Cơ chế liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường của Thái
Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
TS. Bảo Trung
Mía đường là một trong những cây trồng chủ yếu của Thái Lan. Ở vùng
Bắc và Đông Bắc, mía đường được canh tác chủ yếu dựa vào “nước trời”, thời
gian trồng vào vào tháng 10-12, ngay khi mùa mưa chấm dứt. Ở vùng Trung
tâm, mía đường được trồng trong giai đoạn tháng 2-4 trong điều kiện nước
tưới và từ tháng 4-5 trong điều kiện sử dụng “nước trời”. Thời gian trung bình
từ lúc trồng đến thu hoạch từ 10-14 tháng tùy theo giống. Nông dân chỉ lưu
gốc 1-2 vụ. Thái Lan đứng hàng thứ 5 trên thế giới về sản xuất mía đường,
sau Brazin, Ấn Độ, Mexico và Trung Quốc.
Tính đến niên vụ năm 2010/2011, Thái Lan có 47 nhà máy chế biến
đường với công suất chế biến 620.000 tấn/ngày (Tấn mía ngày-TMN). Số
lượng nông dân trồng mía là 190.000 người; diện tích 1,25 triệu ha nằm trên
49 tỉnh ở 4 vùng: Trung tâm, Bắc, Đông và Đông Bắc. Ngành sản xuất mía
đường Thái Lan mang về 3,7 tỷ baht, tương đương 11% giá trị sản xuất nông
nghiệp và tạo ra việc làm cho 1,5 triệu người trong ngành đường và các
ngành có liên quan (OCSB, 2011).
Theo số liệu công bố chính thức của OCSB, niên vụ 2010-2011, sản lượng
mía của Thái Lan đạt 95,7 triệu tấn và theo dự báo niên vụ 2011-2012, sản
lượng đường có thể đạt đến 100 triệu tấn, tăng 4,4% so với niên vụ 2010-
2011. Mặc dù năm 2011, Thái Lan phải đương đầu với trận lũ “lịch sử” gây
thiệt hại khoảng 30.000 rai (4.800 ha - 1 rai=0,16ha) nhưng nhờ sản lượng
tăng lên đạt mức 12,3 tấn/rai (tương đương 76,92 tấn/ha). Mía đường Thái
Lan hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến đường.
Niên vụ 2010-2011, sản lượng mía sử dụng trong ngành chế biến đường
chiếm 99,7%; chỉ có một lượng nhỏ là 300 tấn phục vụ cho sản xuất Alcohol.
Thái Lan là một trong những quốc gia xuất khẩu đường hàng đầu thế
giới. Năm 2011, Thái Lan đứng hàng thứ hai sau Brazil trong việc xuất khẩu
đường. Thị trường xuất khẩu đường chủ yếu là chấu Á, chiếm tỷ lệ trên 90%.
Trong đó các nước ASEAN nhập khẩu đường từ Thái Lan theo đường chính
định đã duy trì thu nhập của người trồng mía và nhà máy chế biến ở mức cao.
Trong thời gian này, hệ thống chia sẻ thu nhập giúp giải quyết mâu thuẫn giữa
người trồng mía và nhà máy chế biến và điều này đã đóng góp vào sự mở
rộng ngành công nghiệp mía đường thập niên 1990.
Hàng năm chính phủ có nhiệm vụ xác định mức giá đường tiêu thụ cố
định ở thị trường nội địa và thường cao hơn so với mức giá xuất khẩu. Cơ chế
cố định mức giá tiêu thụ nội địa ở mức cao không những giúp gia tăng thu
nhập cho người trồng mía và nhà máy mía đường mà còn góp phần giảm tốc
độ tiêu thụ đường trong nước, gia tăng lượng đường thặng dư để xuất khẩu.
Hàng năm, chính phủ thỏa thuận với người trồng mía, các nhà máy chế biến
đường và dự báo diễn biến giá đường thế giới để xác định mức giá cơ sở ban
đầu nhà máy chi trả cho nông dân. Nếu mức giá cuối mùa cao hơn mức giá
đầu mùa, phần thu nhập bổ sung sẽ được chi trả cho nông dân; nếu giá cuối
mùa thấp hơn thì chính phủ sẽ trợ cấp cho các nhà máy theo các mức khác
nhau từ Quỹ Hỗ trợ và Phát triển ngành mía đường. Quỹ này được thành lập
bằng cách trích 1-2% từ hệ thống phân chia thu nhập hàng năm.
Năm 1992, Thái Lan bắt đầu áp dụng chính sách định giá dựa trên chất
lượng và độ ngọt đo bởi chữ đường (CCS). Hệ thống này nhằm mục đích kích
thích cải tiến năng suất. Giá tiêu chuẩn dựa trên CCS do chính phủ công bố.
