu lâm sản;
cơ quan chịu trách nhiệm giám sát thực hiện về khối lượng, chủng loại lâm sản
được phép lấy ra khỏi rừng, phần nộp ngân sách xã, chi phí cho các công việc
đó….
+ Chưa có quy định quyền hưởng lợi đối với tổ chức, cộng đồng dân cư
thôn tham gia nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
b) Giao khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ về việc
giao khoán đất nông nghiệp, đất RSX và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
trong các NTQD, LTQD, theo quy định tại khoản 1 Điều 17, Nghị định này thay
thế Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ, nhưng lại chỉ tập trung

trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên.
Trên thực tế, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã chấm dứt thực hiện giao, khoán bảo
vệ rừng theo Quyết định số 304 từ cuối năm 2010, chủ yếu do các tỉnh không bố
trí được kinh phí để tiếp tục giao, khoán bảo vệ rừng.
1.1.4. Chuyển mục đích sử dụng rừng
- Luật BV&PTR (Khoản 4 Điều 19) quy định, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định xác lập khu rừng nào thì có quyền điều chỉnh việc xác lập khu
rừng đó mà không có quy định sự kiểm tra, giám sát của cơ quan lâm nghiệp cấp
trên dẫn đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng có nơi không theo đúng quy
định.
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành
Luật BV&PTR (Điều 29) quy định chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục
đích không phải lâm nghiệp phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường, có
phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng, đảm bảo trồng rừng mới thay
thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về các nội dung này.
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 về Quy chế quản lý
rừng (khoản 2 Điều 8) quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục
đích khác không phải lâm nghiệp, chưa cụ thể hóa một số nội dung đã được quy
định tại Nghị định 23, như: xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường do
việc chuyển mục đích sử dụng rừng, bồi hoàn giá trị đa dạng sinh học của rừng
bị chuyển đổi, đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng.
1.1.5. Các quyền của chủ rừng
- Luật BV&PTR năm 2004 (Điều 64) quy định quyền của tổ chức kinh tế
(chủ rừng) được nhà nước giao RSX có thu tiền sử dụng rừng có phân biệt 2
trường hợp: (1) Trường hợp tiền sử dụng rừng đã trả có nguồn gốc từ ngân sách
nhà nước, chỉ được thế chấp bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng
tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng rừng được xác định
tại thời diểm được giao rừng; (2) Trường hợp tiền sử dụng rừng đã trả không có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thì chủ rừng được chuyển nhượng quyền sử

nhưng nội dung quyền sử dụng rừng lại khác với quyền sử dụng đất. Người dân
được giao rõng tù nhiªn vµ ®ång thêi ®îc giao m¶nh
®Êt cã rõng tự nhiên trªn ®ã sÏ thùc hiÖn quyÒn tµi s¶n
nh thÕ nµo trong giao dịch dân sự ? Với đất, được chuyển nhượng
quyền sử dụng, còn rừng tự nhiên lại không được quyền chuyển nhượng.
1.2. Những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh
1.2.1. Rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng
Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ NN&PTNT
hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, trong đó chưa có
quy định việc phối hợp cũng như trách nhiệm của ngành nông nghiệp và PTNT,
ngành tài nguyên và môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và
phát triển rừng gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
1.2.2. Giao rừng, cho thuê rừng
- Chưa quy định rõ cơ chế, chính sách để giao rừng tự nhiên cho các hộ
gia đình, cá nhân, các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức xã hội, các cộng
đồng dân cư sống gần rừng.
- Nghị định 23/2006/NĐ-CP (Điều 21) quy định Thủ tướng Chính phủ
quy định việc cho thuê rừng tự nhiên để kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ
dưỡng, du lịch sinh thái môi trường đối với người Việt Nam định cư ở nước

8

ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Điều 37 quy định Bộ Tài chính chủ trì phối
hợp với Bộ NN&PTNT quy định và hướng dẫn trình tự, thủ tục nộp tiền sử dụng
rừng, tiền thuê rừng, phí và lệ phí có liên quan đến việc BV&PTR, nhưng đến
này chưa có văn bản nào quy định về vấn đề này.
- Chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể đối với các hộ gia đình, cá nhân
có nguyên vọng thực hiện quyền thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng
rừng để liên doanh trong bảo vệ và phát triển rừng.
1.2.3. Chính sách hưởng lợi

