HỘI ĐỒNG CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CẤP BỘ 2011-2012
NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT 4 NHÀ: NHÀ NƯỚC
- NHÀ DOANH NGHIỆP - NHÀ KHOA HỌC VÀ NHÀ NÔNG ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÂY THUỐC VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Trần Ngọc Ca
Cơ quan: Văn phòng Hội đồng Chính sách Khoa học
và Công nghệ Quốc gia
9711
TRANG
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I
: NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG DƯỢC LIỆU THẾ
GIỚI - MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ KINH NGHIỆM PHÁT
TRIỂN DƯỢC LIỆU MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
10
I Nguồn dược liệu thế giới 10
II Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu 21
III Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Thái Lan
và Malaysia
31
IV Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Ấn Độ 39
V Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu c
ủa Hàn
Quốc
55
CHƯƠNG II
: NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG PHÁT
TRIỂN DƯỢC LIỆU Ở NƯỚC TA
64
I Nghiên cứu điều kiện tự nhiên cho phát triển dược liệu Việt Nam 64
II Tổng quan hiện trạng phát triển dược liệu ở nước ta 73
III Phân tích hiện trạng một số vùng trồng dược liệu trọng điểm ở
miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên
86
IV Phân tích hiện trạng phát triển dược liệu c
ủa một số doanh nghiệp
CHƯƠNG IV
: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MỐI LIÊN KẾT
GIỮA NHÓM ĐỐI TÁC (4 NHÀ) VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG DƯỢC
LIỆU
159
I Hiện trạng mối liên kết 4 nhà : Nhà nước – Nhà Doanh nghiệp –
Nhà Khoa học và Nhà Nông trong việc phát triển các vùng dược
liệu
159
II Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc liên kết giữa 4 Nhà trong
việc phát triển các vùng Dược liệu ở Việt Nam
184
III Kiến nghị và
đề xuất 192
CHƯƠNG V
: XÂY DỰNG MỘT SỐ MÔ HÌNH THÚC ĐẨY
LIÊN KẾT 4 NHÀ LÀM CƠ SỞ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÙNG DƯỢC LIỆU
200
I Phát triển các vùng dược liệu ở nước ta 200
II Xây dựng mô hình phát triển bền vững vùng dược liệu trên cơ sở
liên kết 4 nhà : Nhà nước – Nhà Doanh nghiệp – Nhà Khoa học -
Nhà Nông
202
III Xây dựng quy trình vận hành mô hình thí điểm sản xuất thử
nghiệm một số vùng dược liệu
206
KẾT LUẬN 247
c mục tiêu đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1.Tình hình nước ngoài: Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80%
dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc
sức khoẻ cộng đồng. WHO luôn khuyến nghị dùng các loại thuốc cổ truyền vào việc
chăm sóc sức khoẻ ban đầu vì mức độ an toàn,
hiệu quả cũng như bảo đảm nguồn cung cấ
p các loại thuốc này.
Chỉ tính riêng trong khu vực Châu Á, các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái
Lan đều có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, đa dạng và được sử dụng hiệu quả
trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của mỗi nước. Mối quan hệ của các nước này
trong “Cộng đồng dược liệu“ khá chặt chẽ để hỗ trợ nhau trong nghiên cứu và phát
triển nguồn dược liệu của mỗ
i nước, điều này được thể hiện rõ là gần đây nhất Hội 4
nghị Dược Đông Dương lần thứ 6 (Pharma-Indochina 6
th
Conference) được tổ chức tại
Thừa Thiên Huế (Việt Nam) từ ngày 16 đến 17 tháng 12 năm 2009. Tham dự Hội nghị
có các đại biểu từ Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Hà Lan, Việt Nam và Tổ
chức Y tế Thế giới. Tại Hội nghị đã có tới 45 báo cáo đã được trình bày về bào chế và
quản lý dược phẩm cũng như phát triển ngành dược phẩm trong tình hình suy thoái
kinh tế toàn cầu. Các đại biểu đã đ
ánh giá cao hai báo cáo của Việt Nam về gìn giữ và
phát triển nguồn tài nguyên dược liệu bền vững ở Việt Nam và công nghiệp dược
phẩm thế giới trong thập niên đầu của thế kỷ 21. Trong số các nước Châu Á có nguồn
dược liệu phát triển, chúng ta không thể không đề cập đến Trung Quốc- Một nước có
tiềm năng dược liệu đứng đầu thế giới. Ở Trung Quốc có khoảng 300 vùng nguyên
Nam), Núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Sa Pa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Đà Lạt (Lâm
Đồng) do không có kế hoạch điều tiết nên việc trồng trọt biến thiên tăng, giảm thất
thường theo cơ chế thị trường, có khi đột biến về giá cả tăng gấp hai, ba chục lần vì
trồng ít mà nhu cầu sử dụng và xuất khẩu tăng dẫn đến việc tư thương làm hàng giả để
chạy theo lợ
i nhuận, dẫn đến chất lượng dược liệu giảm và không an toàn cho người sử
dụng. Khi bị mất mối nhập khẩu nguyên liệu (ví dụ như: Quế, Sả) thì người dân lại phá
đi một diện tích lớn cây thuốc đã đựơc trồng lâu đời vì ế không có ai mua. (iii) Đối với
dược liệu nhập từ Trung Quốc hay còn gọi là thuốc bắc thì tình hình còn tồi tệ hơn.