Giá này là giá trả cho mía 10 CCS. Mỗi CCS tăng thêm sẽ nhận được thêm một
1 Tập quyền mua (Oligosony) là một thị trường mà ở đó có một vài người mua. Với một hoặc
chỉ vài người mua, một số người mua có thể có sức mạnh độc quyền mua. Độc quyền mua
(Monopsony) là một thị trường ở đó chỉ có một người mua. Sức mạnh độc quyền mua tạo cho người
mua mua hàng hóa với giá thấp hơn giá đáng lẽ xuất hiện trên thị trường cạnh tranh [4].
2
khoản thanh toán bằng tỷ lệ 6% của giá tiêu chuẩn. Mía với hàm lượng đường
ít hơn 10 CCS sẽ bị trừ ở mức tương tự. Trong thực tế, người trồng được luôn
luôn được trả ở mức giá mía tiêu chuẩn như là mức tối thiểu, bất kể chất
lượng mía của họ. Ngoài ra, độ tinh khiết của nước mía cũng được xem xét để
thiết lập mức giá. Mía mới cắt có độ tinh khiết cao hơn và sản xuất đường
1992 1099 12,00 420 516
1993 1099 12,00 490 533
1994 1099 12,00 520 569
1995 1099 12,00 500 538
1996 1099 12,00 500 561
1997 1099 12,00 600 703
1998 1100 12,50 500 485
1999 1100 12,50 450 478
2000 1177 12,50 600 693
2001 1177 13,25 530 520
3
2002 1177 13,25 500 531
2003 1177 13,25 465 504
2004 1177 13,25 620 658
2005 1177 13,25 800 847
2006 1498 16,50 800 702
2007 1498 16,50 638 672
2008 2033 21,85 830 918
2009 2033 21,85 965 1000
2010 2033 21,85 1045 NA
Lưu ý:
- Hệ thống chia sẻ doanh thu 70:30 bắt đầu từ năm 1982/1983 nên số liệu về giá
tạm tính ban đầu không có.
- Giá mía được tính theo 10 CCS bắt đầu từ vụ mùa năm 1994-1995
- Giá mía sau cùng trung bình được chia theo sự đánh giá từng vùng khác nhau kể
từ vụ mùa 1996-1997
- Giá bán lẻ đường trắng tăng lên 13,25 Baht/kg từ ngày 2/6/2000.
- Giá bán buôn và bán lẻ đường trắng lần lượt 1.480 baht/tấn và 16,50 baht/kg từ
ngày 7/3/2006.
- Giá bán buôn và giá bán lẻ đường trắng tăng lên 2.300 baht/tấn và 21,85 baht/kg
của Uỷ ban đường để đảm bảo đủ nguồn cung quanh năm. Phúc lợi người tiêu
dùng được bảo vệ bởi việc kiểm soát mức giá tối đa cho việc bán đường trong
nước.
5
Nguồn: Ammar (1993), trích lại Benchaphun Ekasingh, Chapika
Sungkapitux, Jirawan Kitchaicharoen và Pornsiri Suebpongsang(2007) [1].
Hình : Kênh tiêu thụ đường nội địa
Hạn ngạch B và C cho xuất khẩu:
Sau khi hạn ngạch A được thực hiện, phần đường còn lại được phân bổ
theo hạn ngạch B và C. Kênh tiêu thụ hạn ngạch B và C được thể hiện trong
hình dưới. Hạn ngạch B được chia thành hai phần: một nửa được phân bổ cho
các nhà môi giới đường quốc tế và một nửa khác được bán xuất khẩu bởi các
nhà chế biến đường địa phương. Công ty Mía đường và đường (TCSC) chịu
trách nhiệm toàn bộ việc định giá và bán đường thô theo hạn ngạch này. Hạn
ngạch C là thặng dư xuất khẩu. Các nhà máy chế biến đường định giá riêng
cho họ, nhưng phải trả tiền cho người trồng mía tối thiểu theo giá bán của
TCSC. Việc mua bán này được thực hiện bởi các công ty được phép xuất khẩu.
Các nhà máy này phải đáp ứng mục tiêu sản xuất hạn ngạch A và B, trước khi
họ được phép xuất khẩu theo hạn ngạch C.
6
Nguồn: Ammar (1993), trích lại Benchaphun Ekasingh, Chapika Sungkapitux,
Jirawan Kitchaicharoen và Pornsiri Suebpongsang(2007) [1].