2.1.1. Phòng cháy, chữa cháy rừng, chống chặt phá rừng

9

- Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định
về phòng cháy, chữa cháy rừng chưa đề cập đến việc khắc phục hậu quả sau
cháy rừng theo quy định của Luật BV&PTR (Điều 42); khoản 3 Điều 20 quy
định về thẩm quyền phê duyệt phương án phòng cháy và chữa cháy rừng của
một số các chủ thể, như Chủ tịch UBND tỉnh, kiểm lâm .v.v. nhưng không quy
định thẩm quyền phê duyệt phương án phòng cháy và chữa cháy rừng của Chủ
tịch UBND cấp huyện. Vì vậy, trên thực tế cấp huyện không phát huy được tính
chủ động trong quá trình phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa phương.
- Nghị định 09 quy định các chủ rừng không thụ hưởng ngân sách nhà
nước phải tự bảo đảm kinh phí cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng.
Đây là trở ngại lớn cho các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng các chủ rừng nhà
nước khác (các ban quản lý RPH và RĐD), vì nguồn cấp phát của các tỉnh là rất
hạn hẹp, chủ yếu hỗ trợ cho một số trọng điểm cháy rừng. Vì vậy, khi xảy ra
cháy rừng tại các huyện, thị xã, Hạt Kiểm lâm, đơn vị chủ rừng rất lúng túng, vì
không có kinh phí chi cho việc chữa cháy.
- Một số cơ chế, chính sách trong công tác PCCCR cũng còn nhiều bất
cập. Kinh phí đầu tư cho công tác PCCCR còn rất hạn chế, kinh phí hỗ trợ cho
xã để thực hiện công tác PCCCR hầu như không có; chi trả cho người tham gia
chữa cháy tuỳ thuộc vào khả năng của địa phương… (vấn đề này mới được quy
định tại Quyết định 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về ban hành một số chính sách về bảo vệ rừng).
2.1.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính năm

2.2.4. Một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ
vể ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng (Điều 3, 4, 5)
quy định về hỗ trợ kinh phí cho UBND cấp xã tổ chức bảo vệ rừng ở cơ sở,
thành lập quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp xã, chính sách đồng quản lý rừng,
lực lượng bảo vệ rừng ở cơ sở; tuy nhiên, những quy định này chỉ mang tính
nguyên tắc, cần có văn bản quy định cụ thể hơn.
3. Phát triển rừng
3.1. Bất cập, hạn chế về phục hồi rừng, cải tạo rừng
- Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 về Quy chế quản lý rừng
(Điều 10, 19, 31, 37) quy định về cải tạo rừng tự nhiên (đặc dụng, phòng hộ, sản
xuất); Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 06/11/2006 của Bộ NN&PTNT
hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định 186 (khoản 2 Mục II ) hướng
dẫn về tiêu chí rừng nghèo kiệt và các loại rừng nghèo kiệt được phép cải tạo;
Thông tư 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011 của Bộ NN&PTNT về sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực
BV&PTR theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15/12/2010 của Chính phủ (Điều
7 sửa đổi, bổ sung Thông tư 99) cũng quy định về cải tạo rừng; Quyết định
73/2010/QĐ-TTg ngày 16/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế đầu tư
xây dựng công trình lâm sinh cũng đưa ra khái niệm về cải tạo rừng tự nhiên
nghèo kiệt.
Về cơ bản, các nội dung quy định về cải tạo rừng tại 4 văn bản này không
có mâu thuẫn, nhưng thiếu các quy định cụ thể về các phương thức, quy trình kỹ
thuật cụ thể khi tiến hành cải tạo rừng; kiểm tra, giám sát việc cải tạo rừng
Mặt khác, Thông tư số 99 quy định rừng tự nhiên nghèo kiệt (đối với rừng gỗ)
được phép cải tạo có trữ lượng gỗ nhỏ hơn 50m
3
/ha, trong khi đó Thông tư
34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ NN&PTNT về quy định tiêu
chí xác định và phân loại rừng không đề cập đến cụm từ “rừng nghèo kiệt” mà

bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, tuy nhiên, chưa có văn bản hướng dẫn cụ
thể về vấn đề này.
4. Khai thác, sử dụng rừng
4.1. Bất cập, hạn chế
4.1.1. Khai thác lâm sản
a) Luật bảo vệ và PTR (Điều 56) quy định đối với tổ chức khi khai thác
chính gỗ RSX là rừng tự nhiên phải có phương án điều chế rừng, thiết kế khai
thác; Quyết định 34/2011/QĐ-TTg ngày 24/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 186 (Điều 1) quy định phải
có phương án điều chế rừng (hoặc phương án quản lý rừng bền vững), thiết kế
khai thác; Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ
NN&PTNT hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ quy
định phải có phương án điều chế rừng hoặc phương án quản lý rừng bền vững,
thiết kế khai thác. Tuy nhiên cho đến nay chưa có văn bản hướng dẫn về xây
dựng phương án quản lý rừng bền vững.
b) Quyết định 186/2006/QĐ-TTg

12

- Khoản 5 Điều 39 quy định hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn
có nhu cầu khai thác gỗ rừng tự nhiên chỉ cần báo cáo cho UBND xã xác nhận
và quản lý. Nhưng tại Điều 7 Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001
của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân
được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp quy định khi khai thác
gỗ rừng tự nhiện phục vụ nhu cầu gia dụng, hộ gia đình, cá nhân phải làm đơn
gửi UBND xã xác nhận, trình UBND huyện xét duyệt, cấp phép khai thác. Như
vậy, có sự không thống nhất giữa quy chế quản lý rừng và chính sách hưởng lợi
và thẩm quyền phê duyệt khai thác gỗ gia dụng.
c) Quyết định số 34/2011/QĐ-TTg ngày 24/6/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg,

nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; trong khi đó Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg lại

13

quy định (Điều 33, Điều 42) đối với RPH, RSX, được sử dụng không quá 40%
diện tích đất không có rừng trên đất rừng ngập mặn hoặc không quá 30% diện
tích không có rừng đối với các khu vực khác để sản xuất nông nghiệp, ngư
nghiệp kết hợp.
4.1.3. Cho thuê rừng đặc dụng để kinh doanh du lịch sinh thái
- Điều 55 Nghị định 23/2006/NĐ-CP; Điều 22 Quyết định 186/2006/QĐ-
TTg; Điều 23 Nghị định số 117/2010/NĐ-CP; Quyết định số 104/2007/QĐ-
BNN ngày 27/12/2007 của Bộ NN&PTNT ban hành quy chế quản lý các hoạt
động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; Điều 8
Thông tư số 78 đều đề cập đến việc cho thuê RĐD; tuy nhiên chưa rõ đối tượng
được thuê rừng có bao gồm tổ chức, cá nhân nước ngoài không? Tổ chức phi
chính phủ của Việt Nam có được thuê RĐD để kinh doanh du lịch sinh thái
không?
4.2. Những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh
4.2.1. Nghiên cứu khoa học trong RPH
- Nghị định 23/2006/NĐ-CP (Điều 54); Nghị định 98/2011/NĐ-CP ngày
26/10/2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về
Nông nghiệp (Sửa đổi Điểm a, b khoản 2 Điều 54 Nghị định 23); Nghị định số
117/2010/NĐ-CP (Điều 20) quy định các tổ chức, cá nhân có các hoạt động
nghiên cứu, giảng dạy, thực tập tại khu RĐD phải trả chi phí dịch vụ; tuy nhiên
cho đến nay chưa có văn bản nào quy định về vấn đề này.
4.2.2. Dịch vụ môi trường rừng
a) Các văn bản hướng dẫn Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010
của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, gồm:
- Thông tư của Bộ NN&PTNT hướng dẫn về nguyên tắc và phương pháp
xác định diện tích rừng trong lưu vực sông phục vụ cho việc chi trả tiền dịch vụ