Dường như việ
c nhập các vị thuốc bắc qua biên giới Trung Quốc và Việt Nam, Nhà
nước chỉ coi là một loại hàng hóa bình thường như đồ gia dụng, chứ không tính đến đó
là một sản phẩm đặc biệt, đó là thuốc ảnh hưởng đến tính mệnh của con người. Theo
đánh giá của các nhà kiểm nghiệm dược liệu thì trên thị trường thuốc đông dược
(nguyên liệu thô) hiện nay có rất nhiều vị dược liệ
u chỉ là hàng trung phẩm hay thứ
phẩm của Trung Quốc được bán sang Việt Nam và do thiếu nguyên liệu nên rất nhiều
dược liệu bị dùng thay thế bởi các nguyên liệu rẻ tiền hơn, chất lượng kém hơn.
Việc trồng cây thuốc nói riêng và sản xuất dược liệu nói chung mới có quy
hoạch vùng trồng hạn chế cho khoảng 30 loại dược liệu và chưa thực sự triển khai.
Tuy thế, quy hoạch trồng cũ
ng bị gặp khó khăn do sự không thống nhất giữa điều tra
tài nguyên dược liệu (theo địa lý hành chính) với phân bố và phát triển cuả cây thuốc
(theo vùng sinh thái). Cây thuốc được trồng tự phát, phương pháp canh tác truyền
thống chưa thực hiện theo hướng dẫn GACP-WHO do đó sản lượng và chất lượng
không ổn định, ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp. Việc khai thác dược liệu chưa có
tổ chứ
c, không có kế hoạch, không có hướng dẫn khai thác gắn với bảo tồn, phát triển
bền vững, dẫn đến một số loài cây thuốc có nguy cơ cạn kiệt hoặc tiệt chủng (Bảy lá
một hoa, Ba kích, Hà thủ ô đỏ ). Chất lượng dược liệu chưa được kiểm soát chặt chẽ
hình dược liệu trong nước để đánh giá tính khoa học, hiệu quả và tiềm năng của từng
loại; tổ chức bảo quản và phát triển gien cũng như giống loại dược liệu quý. Tăng
cường sự phối hợp doanh nghiệp và nhà khoa học để ngày càng có nhiều s
ản phẩm
thuốc quốc gia từ dược liệu. Việc phát triển dược liệu luôn gắn với dược phẩm thời
mới có kết quả mang tính bền vững. Các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức rà soát
văn bản liên quan để bổ sung thực tiễn, tạo điều kiện để dược liệu trong nước phát
triển”.
Trước thực trạng còn nhiều bất cập trong sự
phát triển dược liệu của đất nước,
dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia, GS.TSKH Đỗ
Trung Tá, nhóm nghiên cứu của Hội đồng đã lựa chọn Đề tài “Nghiên cứu xây dựng
cơ chế, chính sách liên kết 4 nhà: Nhà Nước - Nhà Doanh nghiệp - Nhà Khoa học -
Nhà Nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt Nam”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về
đối tượng: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trực tiếp
liên quan đến dược liệu để hoàn thiện các cơ chế, chính sách về dược liệu.