Hình : Kênh phân bổ hạn ngạch A, B, C
Hệ thống phân bổ hạn ngạch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển ngành công nghiệp mía đường Thái Lan. Thứ nhất, việc xác định
tiến trình xuất khẩu minh bạch hơn do người trồng mía chịu trách nhiệm định
giá hợp đồng hạn ngạch B. Tiến trình xuất khẩu chịu ảnh hưởng quyết định
của người trồng mía. Thứ hai, việc định giá hợp đồng hạn ngạch B dựa trên
chế biến đường trong trường hợp các nhà máy đã hình thành Hiệp hội để
thống nhất giá. Năm 1964, Hiệp những người trồng mía vùng 7 được thành
lập ở Amphoe Thamaka, Kachanaburi. Đây là tổ chức đầu tiên của nông dân
trồng mía và số nông dân trồng mía thời gian đầu trải dài 4 tỉnh Kachanaburi,
Ratchanaburi, Nakhon Pathon và Suphanburi. Năm 1971 nó đăng ký thành
Hiệp hội chính thức. Thành công của hiệp hội này đã thổi luồng gió mới vào
những nông dân trồng mía và vùng phía Đông hình thành nên Hiệp hội nông
dân Chonburi năm 1969. Giai đoạn 1971-1972, hai Hiệp hội này liên kết nhau
để thương lượng giá với các nhà máy chế biến đường.
Cho đến nay, ở Thái Lan có tất cả 26 Hội hỗ trợ nông dân trồng mía và 1
HTX của người trồng mía. Hội những người trồng mía vùng 7 là một hội do
nông dân thành lập có quy mô lớn nhất Thái Lan. Hiện nay, hội có 90.000 hội
viên là nông dân trồng mía trải dài trên phạm vi 5 tỉnh là Nakhon Pathom,
Kanchanaburi, Ratchaburi, Uthai Thani và Suphanburi. Nhiệm vụ chính của hội
là đại diện cho nông dân kiểm tra, giám sát giá cả, chất lượng, trọng lượng
mía cây. Về cơ cấu tổ chức, Hội có Ủy ban điều hành gồm 100 thành viên. Ủy
ban này bầu ra một chủ tịch và 6 phó chủ tịch. Hội có 24 chi nhánh, mỗi chi
nhánh có 30 thành viên đại diện cho nông dân, cứ bình quân 100 nông dân cử
một người đại diện. Do vậy, Hội có một ủy ban đại diện cho nông dân gồm
720 thành viên.
Hội nhỏ nhất là Hội hỗ trợ nông dân trồng mía ở tỉnh Suphanburi
(Sugarcane farmer supportive Association, Suphanburi). Hội có 3.200 hội viên
là nông dân trồng mía ở tỉnh Suphanburi. Hội là tổ chức do nông dân thành
lập có nhiệm vụ làm cầu nối liên kết nông dân với nhà máy đường
Suphanburi. Đây là nhà máy đường do Bộ Công nghiệp xây dựng năm 1957
và là nhà máy đường đầu tiên sản xuất đường tinh luyện vào năm 1972. Công
suất của nhà máy 4,228 tấn mía cây/ngày. Năm 1998, Bộ Công nghiệp bán
nhà máy đường cho tư nhân và hiện nay Nhà máy đường thuộc Công ty Công
8
nghiệp Đường Suphanburi. Hội hỗ trợ nông dân có 12 người trực tiếp giao
thông qua các phương tiện truyền thông. Nếu kết quả không đạt được những
biện pháp tiêu cực được áp dụng như biểu tình hoặc tạo ra sự bất ổn chính trị.
Đại diện của người trồng mía và các nhà máy chế biến mía đường trong
cơ quan Nhà nước phản ánh ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách
liên quan đến ngành mía đường. Cơ quan hoạch định chính sách mía đường
chủ yếu của Thái Lan là Hội đồng đường và mía đường (CSB). Nhiệm vụ của
cơ quan này là liên kết, phối hợp, lập kế hoạch chính sách, và dự thảo các quy
định liên quan đến ngành mía đường. Thành phần của Ban đại diện này bao
gồm 9 người đại diện cho người trồng mía, 7 người đại diện cho nhà máy chế
biến mía đường, 5 người thuộc chính phủ. Dưới Hội đồng này gồm có Ban
2 Tìm kiếm đặc lợi (rent-seeking) là cố gắng đạt được đặc lợi kinh tế - tức là lợi ích thu về cho
chủ sở hữu nguồn lực vượt quá lợi ích mà họ có được nếu sử dụng nguồn lực vào phương án thay thế
khác. Ví dụ các nhóm lợi ích có thể vận động hành lang chính trị để duy trì các chính sách hạn chế
cạnh tranh như phân bổ hạn ngạch nhập khẩu, quy định các loại giấy phép hay chứng chỉ hành nghề,
đặt ra các tiêu chuẩn hạn chế gia nhập ngành,…[3].