tuy vậy, chưa có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ các vùng
nguyên liệu lâm sản tập trung.
b) 3 văn bản, Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn
đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 – 2015; Quyết
định số 73/2010/QĐ-TTg ngày 16/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành
quy chế quản lý đầu tư xây dựng công trình lâm sinh; Quyết định số 57/QĐ-TTg
ngày 9/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát
triển rừng giai đoạn 2011-2020 có một số bất cập sau:
- Theo Quyết định 60/2010/QĐ-TTg, trồng RPH, RĐD với mức hỗ trợ tối
đa 15 triệu đồng/ha, trong khi đó theo Quyết định 73/2010/QĐ-TTg, đầu tư
trồng rừng (theo dự án đầu tư xây dựng công trình lâm sinh) thực hiện theo định
mức kinh tế kỹ thuật, được tính đúng, tính đủ chi phí để đảm bảo thành rừng,
không quy định khống chế mức đầu tư (thường là cao hơn 15 triệu đồng/ha).
- Theo Quyết định 57/QĐ-TTg, các nhiệm vụ BV&PTR giai đoạn 2011-
2020 thực hiện theo cơ chế Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, giai đoạn 2011-
2015 thực hiện theo quy định tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg. Trong khi đó,
theo Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, ngoài đầu tư trồng rừng, hỗ trợ phát triển
RSX, khoanh nuôi tái sinh, xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo vệ rừng, chi phí quản lý
như quy định tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg, còn một số nội dung đầu tư khác
không được quy định tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg, như: chi phí khuyến lâm,
đóng cọc mốc ranh giới, trồng cây phân tán, công tác tuyên truyền quản lý bảo
vệ rừng, đào tạo tập huấn chuyên môn nghiệp vụ bảo vệ rừng tại thôn bản
- Theo Quyết định số 57/QĐ-TTg, vốn sự nghiệp kinh tế của nhà nước
bảo đảm cho việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, theo dõi diễn biến
rừng và đất lâm nghiệp, các chi phí sự nghiệp khác theo quy định hiện hành;
trong khi đó Quyết định số 60 quy dịnh các chi phí này lại được bố trí từ nguồn

15


tản mạn tại một số văn bản pháp luật.
e) Chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực lâm
nghiệp được quy định tản mạn trong một vài văn bản pháp luật, như Quyết định
60/2010/QĐ-TTg, Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 9/12/2011 của Thủ
tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày
10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển RSX giai
đoạn 2007-2015; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 1/6/2012 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng; tuy nhiên, theo quy
định tại Quyết định 73/2010/QĐ-TTg thì công trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục
vụ cho BV&PTR còn nhiều hạng mục chưa được quy định cụ thể tại các văn bản
này.
5.1.2. Tín dụng

16

- Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/08/2011 của Chính phủ về tín
dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước quy định danh mục các dự án
được vay tín dụng đầu tư của nhà nước, tuy nhiên, không có các dự án liên quan
đến lâm nghiệp (trồng rừng, chăm sóc rừng, nuôi dưỡng và phát triển rừng tự
nhiên nghèo kiệt…). Văn bản này cũng quy định chỉ có tổ chức, doanh nghiệp
mới được vay tín dụng đầu tư. Về tín dụng xuất khẩu, Nghị định này quy định
sản phẩm hàng mây tre đan, đồ gỗ xuất khẩu thuộc danh mục mặt hàng được
vay vốn tín dụng xuất khẩu; còn các hoạt động chế biến lâm sản khác không
thuộc danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước.
- Nghị định số 78/2010/NĐ-CP ngày 14/7/2010 của Chính phủ ban hành
về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ: Quyết định số
29/2011/QĐ-TTg 01/06/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục
ngành, lĩnh vực được hưởng mức lãi suất ưu đãi khi vay lại nguồn vốn vay ODA
của Chính phủ không quy định hoạt động trồng rừng, chăm sóc rừng, cải tạo
rừng tự nhiên nghèo kiệt, chế biến MDF từ gỗ rừng trồng trong nước thuộc