- Về phạm vi nghiên cứu: Phạm vi các doanh nghiệp, các trường Đại học, Hội
và hiệp hội dược, các viện nghiên cứu, các bệnh viện, các văn phòng pháp quy và một 7
số vùng trồng dược liệu. Nghiên cứu dựa trên việc khảo sát về sự liên kết giữa 4 nhà:
Nhà nước, Nhà doanh nghiệp, Nhà Khoa học và Nhà nông.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan từ năm 1990 đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách liên kết “4 nhà”: Nhà nước - Nhà
Doanh nghiệp - Nhà khoa học và Nhà Nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây
thuốc Việt Nam.
8
6. Đóng góp của đề tài
Các sản phẩm chính:
1. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài và kiến nghị.
2. Bộ dữ liệu về nghiên cứu khảo sát hiện trạng phát triển Dược liệu ở nước ta
trong thời gian qua.
3. Đánh giá tình hình và nhu cầu về dược liệu ở nước ta.
4. Đánh giả một số vùng về sản xuất dược liệu của Việt Nam .
5. Đề
xuất một số cơ chế chính sách liên kết “4 nhà”: Nhà nước – Nhà Doanh
nghiệp - Nhà Khoa học và Nhà Nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt
Nam
6. Đề xuất thử một số mô hình liên kết 4 Nhà trên cơ sở vùng dược liệu phát
triển bền vững.
7. Xây dựng quy trình tổ chức vận hành mô hình sản xuất thử nghiệm một số
cây thuốc mang tính bền vững qua sự liên kết 4 Nhà tại 3 địa bàn c
ụ thể.
7. Ý nghĩa của đề tài
Lợi ích của đề tài:
a) Tác động đến xã hội:
- Khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu xây dựng Mô hình nuôi trồng các
cây thuốc có thế mạnh của Việt Nam là khả thi tại một số doanh nghiệp cụ thể.
- Các kết quả nghiên cứu có lợi cho các doanh nghiệp nuôi trồng dược liệu.
- Đóng góp vào việc hoàn thiện xây dựng cơ chế chính sách liên k
ết 4 Nhà để
triển khai thực nghiệm cây thuốc có thế mạnh của Việt Nam và đề xuất cơ chế, chính
sách cho Mô hình này phát triển.
- Kết quả của Đề tài có tác động đến tổ chức chủ trì là thực hiện một đề tài
nghiên cứu có tính thực tiễn và khả thi. Đối với doanh nghiệp được thụ hưởng Mô
hình mẫu và chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc nuôi trồng các cây thuốc Việt
Ước tính trên thế giới có khoảng 422.000 loài cây có hoa. Khoảng từ 35.000
đến 70.000 loài được dùng với mục đích chữa bệnh trong đó ít nhất 6.500 loài có ở
Châu Á (Karki và Williams, 1995). Đây là một trong những vùng sinh thái lớn nhất
trên thế giới mà có những nước giàu tài nguyên thực vật nhất. Châu lục này có hệ thực
vật đa dạng, sự phong phú chỉ tập trung chủ yếu ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệ
t
đới. 6 trong số 18 điểm nóng cụ thể là phía đông Himalaya, Bắc Mã Lai, bán đảo
Malaysia, Sri Lanka, Philippines và phía tây hai dãy núi miền Nam Ấn Độ ở Châu Á.
Những quốc gia thuộc vùng này có hệ thực vật rộng lớn, ví dụ như Trung Quốc
(30.000 loài cây mọc trên cao), Indonesia (20.000), Ấn Độ (17.000), Myanma
(14.000), Malaysia (12.000) và Thái Lan (12.000). Đảo Mã Lai có khoảng từ 20.000
đến 25.000 loài (Anonymous, 2004).Số lượng các loài thực vật và các loài đặc hữu
trong khu vực là:
Bảng 1: Phân bổ các loài thực vật châu Á
Khu vực Số loài Đặc h
ữu
Đông Nam Á 42-50.000 40.000
Trung Quốc và Đông Á 45.000 18.650
Tiểu Ấn 25.000 12.000
Tây Nam Á 23.000 7.100
Nguồn: thu thập của đề tài. 11
Các cây hương, dược liệu là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đại đa số
người dân ở Châu Á và là nguồn thu chủ yếu của những người sống ở nông thôn. Họ
kiếm sống bằng việc bán cây nguyên liệu hoang dã hoặc trồng cây thuốc. Khoảng 90%
cây được hái lượm ở rừng. Chỉ một số nước chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,
Nepal, Thái Lan và Việt Nam sản xuất cây h
ương, dược liệu về mặt thương mại. Một
cây Ayurveda, 700 trong y học Unani, 600 trong y học Siddha và 30 trong y học hiện
đại. Điều này khiến Ấn Độ trở thành một trong 12 quốc gia có đa dạng sinh học lớn 12
của thế giới, mặc dù chỉ chiếm có 2,5% trong tổng diện tích đất, chiếm trên 8% các
loài được ghi nhận của thế giới.