9
điều hành bao gồm 5 người trồng mía, 4 nhà máy chế biến mía đường và 3
người thuộc chính phủ và một chuyên gia. Ủy ban điều hành chịu trách nhiệm
xác định giá mía đường và lợi nhuận cho nhà máy chế biến. Ủy ban điều hành
này cũng tham mưu cho CSB liên quan đến sản xuất mía đường và giám sát 2
Ủy ban là Ủy bam mía và Ủy ban đường. Ủy ban mía chuẩn bị kế hoạch sản
xuất mía, phát triển chủng loại mía và kiểm soát phân phối đường nội địa và
xuất khẩu. ủy ban này bao gồm 6 đại diện cho người trồng mía, 4 đại diện cho
nhà máy chế biến và 4 đại diện Chính phủ. Ủy ban đường chịu trách nhiệm
những vấn đề liên quan đến sản xuất đường và thành phần bao gồm 5 người
đại diện cho người trồng mía, 5 nhà máy chế biến và 5 người Chính phủ.
Nguồn: OCSB (2011)
Hình : Thành viên Hội đồng đường và mía Thái Lan
Với cơ chế điều hành bởi Hội đồng mía đường và đường và các Ủy ban
này đã hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa quyền lực chính trị và kinh tế.
về sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu đường trên cơ sở cân đối
cung cầu.
Ngành mía đường là ngành khá bất ổn, lúc thừa lúc thiếu, lúc cần nhập,
lúc cần xuất. Xuất phát từ kinh nghiệm của Thái Lan, Việt Nam cần cải tổ cơ
chế điều hành ngành mía đường để đảm bảo sự phát triển bền vững. Ở Việt
Nam, Bộ Công thương lâu nay vẫn quản lý hạn ngạch xuất nhập khẩu đường
với mục đích bình ổn giá. Tuy nhiên, việc bình ổn giá bằng phương thức này
đang tồn tại nhiều lỗ hổng. Đầu tiên là các doanh nghiệp được cấp hạn ngạch
nhập khẩu đều không được công bố, không ai nắm được họ có nhập hay
không, tiến độ thế nào, cũng không có quy định buộc họ phải bán ra để bình
ổn thị trường khi giá tăng. Chính vì lỗ hổng này mà không ít trường hợp
doanh nghiệp lại lợi dụng hạn ngạch được cấp để tạm nhập tái xuất, gây bất
ổn thị trường. Ở Thái Lan, cơ chế điều hành mía đường theo hạn ngạch A, B,
C là khá rõ ràng và minh bạch. OCSB là tổ chức có đủ thành phần tham gia
vào hoạt động của ngành mía đường và đủ khả năng quản lý và điều hành
các hạn ngạch. Các hạn ngạch này cũng được phân bổ ngay từ đầu niên vụ và
trên cơ sở cung cầu thị trường đường trong nước, đảm bảo được bình ổn thị
trường đường. Đây là bài học mà Việt Nam cần phải học hỏi thêm từ Thái Lan.
2.3. Thứ ba, cần xác định cơ quan độc lập giám sát CCS, trọng lượng
mía cây và lượng đường bán ra
Vấn đề tranh chấp chất lượng mía và trọng lượng mía giữa người trồng
mía và nhà máy chế biến đường thường xuyên xảy ra. Người trồng mía chủ
yếu là nông dân nhỏ lẻ không đủ khả năng để kiểm soát được CCS và trọng
11
lượng mía nhập vào nhà máy. Do vậy, cần phải có cơ quan độc lập giám sát
CCS và trọng lượng mía. Kể từ khi Thái Lan áp dụng việc tính giá tiêu chuẩn
dựa trên 10 CCS, OSCB trở thành một tổ chức độc lập với nông dân và nhà
máy trong việc giám sát trực tiếp hàng ngày CCS, trọng lượng mía nhập vào
và lượng đường bán ra. Kinh nghiệm của Thái Lan, mỗi nhà máy chế biến
đường có khoảng 2 nhân viên làm việc theo 2 ca/ngày để giám sát CCS, trọng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Benchaphun Ekasingh, Chapika Sungkapitux, Jirawan Kitchaicharoen và Pornsiri
Suebpongsang(2007),
Competitive Commercial Agriculture in the Northeast of
Thailand
, Department of Agricultural Economics and the Multiple Cropping Center,
Faculty of Agriculture, Chiang Mai University, Thailand.
12
2. Fiji/FAO Asia Pacific Sugar Conference (1997),
The proceedings of the International
Sugar Conference
(29-31/10/1997).
3. Phạm Văn Vận và Vũ Cương (2004),
Giáo trình Kinh tế công cộng
, Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê.
4. Robert S.Pindyck và Daniel L. Rubinfeld (1999),
Kinh tế học vi mô
, Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê.
5. USDA Foreign Agricultural Service (2011),
Thailand Sugar Semi-Annual 2011
, Gain
Report Number: TH1123, Date: 27/9/2011.
6. Viroj NaRanong (2000), “The Thai Sugar Industry: Crisis and opportunities”,
TDRI
Quarterly Review
, Vol.15 No.3 tháng 9/2000.
13