quản lâm sản; sản xuất ván nhân tạo trực tiếp từ nguồn nguyên liệu lâm sản
trong nước thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư nếu đầu tư tại địa bàn có điều
kiện kinh tế xã hội khó khăn được miễn 11 năm, trong khi đó theo Nghị định 61
được miễn 15 năm.
c) Tiền sử dụng đất
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu
tiền sử dụng đất, Nghị dịnh số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198 (Khoản 2 Điều 1) quy
định dự án trồng và chăm sóc rừng ở địa bàn kinh tế xã hội khó khăn được giảm
50%. Quy định như vậy chưa phù hợp do chu kỳ sản xuất lâm nghiệp dài, đầu tư
cao, rủi ro cao, dự án này còn góp phần quan trọng xóa đói, giảm nghèo. Mặt
khác không phù hợp với Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của
Chính phủ vể chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,
nông thôn (giảm 70%).
d) Xác định giá các loại rừng
- Xác định giá rừng theo Nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007
của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng chỉ là
giá trị lâm sản hàng hoá (giá trị sử dụng trực tiếp của rừng) .Việc Chính phủ ban
hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ
môi trường rừng đòi hỏi phải sửa đổi Nghị định 48 theo hướng tiếp cận giá trị
dịch vụ hệ sinh thái (xem xét cả giá trị sử dụng gián tiếp của rừng). Mặt khác,
Nghị định số 48 chỉ quy định nguyên tắc và phương pháp xác định giá rừng một
cách chung chung, khi vận dụng vào từng trường hợp cụ thể gặp khó khăn, đặc
biệt đối với một số giao dịch về rừng, như cho thuê rừng, tính tiền đền bù thiệt
hại về rừng, bồi hoàn giá trị đa dạng sinh học, chuyển mục đích sử dụng rừng,
xử lý vi phạm hành chính liên quan đến rừng
5.2. Những vấn đề chưa được pháp luật điểu chỉnh
a) Luật bảo vệ và phát triển rừng (Điều 33, 35) quy định tính giá rừng làm
cơ sở để tính tiền sử dụng rừng khi Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng
rừng, tính tiền cho thuê rừng và tính tiền bồi thường khi thu hồi rừng, tính vào

dụng rừng, tiền chuyển nhượng rừng bằng nguồn vốn của mình (không có nguồn
gốc ngân sách) cũng chỉ được hưởng giá trị tăng thêm của rừng - một quy định
thiếu rõ ràng, không rõ về cơ chế định giá trị tăng thêm ấy.
b) Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về sắp
xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh
- Điều 3 (nguyên tắc sắp xếp lại các lâm trường quốc doanh) đã tách bạch
cơ học các nhiệm vụ công ích và sản xuất kinh doanh trong cùng LTQD, dẫn
đến chia, tách LTQD thành các Ban quản lý rừng, làm giảm hiệu quả trong công
tác bảo vệ rừng cũng như hoạt động công ích. Trên thực tế, nhiều LTQD đang
quản lý RPH vẫn làm tốt các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và công ích được
giao (với điều kiện Nhà nước bảo đảm kinh phí bảo vệ RPH).
- Tiêu chí về diện tích 3 loại rừng (Điều 4) để xác định chuyển lâm trường
quốc doanh sang thành công ty lâm nghiệp hay ban quản lý RPH chưa rõ ràng.
- Điểm b khoản 4 Điều 7 quy định cho thuê đất hoặc giao đất có thu tiền
sử dụng đất đối với diện tích đất của các Công ty Lâm nghiệp sử dụng vào mục
đích kinh doanh. Tuy nhiên, đối với RSX là rừng tự nhiên nghèo, việc thu tiền
sử dụng đất hoặc cho thuê đất sẽ gây khó khăn cho các công ty lâm nghiệp vì
hầu như không có thu nhập gì từ những khu rừng này, trong khi đó công ty vẫn
phải bỏ chi phí để bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng cho đến khi rừng có
khả năng khai thác (thời gian từ 30-35 năm); sản phẩm khai thác đã phải nộp
thuế tài nguyên.

19

- Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm quản lý rừng của công ty lâm nghiệp - với
tư cách là một doanh nghiệp lâm nghiệp chưa được quy định rõ ràng. Đặc biệt
chính sách về RSX là rừng tự nhiên đã giao cho công ty lâm nghiệp. Với chính
sách hiện hành, rừng tự nhiên là RSX là tư liệu sản xuất quan trọng trong quá
trình sản xuất kinh doanh của công ty lại không phải là tài sản của công ty lâm
nghiệp. Công ty quản lý rừng tự nhiên về mặt hiện vật (rừng) chứ không quản lý

5.000 ha nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ: chắn gió, chắn cát
bay; khu RPH chắn sóng, lấn biển, liền vùng, tập trung, được thành lập Ban
quản lý; Ban quản lý khu RPH hoạt động theo cơ chế tài chính của đơn vị sự
nghiệp.