Tổ chức y tế thế giới WTO ước tính đến 80% dân số thế giới sử dụng thảo mộc
để chăm sóc sức khỏe ban đầu. Thảo mộc hay còn gọi là dược liệu, là thành phần
chính trong y học cổ truyền của người dân bản xứ và là yếu tố
phổ biến trong
ayurvedic, thiên nhiên liệu pháp (naturopathic), y học cổ truyền phương Đông và y
học của người bản xứ Mỹ Ấn. Sự tinh vi của các biện pháp chữa trị sử dụng thảo mộc
phát triển cùng với sự tiến bộ về công nghệ của các nước sản xuất và sử dụng chúng.
Thuốc được sử dụng ở Châu Âu có nguồn gốc thực vật cũng tương t
ự như các
loại thuốc mới ở Mỹ, nơi mà các loại thuốc được xem như là an toàn, hiệu quả và chất
lượng. Đặc điểm của việc điều tiết thuốc của Châu Âu là làm sao cho thị trường đó trở
lên thân thiện hơn với các phương pháp trị liệu sử dụng các nguồn tự nhiên.
Ở châu Âu, để chứng nhận một loại thuốc an toàn và hữu hiệu thì ng
ười ta mất
ít thời gian hơn. Theo cách làm này, một khi một liệu pháp được cho là an toàn, thì các
nhà chức trách theo tiêu chuẩn về bằng chứng đó để quyết định xem loại thuốc đó có
chắc chắn an toàn sử dụng và mang lại hiệu quả hay không. Quy trình này giúp giảm
rất nhiều đối với chi phí chứng nhận thuốc mà không cần phải hứa hẹn xem loại thuốc
đó có an toàn hay không.
Cộng đồng kinh tế Châu Âu, nhận định rằng nhu c
ầu tiêu chuẩn hóa quá trình
phê chuẩn thuốc dược liệu, đưa ra một loạt các hướng dẫn, chất lượng các phương
pháp trị bệnh bằng dược liệu. Những hướng dẫn này chỉ ra các tiêu chuẩn về chất
của Châu Âu chiếm 1/3 tổng thị ph
ần toàn cầu. Về mặt quốc gia, thị phần nhập khẩu
của Mỹ đạt 12%, Đức và Nhật Bản đạt 11%. Trong danh sách 12 quốc gia nhập khẩu
nhiều nhất, Hồng Kông là nước nhập khẩu cây dược liệu lớn nhất, với tổng sản lượng
trung bình năm xấp xỉ đạt 59.950 tấn. Tiếp theo là Mỹ và Nhật Bản, với tổng sản
lượng trung bình lần lượt là 51.200 tấ
n và 46.450 tấn/năm. Đức xếp vị trí thứ 4, tổng
sản lượng trung bình/năm 44.750 tấn. Ngoài ra còn khoảng 5 quốc gia Châu Âu khác,
tất cả đều là thành viên khối Liên minh Châu Âu, cũng nằm trong top 12 nước nhập
khẩu lớn nhất.
Về xuất khẩu, Trung Quốc đứng đầu danh sách 12 nước xuất khẩu nhiều nhất.
Tổng sản lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình/năm trong giai đoạn 1991 – 2003
của quốc gia này
đạt khoảng 150.600 tấn, chiếm 1/3 tổng giá trị xuất khẩu toàn cầu.
Con số này cao gấp 3 lần so với khối lượng xuất khẩu của Hồng Kông (tính cả tái xuất
khẩu), gấp 4 lần Ấn Độ và Mexico, và gấp 10 lần Đức và Mỹ. Những quốc gia xuất
khẩu lớn gồm Ai Cập, Bulgaria và Chile. Hai quốc gia khu vực Đông Nam Châu Âu là
Bulgaria và Albania cũng nằm trong danh sách này. Từ năm 1991 đến 2003, tổng sản
lượng xu
ất khẩu thế giới đã tăng 55%, từ 377.300 tấn lên 584.700 tấn.
Cùng xếp thứ hạng cao cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu, Hoa Kỳ, Đức và Hồng
Kông là những trung tâm thương mại lớn và quan trọng về cây dược liệu. Cả 3 nước
đều có khối lượng xuất nhập khẩu thảo dược lớn. Trong thời kỳ 1992 – 2003, Mỹ nhập 14
khẩu trung bình 51.200 tấn cây dược liệu, tương đương giá trị 1,4 tỷ USD; trong khi
sản lượng xuất khẩu là 13.050 tấn, tương đương giá trị 1,05 tỷ USD. Sự chênh lệch rõ
ràng giữa giá trị hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Mỹ cho thấy, quốc gia này chủ
yếu nhập khẩu nguyên liệu tự nhiên, hoặc ít nhất đã sơ chế qua, và xuất khẩu sau khi
Đức còn nhập khẩu trung bình hơn 2000 t
ấn thảo dược từ các nước như: Sudan, Chile,
Hungary, Ai Cập và Trung Quốc. Theo một phân tích về số liệu nhập khẩu theo vùng,
43% nguyên liệu thảo dược nhập vào Đức (tương đương 19.120 tấn) có nguồn gốc từ 15
Châu Âu. Đức xuất khẩu cây dược liệu cho 147 nước trên thế giới, nhưng 75% tổng
giá trị lại chỉ gói gọn trong 12 quốc gia, trong đó Áo là nước nhập khẩu nhiều nhất, kế
đến là Thụy Điển, Mỹ và Italia. Trong số 12 quốc gia nói trên, chỉ có một nước duy
nhất thuộc Châu Âu là Hoa Kỳ, và 8 quốc gia khác là thành viên của Liên Minh Châu
Âu, chiếm 52% tổng giá trị xuất khẩu của Đức. Nhìn chung, không dưới 75% giá trị
xuất khẩu cây d
ược liệu đến từ các quốc gia Châu Âu.
Như đã trình bày trên đây, phân tích về số liệu xuất nhập khẩu cây dược liệu
theo vùng của Đức cho thấy có sự phân chia thị phần rõ ràng trong nội bộ Châu Âu.
Bên cạnh đó, theo phân tích số liệu xuất nhập khẩu cây dược liệu của Châu Âu, sự
thống trị về thương mại của Đức trong nội bộ khu vực càng được khẳng định thêm vì
(1) 1/3 t
ổng khối lượng thảo dược nhập khẩu vào Châu Âu có nguồn gốc từ Đức; (2)
thị phần xuất khẩu của quốc gia này chiếm xấp xỉ 1/5, xét về khối lượng; (3) Đức là
một quốc gia nhập khẩu cây dược liệu quan trọng của các nước Đông và Nam Đông
Âu (2/3 tổng sản lượng xuất khẩu). Như vậy, Đức là một trung tâm quan trọng về xuất
nhập khẩ
u thảo dược trong nội bộ các quốc gia Châu Âu, đặc biệt, quốc gia này còn là
cầu nối giữa các thị trường Đông và Nam Đông Âu với thị trường Đông và Trung Âu,
chủ yếu cung cấp cây dược liệu cho các nước thành viên EU.
Trung tâm thương mại thứ 3 về mặt hàng thảo dược là Hồng Kông, hoạt động
chủ yếu trong khu vực Đông và Đông Nam Á. Hàng năm, Hồng Kông nhập khẩu trung
bình 59.950 tấn thảo dược, tươ
trung bình đạt 14.200 tấn. Các quốc gia tiêu thụ thường nhập khẩu nguyên liệu tự
nhiên hoặc đã sơ chế một phần từ ngành công nghiệp phát triển nhất của mình, ví dụ
như chiết xuất, hương liệu, trà, mỹ phẩm hoặc dược phẩm, sau đó bán lại dưới dạng
thành phẩm cho thị trường trong nước hoặc xuất khẩu ra nước ngoài.