20

- Quyết định 186/2006/QĐ-TTg (Điều 27, 30) quy định tổ chức bộ máy
Ban quản lý rừng PH, theo đó, UBND cấp tỉnh quy định về tổ chức bộ máy, biên
chế Ban quản lý RPH thuộc tỉnh; biên chế ban đầu có ít nhất từ 7-9 người; được
tổ chức lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách với mức bình quân 1.000 ha/người;
khu RPH đầu nguồn có diện tích từ 20.000 ha trở lên được tổ chức lực lượng
kiểm lâm.
Tuy nhiên, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc thành lập Ban
quản lý RPH không thống nhất giữa các địa phương.
6.2.1.3. Quản lý rừng cộng đồng
- Luật BV&PTR (Điều 29, 30) quy định giao rừng cho cộng đồng dân cư
thôn, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng; tuy nhiên,
cho đến nay chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn riêng về chính sách đối với
cộng đồng được nhà nước giao quản lý, sử dụng rửng ổn định lâu dài vào mục
đích lâm nghiệp (Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ NN
và PTNT về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn
chỉ hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn cho 40 xã được chọn để thực
hiện Quyết định số 1641/QĐ/BNN-HTQT, ngày 05/6/2006 của Bộ trưởng Bộ
NN&PTNT về việc phê duyệt dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng
đồng 2006-2007”.
- Trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, chưa khẳng định rõ
địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn. Luật Dân sự năm 2005 (Luật cơ bản)
chưa thừa nhận cộng đồng là một pháp nhân, chính vì vậy, mặc dù cộng đồng là
“chủ rừng” đã được quy định trong Luật BV&PTR (Luật chuyên ngành), nhưng

rừng; quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên; quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm; quản lý
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi
sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật
hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; quản lý khai thác và gây nuôi một số loài động
vật rừng thông thường; phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm và lực lượng dân quân
tự vệ trong công tác bảo vệ rừng; quy định tính hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc
lâm sản; quản lý, sử dụng nguồn thu từ xử lý vi phạm hành chính đối với hành
vi buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản và một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
- Phát triển rừng: chỉ tiêu, nhiệm vụ trồng rừng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi
tái sinh rừng giai đoạn 2011-2020; quản lý giống cây trồng; hỗ trợ lương thực
trồng rừng thay thế nương rẫy; chính sách khuyến khích phát triển ngành mây
tre, khuyến lâm.
- Khai thác lâm sản RPH, RSX; dịch vụ nghiên cứu khoa học, chi trả dịch
vụ môi trường rừng, cho thuê RĐD.
- Đầu tư, tín dụng, tài chính: cơ chế đầu tư, hỗ trợ đầu tư đối với các hoạt
động trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ RĐD, phòng hộ, sản xuất, hoạt
động chế biến lâm sản, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; chính sách khuyến
khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; quản lý, thanh quyết toán vốn đầu
tư xây dựng công trình lâm sinh thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước. Chính
sách thuế và các khoản thu nộp ngân sách: xác định giá các loại rừng; quỹ bảo
vệ và phát triển rừng.
- Hệ thống tổ chức sản xuất lâm nghiệp: sắp xếp, đổi mới và phát triển
lâm trường quốc doanh; chuyển công ty nhà nước sang công ty TNHH 1TV do
Nhà nước làm chủ sở hữu; chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công
ty cổ phần; thành lập ban quản lý RĐD, RPH; khuyến khích phát triển về kinh tế
trang trại.

trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên
Lý do:
Trên thực tế, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã chấm dứt thực hiện giao,
khoán bảo vệ rừng theo Quyết định này từ cuối năm 2010, chủ yếu do các tỉnh
không bố trí được kinh phí để tiếp tục giao, khoán bảo vệ rừng; nhiều nơi không
bố trí được diện tích RSX để giao cho dân theo quy định tại Quyết định 304.
Nhiều thôn xã thuộc khu vực thực hiện Quyết định 304 cũng nằm trong
các huyện nghèo đang thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền
vững đối với 61 huyện nghèo. Thời gian thực hiện thí điểm đã kéo dài 6 năm (từ
năm 2006).
2. Văn bản cấp Bộ
Văn bản cấp Bộ (9 văn bản):

Trích đoạn GIAI ĐOẠN 2016-2020
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status