Đức và Mỹ, ngoài vai trò trung tâm th
ương mại, cũng nằm trong nhóm những
quốc gia tiêu thụ nguyên liệu thảo dược nhiều nhất thế giới. Mặt khác, Trung Quốc là
nước cung cấp nguyên liệu tự nhiên quan trọng nhất cho thị trường cây dược liệu và
hương thảo thế giới, giá trị xuất khẩu ròng của quốc gia này trung bình đạt 135.000
tấn. Ấn Độ, với giá trị xuất khẩu ròng trung bình 34.250 tấn, xếp vị trí thứ 2. Trong
khu vự
c Châu Âu, Bulgaria và Albania là những quốc gia xuất khẩu cây dược liệu
nhiều nhất; trong khu vực Châu Mỹ là Mexico và Chile; còn ở Châu Phi là Ai Cập và
Morocco. Giá trị nhập khẩu ròng trung bình của những nước này dao động trong
khoảng 7950 – 10.000 tấn.
Từ năm 1991 đến 2003, trung bình Nhật Bản nhập khẩu 46.450 tấn cây dược
liệu/năm, tương đương giá trị 131 triệu USD. Hơn 50% nguyên liệu của quốc gia này,
và 53% năm 2003, được nhập khẩu từ Trung Quốc. Các nước xu
ất khẩu nguyên liệu
quan trọng khác cho Nhật Bản gồm Ấn Độ (17% năm 2003) và Thái Lan (15% năm
2003). Năm 2003, Nhật còn nhập khẩu từ Việt Nam (3,3%) và Sudan (3%).
Mỗi năm, Hàn Quốc nhập khẩu trung bình 33.500 tấn thảo dược, đạt giá trị 50
triệu USD. Năm 2003, nguyên liệu này được nhập từ ít nhất 49 quốc gia, tuy nhiên,
không dưới 88% lượng hàng hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc, còn lại được nhập khẩu 17
từ Uzbekistan (3%) và Myanmar (2%). Khối lượng xuất khẩu của Hàn Quốc tương đối
thấp, trung bình là 1990 tấn, nhưng mang lại giá trị cao, 66 triệu USD. Điều này có
liên quan đến việc Hàn Quốc là một trong những quốc gia xuất khẩu rễ cây nhân sâm
trung bình của quốc gia này lại cao, nhờ sự tăng trưởng đáng kể về khối lượng xuất
khẩu từ năm 2000. Trong thập niên 90, xuất khẩu chỉ dao động từ 4700 – 17.600 tấn,
nhưng sau đó, đã tăng lên 42.550 tấn năm 2000, 81.550 tấn năm 2001, 130.150 tấn 18
năm 2002 và 147.300 tấn năm 2003. Nhìn chung, sản lượng xuất khẩu đã tăng gấp 16
lần so với trước đó. Có đến 99% giá trị xuất khẩu là của thị trường Mỹ.
Đứng thứ hai về nguồn cây dược liệu là Chile, mỗi năm xuất khẩu trung bình
9850 tấn, và dao động trong khoảng 9000 – 16.000 trong cả thời kỳ điều tra thống kê.
Tổng giá trị thu được trung bình lên tới 26,4 triệu USD. Mỗi năm, trung bình Chile ch
ỉ
phải nhập khẩu 320 tấn nguyên liệu thảo dược. Mặt hàng này được xuất khẩu đến ít
nhất 35 quốc gia, trong đó Đức là nước nhập khẩu nhiều nhất, chiếm 38% thị phần
năm 2003, theo sau là Nam Mỹ 35%, Brazil 14% và Argentina 13%.
Theo thống kê trong cơ sở dữ liệu COMTRADE, ở lục địa Phi Châu, Ai Cập là
quốc gia có lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình cho thị trường thế giới cao nhất.
Từ
1991 đến 2003, Ai Cập đã xuất khẩu trung bình 11.800 tấn/năm, tương đương giá
trị 13,5 triệu USD, cho ít nhất 66 quốc gia. Đối tác kinh doanh chính của Ai Cập là
Đức, chiếm 26% thị phần xuất khẩu năm 2003, và Mỹ 20%. Ngoài ra, một số quốc gia
nhập khẩu nguyên liệu từ Ai Cập với số lượng lớn còn có BaLan, Anh, Hà Lan, Italia
và Pháp. Khối lượng xuất khẩu của nước này dao động trong khoảng 6000 – 16.000
tấn. Trong khi đó, lượng nhậ
p khẩu trung bình là 3520 tấn, tương đương giá trị 2,4
triệu USD. Ngoài Ai Cập, một quốc gia Châu Phi khác là Morocco cũng có khối lượng
xuất khẩu cây dược liệu trung bình/năm cho thị trường thế giới cao, đạt 8500 tấn,
tương đương giá trị 13,7 triệu USD. Từ 1991 đến 2003, khối lượng xuất khẩu đã tăng
từ 6700 tấn lên 10.750 tấn.
I.3. Vấn đề giá thành xuất - nhập khẩu cây dược liệu:
xuất khẩu hàng năm của thế giới là 2550 USD/tấn. Nhìn chung, những quốc gia tiêu
thụ nhiều thảo dược và những nước có ngành công nghiệp chế biến cây dược liệu phát
triển mạnh thường có giá xuất khẩu cao hơn; chẳng hạn, thảo dược nguồn gốc từ Pháp
có giá 4980 USD/tấn, từ Thụy Điển giá 7790 USD/tấn, Nhật Bản 20.810 USD/tấn và
Hàn Quốc 33.230 USD/tấn. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm đã chế biến hoặc
thảo mộc có giá trị kinh tế lớn (như rễ nhân sâm của Hàn Quốc). So với những con số
thống kê trên đây, giá xu
ất khẩu bình quân của Đức là tương đối thấp, khoảng 4520
USD. Đây là một thực tế đáng kinh ngạc, mặc dù vậy, nó càng làm nổi bật vai trò
trung tâm thương mại của Đức trên phạm vi toàn thế giới và Châu Âu là khu vực có thị
phần xuất khẩu nguyên liệu tự nhiên hoặc sản phẩm đã sơ chế qua tương đối lớn.
Những quốc gia xuất khẩu nguyên liệu thảo dược nhiề
u nhưng giá thấp hơn bình quân
thế giới gồm có: Trung Quốc 1770 USD/tấn, Ấn Độ 1530 USD/tấn, Albania 1450
USD/tấn, Bulgaria 1400 USD/tấn và Ai Cập 1150 USD/tấn. Ngoài ra, còn một nước
xuất khẩu cây dược liệu khác với giá thành vô cùng rẻ là Mexico, chỉ 380 USD/tấn.
Giá những loài thảo dược xuất xứ từ Azerbaijan, Bangladesh, Belize và Niger cũng
thấp tương tự, dao động từ 250 – 350 USD/tấn. Giá thấp chứng tỏ rằng hàng hóa được
xuất khẩu chủ yếu d
ưới dạng thô tự nhiên (chưa qua chế biến), và hầu hết là cây dại.
Lãi chênh lệch giữa xuất và nhập cũng tương đối thấp. Do vậy, chỉ những người thất
nghiệp hoặc nhân công không có tay nghề hoặc thu nhập thấp mới đi thu hái thảo
dược. Thông thường, hoạt động này hay phổ biến ở những nước có thu nhập trung
bình thấp, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, và/hoặ
c đời sống người dân nghèo khổ. 20
Các quốc gia có nhu cầu sử dụng lớn thường mua nguyên liệu từ những nước bán giá
thấp để kiếm lời chênh lệch. Điều này đã giúp giải thích cho việc kim ngạch xuất khẩu
ngày càng lớn về bảo tồn các quần thể thực vật hoang dã do tình trạng thu hái tràn lan
để bán, kinh doanh không kiểm soát, và mất sinh cảnh. Như đã đề cập trong phần mở
đầu, những thống kê chi tiết cần thiết về số liệu thương mại (quốc tế) về cây dược liệu
(kích thước, cấu trúc, dòng giống, số lượng giao dịch và nguồn gốc) là (1) rất cần thiết
cho việc đ
ánh giá những tác động của hoạt động kinh doanh này đến các quần thể thực 21
vật liên quan; và (2) đòi hỏi phải có kế hoạch và biện pháp bảo tồn để đảm bảo nguồn
cung và dự trữ những loài cần bảo tồn cho tương lai. Để giảm áp lực tác động lên
những quần thể thực vật này, cần tăng giá trị nguyên liệu thảo dược xuất khẩu bằng
cách thực hiện công đoạn sơ chế ban đầu ngay tại quốc gia xuất xứ
và/hoặc tăng thu
nhập cho nhân công thu hái.
II. Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Trung Quốc
II.1.Tiềm năng dược liệu và hệ thống Y học cổ truyền Trung Quốc
Đã từ lâu, y học cổ truyền đã được đưa vào hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc
gia. Trung Quốc có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú, với rất nhiều loài dược liệu
và thảo m
ộc, phần lớn những loài này được người dân gieo trồng.
Y học cổ truyền Trung Hoa có lịch sử hơn 4000 năm phát triển. Hiện nay, nó đã
trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia cùng với
y học phương Tây. Việc chữa bệnh bằng y học cổ truyền thường dựa trên đánh giá
toàn diện về người bệnh và các triệu chứng bệnh. Các liệ
u pháp điều trị trong y học cổ
truyền Trung Quốc bao gồm: thuật châm cứu, thuốc thảo dược, trị liệu bấm huyệt
(manual therapies), tập thể dục, kỹ thuật hít thở và chế độ ăn uống. Châm cứu là liệu
pháp được sử dụng nhiều nhất và phổ biến rộng rãi ở khắp mọi nơi trên thế giới. Gần
phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước, những loài kể trên còn được xuất khẩu sang Nhật
Bản, các nước Đông Nam Á và Tây Âu. Mỗ
i năm, Vũ Hán sản xuất được 25.000 tấn
thảo dược.
Có gần 1000 loài thảo mộc được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc dân gian
Trung Quốc, trong đó hơn ¾ được thu hoạch từ tự nhiên. Từ năm 1979, nhu cầu khám
chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã tăng 9%/năm. Chính sự tăng lên về nhu cầu cả ở
trong nước và nước ngoài này đã dẫn đến tình trạ
ng khai thác quá mức và đẩy nhanh
tốc độ thoái hóa nguồn tài nguyên cây dược liệu và thảo mộc tự nhiên của quốc gia.
Một số loài dược liệu và thảo mộc quan trọng của Trung Quốc bao gồm:
Nhân sâm châu Á (Panax quinquefolius ) du nhập vào Trung Quốc từ năm
1975. Loài cây này được gieo trồng tại hơn 10 tỉnh thành và cho sản lượng thu hoạch
hàng năm hơn 50 tấn. Văn phòng Kiểm lâm Mục Lăng (Muling Forestry Bureau)
thuộc tỉnh Hắc Long Giang là cơ sở sản xu
ất loài cây này lớn nhất Trung Quốc, với
47.000 m
2
diện tích đất gieo trồng nhân sâm.
Cây Macrocarpium (Macrocarpium officinalis (Sieb.et Zucc.) Nakai.) được
trồng phổ biến ở nhiều tỉnh như Triết Giang, An Huy, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây và
Tứ Xuyên. Sản lượng thu hoạch hàng năm của quốc gia đối với loài cây này dao động
trong khoảng 600 – 900 tấn. Tổng diện tích đất canh tác Macrocarpium năm 1987 là
1333 ha, cho sản lượng hàng năm 160 tấn.
Cây Bạch quả (Ginkgo biloba L.) được phân bố trên khắp 20 tỉnh thành quốc
gia với khoảng 0,7 – 0,8 triệu cây. Sản lượ
ng thu hoạch hàng năm: nhân hạt đạt 5000 –
6000 tấn; lá đạt 7000 tấn; và vỏ hạt đạt 10.000 – 12.000 tấn.
dùng cùng những hình ảnh về cây dược liệu.
II.2. Quy hoạch các vùng dược liệu và thảo mộc ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, nguồn dược liệu được tập trung phát triển theo quy hoạch các
vùng/miền mà điều kiện thiên nhiên phù hợ
p nhất với các loại dược liệu, đó là các
miền/vùng cụ thể như sau:
II.2.1. Miền núi: