Phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á
với IMF trong việc khắc phục khủng hoảng tài
chính - tiền tệ và bài học cho Việt Nam
Lê Vân Anh
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS. Võ Trí Thành
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Khái quát những vấn đề lý luận chung về khủng hoảng tài chính-tiền tệ và vai
trò của IMF trong hệ thống tài chính quốc tế nói chung và đối với khủng hoảng tài chính-
tiền tệ nói riêng. Phân tích quan điểm và chính sách hỗ trợ của IMF và đánh giá sự phối
hợp giữa các chính phủ Châu Á với IMF trong việc khắc phục khủng hoảng tài chính tiền
tệ. Từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về việc ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng tài chính
tiền tệ trong quá trình phát triển đặc biệt là trong quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập
kinh tế quốc tế
Keywords: Chính sách; Khủng hoảng kinh tế; Quỹ tiền tệ quốc tế; Tiền tệ; Tài chính Content
MỞ ĐẦU
quốc tế (IMF) là một trong những vấn đề đƣợc đặc biệt quan tâm của các nhà nghiên cứu
trong nhiều năm nay. Liên quan đến chủ đề này, có một số công trình nghiên cứu trong và
ngoài nƣớc, tiêu biểu nhƣ sau:
- Võ Tá Hân, Trần Quốc Hùng, Vũ Quang Việt (2000), Châu Á từ khủng hoảng nhìn về
thế kỷ 21, NXB TP. HCM.
- Võ Trí Thành (chủ biên) (2004), Thị trường tài chính Việt Nam: thực trạng, vấn đề và
giải pháp chính sách, NXB Tài chính.
- Nguyễn Thiện Nhân (2002), Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997-1999:
Nguyên nhân, hậu quả và bài học với Việt Nam, NXB ĐHQG TP.HCM.
- GS.TS. Hồ Xuân Phương, TS. Vũ Đình Ánh (2003), Giải pháp phòng ngừa khủng hoảng tài
chính - tiền tệ ở Việt Nam, NXB Tài chính.
- G.Corsetti, P.Pesenti, N.Roubini (1998), “What caused the Asian currency and
financial crisis?”
- Nhiều tác giả (2007), Ten Years after the Asian Financial Crisis: Vulnerabilities of
East Asisa, Bangkok Conference, 26-27 February 2007.
- IMF Vietnam Country Report No. 06/421 (November 2006).
Các công trình trên đây mặc dù có đề cập và phân tích nhiều vấn đề khác nhau của cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á và chính sách hỗ trợ của IMF. Tuy nhiên, xoay quanh vấn
đề này vẫn còn một số câu hỏi chưa có câu trả lời thoả đáng như: Liệu những chính sách của
IMF nhằm khắc phục khủng hoảng có thật sự là phương thuốc chung cho mọi quốc gia? Sự phối
hợp thực thi chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF trong việc khắc phục khủng hoảng
tài chính - tiền tệ ra sao? Và bài học nào được rút ra cho Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện
Việt Nam hội nhập sâu rộng vào các tổ chức quốc tế khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khái quát hoá những vấn đề lý luận chung về khủng hoảng tài chính - tiền tệ
và vai trò của IMF trong hệ thống tài chính quốc tế nói chung và đối với khủng hoảng tài chính -
tiền tệ nói riêng, đề tài đánh giá sự phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF
trong việc khắc phục khủng hoảng tài chính - tiền tệ để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam trong
quá trình phát triển, đặc biệt là trong quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế.
khi làm rõ những vấn đề cụ thể của Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Ngoài việc hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về
các mô hình khủng hoảng tài chính và làm rõ vai trò của IMF đối với hệ thống tài chính
quốc tế nói chung cũng nhƣ khủng hoảng tài chính - tiền tệ nói riêng, luận văn có những
đóng góp mới nhƣ sau:
- Đánh giá sự phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF trong việc
khắc phục khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
- Rút ra một số bài học và định hƣớng vận dụng cho Việt Nam trong việc ngăn
ngừa và xử lý khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chương 1: Khủng hoảng tài chính - tiền tệ và vai trò của IMF
Chương 2: Phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF trong việc khắc
phục khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997-1998
Chương 3: Một số bài học về ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
Chương 1
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ VÀ VAI TRÒ CỦA IMF
1.1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
1.1.1 Nhận dạng bản chất khủng hoảng tài chính - tiền tệ
Khi xảy ra hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh
toán về số lượng, thời hạn, chủng loại tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài chính.
Một số dạng khủng hoảng tài chính đặc thù: Khủng hoảng ngân hàng; Khủng hoảng nợ
quốc gia; Khủng hoảng tiền tệ; Khủng hoảng thị trường chứng khoán; Khủng hoảng cán cân
giới như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
1.2 VAI TRÒ CỦA IMF TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ VÀ ĐỐI VỚI
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
1.2.1 Vài nét về IMF
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là một tổ chức chuyên trách của hệ thống Liên Hiệp Quốc
được thành lập theo Hiệp định năm 1945 để giúp tăng cường sức mạnh của nền kinh tế thế giới.
Trụ sở chính của Quỹ được đặt tại Washington D.C và do 184 nước thành viên trên toàn cầu điều
hành.
IMF là một thể chế trung tâm của hệ thống tiền tệ quốc tế - hệ thống của các thanh toán quốc
tế và tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia để cho phép việc giao dịch kinh doanh giữa các
nước diễn ra một cách trôi chảy. Quỹ giám sát hệ thống này và đưa ra khuôn khổ thể chế toàn cầu,
thông qua đó các nước hợp tác về các vấn đề tiền tệ quốc tế.
Các mục đích của IMF gồm thúc đẩy sự phát triển cân bằng thương mại thế giới, ổn định các tỷ
giá hối đoái, tránh việc phá giá tiền tệ cạnh tranh và hiệu chỉnh có trật tự các vấn đề khó khăn về cán
cân thanh toán.
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
IMF được thành lập vào tháng 7 năm 1944 tại một hội nghị của Liên Hiệp Quốc được tổ
chức tại Bretton Woods, bang New Hampshire của Mỹ, khi đại diện của 44 quốc gia đã nhất trí về
một khuôn khổ cho sự hợp tác kinh tế để tránh lặp lại những chính sách kinh tế góp phần vào cuộc
Đại Suy thoái trong những năm 1930. Ngày 27/12/1945 điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước đầu
tiên nhất trí ký kết. IMF bắt đầu hoạt động vào ngày 1/3/1947 và tiến hành cho vay khoản đầu tiên
vào ngày 8/5/1947.
Số lượng thành viên năm 2005 đã tăng gấp 4 lần so với con số năm 1945 khi IMF mới
được thành lập.
1.2.1.2 Nguồn vốn của IMF
Nguồn vốn của IMF chủ yếu là từ đóng góp cổ phần (hoặc vốn) của các nước thành viên
khi họ gia nhập IMF, hoặc sau các cuộc kiểm điểm định kỳ để tăng cổ phần đóng góp.
Hiện nay, năm quốc gia có hạn mức cổ phần đóng góp lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản, Đức,
Anh và Pháp. Đặc biệt, 10 nước công nghiệp phát triển hàng đầu đã chiếm hơn 50% tổng số vốn,
đồng thời theo quy định, các quyết định lớn của IMF chỉ được thông qua khi chiếm được ít nhất
tế, hệ thống thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền, thúc đẩy thương mại giữa
các nước. IMF tìm cách duy trì ổn định và phòng ngừa khủng hoảng kinh tế; hỗ trợ giải quyết
khủng hoảng một khi xảy ra; thúc đẩy phát triển và giảm đói nghèo. Quỹ sử dụng 3 chức năng
chính là giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và cho vay để thực hiện các mục tiêu này.
1.2.2.1 Tư vấn chính sách và giám sát kinh tế vĩ mô
Giám sát là hình thức cố vấn chính sách thường niên của IMF đối với các nước thành
viên. Với chức năng này, IMF chủ yếu có vai trò tư vấn, giúp phân tích tình hình kinh tế của một
nước thành viên và cảnh báo những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn bắt nguồn từ các chính sách của
những nước này, và duy trì toàn bộ thành viên được thông báo về các diễn biến này.
1.2.2.2 Trợ giúp tài chính
Trợ giúp tài chính thường là việc IMF cung cấp ngoại tệ chuyển đổi để tăng cường dự trữ
ngoại tệ của nước thành viên đang gặp khó khăn, nhưng chỉ khi có cam kết của chính phủ cải
cách các chính sách kinh tế, đặc biệt là cải cách cơ cấu và cán cân thanh toán và tăng trưởng theo
hướng bền vững.
1.2.2.3 Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo
IMF cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo chủ yếu trong 4 lĩnh vực sau:
Củng cố khu vực tài chính và tiền tệ thông qua việc tư vấn về quy định điều tiết, giám
sát và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các hoạt động quản lý ngoại hối, hệ thống thanh toán bù
trừ, cũng như cơ cấu và sự phát triển của các Ngân hàng Trung ương;
Hỗ trợ các chính sách và quản lý tài khoá vững mạnh thông qua tư vấn về các chính
sách, quản lý thuế và hải quan, lập ngân sách, quản lý chi ngân sách, thiết kế hệ mạng lưới an
sinh xã hội, và quản lý nợ trong và ngoài nước;
Biên soạn, quản lý và phổ biến các dữ liệu thống kê và cải tiến chất lượng của dữ liệu.
Soạn thảo và rà soát khuôn khổ luật pháp về kinh tế và tài chính.
Chương 2
PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH GIỮA CÁC CHÍNH PHỦ CHÂU Á VỚI IMF TRONG VIỆC
KHẮC PHỤC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ 1997-1998
ở mức xấu nghiêm trọng; nợ ngắn hạn trên tổng nợ nước ngoài lớn, tỷ lệ dự trữ ngoại hối so với
nợ ngắn hạn nước ngoài lớn; tỷ lệ cung tiền rộng M2 so với dự trữ ngoại hối ở mức cao đáng
nguy hiểm; hệ thống kế toán, thống kê không đúng chuẩn mực thế giới.
2.1.1.3 Diễn biến cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á khởi đầu từ Thái Lan, sau đó lan sang các
nước láng giềng khác như Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc, v.v. Không dừng lại đó, cuộc
khủng hoảng còn lan sang các khu vực khác như Nga, Brazil, ảnh hưởng đến Mĩ, Nhật và một số
khu vực khác.
2.1.1.4 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997-1998, xét trên cả cấp độ quốc gia, khu
vực và công ty, chính là sự tác động qua lại giữa 3 nhóm nguyên nhân: từ phía chính sách quản
lý vĩ mô của chính phủ, từ phía các nhà đầu tư trong nước và từ phía các nhân tố bên ngoài vượt
khỏi tầm kiểm soát khu vực.
Sự bất cập trong chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ
Thứ nhất, sự chậm trễ và cứng nhắc trong điều hành tỷ giá khiến các đồng bản tệ bị định
giá cao giả tạo trong một thời gian dài so với đồng USD.
Thứ hai, chính sách tự do hoá các hoạt động kinh tế không được tiến hành đồng bộ với việc
tăng cường giám sát hoạt động của các doanh nghiệp và các định chế tài chính.
Thứ ba, có sự mất cân đối lớn trong nền kinh tế (cơ cấu dòng chảy vốn nước ngoài), khiến
cán cân thương mại và cán cân vãng lai của các nước Đông Á thâm hụt nặng nề.
Sai lầm của các nhà đầu tư trong nước
Là những người trực tiếp thực hiện các quyết định đầu tư, các nhà đầu tư trong nước của
khu vực châu Á phải là người chịu trách nhiệm hàng đầu về số phận doanh nghiệp do họ làm chủ
từ cả ba phía: cơ cấu vốn vay, cơ cấu đầu tư và kỹ năng thích ứng thị trường.
Các nhân tố bên ngoài vượt khỏi tầm kiểm soát của các nước trong khu vực
Chính sách tiền tệ của các nước lớn cả trong và ngoài khu vực châu Á;
Ảnh hưởng của những hoạt động đầu cơ tiền tệ đã thổi phồng các cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ và làm gia tăng khả năng lây nhiễm;
Sự tham gia của một số nước mới mà đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ vào thị trường
xuất khẩu của các nước Đông Nam Á với giá thành sản xuất thấp;
kinh tế và tài chính quan trọng trên trang chủ, những dự định thư giải trình các kế hoạch cải cách
kinh tế của các nước, trên cơ sở đó IMF cung cấp những số liệu, dự báo tin cậy và kịp thời cho
các quốc gia đã bị khủng hoảng nhưng đang trong quá trình cải cách và các quốc gia có nguy cơ
khủng hoảng. IMF cũng ra sức phối hợp với các định chế tài chính quốc tế khác như WB, ADB
cũng như các nhà tài trợ song phương và đa phương nhằm tập trung hỗ trợ cho các chương trình
cải cách kinh tế ở những quốc gia chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ. Ngoài ra,
IMF cũng nỗ lực thúc đẩy các quốc gia trong việc quản lý nhà nước và chống tham nhũng.
2.2 CHÍNH SÁCH KHẮC PHỤC KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC CHÍNH PHỦ CHÂU Á
TRÊN CƠ SỞ HỖ TRỢ CỦA IMF
Dưới sự hỗ trợ của IMF cả về tài chính, kỹ thuật và tư vấn, giám sát, các nước trong khu vực
đều tìm mọi cách để thoát nhanh ra khỏi khủng hoảng. Mặc dù thời điểm xuất phát và cách thức tiến
hành khác nhau, song nổi bật vẫn là những chính sách, biện pháp chung được áp dụng:
2.2.1 Huy động vốn hỗ trợ trong và ngoài nƣớc
Trước những khó khăn nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chính gây ra thì sự cứu trợ tài
chính của cộng đồng quốc tế, đặc biệt IMF là biện pháp cần thiết tạo điều kiện cho các nước có
thể thoát nhanh ra khỏi cuộc khủng hoảng. Trong chừng mực nhất định, IMF vẫn là tổ chức có
những tác động tích cực để cải thiện hệ thống tài chính cũng như kinh tế các nước bị khủng
hoảng.
2.2.2 Cải thiện hệ thống tài chính quốc gia
Do “uống thuốc” của IMF và do những thúc bách từ bên trong, các nước bị khủng hoảng
trong khu vực đều coi việc tăng năng lực tài chính và lành mạnh hoá khu vực tài chính là điều
kiện tiên quyết cho ổn định và phục hồi tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, mỗi nước đều có mối quan tâm riêng đến việc khắc phục các hậu quả xã hội
của khủng hoảng: ổn định giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, trợ giúp thất nghiệp, đào tạo
lại nhân lực…
2.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH GIỮA CÁC CHÍNH PHỦ
CHÂU Á VỚI IMF TRONG VẤN ĐỀ KHẮC PHỤC KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH - TIỀN TỆ
2.3.1 Đánh giá hiệu quả của chính sách
2.3.1.1 Sự khác biệt về các mức kết quả trong việc khắc phục khủng hoảng tài chính - tiền
không phải là chính giải pháp. Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc mỗi nước đều có sự khác
biệt cả về điều kiện, trình độ phát triển và khả năng phục hồi. Đó là chưa kể tới những vấn đề khác
biệt về thể chế nhà nước, chính trị, văn hoá, xã hội, cấu trúc kinh tế - tài chính v.v. Cho dù cùng một
bệnh, nhưng nếu có “tiểu sử”, “cơ địa” khác nhau thì liều lượng giải pháp cũng phải khác nhau.
Không thể máy móc áp dụng cùng một liều thuốc cho tất cả các “bệnh nhân”.
2.3.2 Đánh giá vai trò của sự phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF
trong việc khắc phục khủng hoảng
Trong khi đánh giá vai trò của sự phối hợp chính sách giữa các Chính phủ châu Á với
IMF, luận văn chỉ rõ nhân tố quan trọng cản trở các nước châu Á khắc phục khủng hoảng tài
chính - tiền tệ, đó là:
- Thiếu phối hợp chính sách trong việc khắc phục khủng hoảng giữa các chính phủ châu Á.
Việc thiếu hợp tác tài chính giữa các nước Đông Á càng khiến họ trở nên dễ bị tổn thương hơn khi phải
đối mặt riêng lẻ.
- Thiếu phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF trong việc khắc phục khủng
hoảng. Hệ thống kế toán, thống kê không phù hợp chuẩn mực quốc tế cùng với việc chậm công bố,
thậm chí che đậy thông tin của một số Chính phủ, sửa chữa số liệu, thông tin kinh tế, tài chính v.v. là
những tín hiệu bóp méo thị trường, tạo thông tin sai lệch và càng làm chậm tiến trình giải quyết hậu
quả của cuộc khủng hoảng.
Chương 3
MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ NGĂN NGỪA VÀ XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
3.1 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ NHỮNG NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH - TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
3.1.1 Tiến trình mở cửa, tự do hoá tài chính và hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
từ năm 1986 đến nay
Thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế khởi xướng từ năm 1986 đến nay, kinh tế Việt Nam
đã từng bước chuyển đối từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập sâu
rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Quá trình này bắt đầu từ việc xây dựng và phát triển hệ thống
đặc biệt của khu vực này trong khi các định chế tài chính phi ngân hàng còn kém phát triển.;
- Với nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc và điều kiện quốc tế khác hẳn so với năm 1997, có
thể nói khủng hoảng tài chính - tiền tệ chưa thể xảy ra ở Việt Nam trên diện rộng. Nếu có xảy ra
thì chỉ có thể là khủng hoảng cục bộ ở một số lĩnh vực của nền kinh tế. Song, trong quá trình mở
cửa, tự do hoá tài chính, tự do hoá tài khoản vốn, Việt Nam vẫn có thể phải đối mặt nhiều hơn
với những rủi ro tài chính, bất ổn tài chính. Những rủi ro hay bất ổn tài chính này ít hay nhiều
còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện nội tại của nền kinh tế, đặc biệt là sức mạnh của hệ thống
tài chính - ngân hàng. Ngoài ra, việc phối hợp chính sách giữa các quốc gia ở cấp vùng, giữa các
quốc gia với các tổ chức tài chính quốc tế như IMF là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào hệ thống tài chính quốc tế.
3.2 VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC CHÂU Á TRONG
VIỆC NGĂN NGỪA VÀ XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ Ở
VIỆT NAM
Việt Nam là một nước đi sau, đang trong quá trình hội nhập kinh tế - tài chính quốc tế
mạnh mẽ và sâu rộng có thể học hỏi và rút ra được bài học cho riêng mình nhằm ngăn ngừa và
xử lý khủng hoảng một cách hiệu quả nhất nếu có xảy ra.
3.2.1 Ngăn ngừa khủng hoảng tài chính - tiền tệ
3.2.1.1 Duy trì nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc
Một nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc là một trong những nhân tố đầu tiên cho phép các
quốc gia có thể chống chọi và giảm thiểu tác hại của các cú sốc kinh tế bên trong lẫn bên ngoài.
Hệ thống chỉ số phản ảnh nền tảng kinh tế vĩ mô tốt gồm có: tăng trưởng kinh tế cao và liên tục
đi đôi với cải thiện chất lượng tăng trưởng, chính sách tiền tệ giới hạn lạm phát thấp, tỷ lệ tiết
kiệm và đầu tư cao, nợ công của nhà nước được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo khả năng hoàn trả,
dự trữ ngoại hối lớn, chính sách thu hút đầu tư, v.v.
3.2.1.2 Điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái một cách linh hoạt theo nguyên tắc
thị trường
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy một tỷ giá ổn định và cạnh tranh là cần thiết đối
với một quốc gia đang phát triển hướng về xuất khẩu. Nó khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu
có thể duy trì tính cạnh tranh và tiến hành kinh doanh mà không phải chịu tác động gián đoạn
thái quá do biến động tỷ giá. Hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia chuyển sang chế độ tỷ giá
hối đủ để sẵn sàng đối phó với những biến động của dòng vốn.
Nhóm cải cách hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng
- Triệt để xử lý nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng, tăng cường kiểm soát cho vay, xử
lý vấn đề thế chấp và bảo đảm tiền vay, nâng cao trình độ và trách nhiệm của cán bộ tín dụng
- Cần tách rời giữa cho vay thương mại và cho vay chính sách, chấm dứt tình trạng can
thiệp của các cấp chính quyền vào cho vay thương mại.
- Hoàn thiện chế độ và cơ chế thế chấp, tín chấp, giải quyết tài sản thế chấp, cầm cố sẽ
giúp cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng xử lý hậu quả đổ vỡ các hợp đồng tín dụng nhanh
nhạy và ít tốn kém hơn, phục hồi tài sản đã mất để tiếp tục hoạt động.
- Duy trì các quỹ phòng ngừa rủi ro và bảo đảm tiền gửi không chỉ củng cố niềm tin của
khách hàng vào hệ thống tín dụng mà còn cung cấp thêm những công cụ giúp cho toàn bộ hệ
thống này hoạt động lành mạnh hơn.
- Tăng cường năng lực giám sát hệ thống ngân hàng, không để xảy ra những sai phạm
liên tục và kéo dài. Kỷ luật tài chính được củng cố trên cơ sở công khai hoá các báo cáo tài
chính, tuân thủ các quy định kiểm toán bắt buộc hàng năm và nâng cao chất lượng kiểm toán nội
bộ là biện pháp góp phần ngăn chặn các biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng.
Nhóm kiểm soát thị trường tài chính
Kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cho thấy thị trường tài
chính (TTTC) đặc biệt nhạy cảm và rất dễ bị tổn thương trước những tác động bên trong cũng
như bên ngoài. Bên cạnh các công cụ tài chính như sử dụng dự trữ (ngoại tệ, nội tệ, chứng
khoán), nghiệp vụ thị trường mở, thuế, phí… còn có thể sử dụng các công cụ hành chính khi
thực sự cần thiết để can thiệp vào thị trường, củng cố và duy trì sự lành mạnh, tránh khủng hoảng
tài chính - tiền tệ. Tuy nhiên mức độ kiểm soát như thế nào là hợp lý để vừa đảm bảo loại trừ
những yếu tố rủi ro, vừa có tác động tích cực đối với sự phát triển của TTTC hoàn toàn phụ
thuộc vào những nhân tố nội tại hay thực lực bên trong của mỗi quốc gia.
Nhóm cải cách và lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp
Ngoài các biện pháp xử lý triệt để nợ của doanh nghiệp (kể cả nợ phải thu và nợ phải trả),
cần có biện pháp tăng vốn và cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp nhằm giảm tỷ lệ nợ trên vốn tự có,
đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, các hình thức giao bán khoán cho thuê doanh nghiệp, chấm dứt
cách cơ cấu mạnh mẽ và rộng khắp, nhằm tạo điều kiện cho việc phục hồi hoàn toàn, góp phần
tạo sự chuyển biến lâu dài và tăng cạnh tranh của nền kinh tế.
3.2.3 Tăng cƣờng phối hợp với IMF và các tổ chức tài chính quốc tế trong việc ngăn ngừa
và xử lý khủng hoảng
Tăng cường phối hợp với IMF và các tổ chức tài chính quốc tế nhằm dự phòng khủng
hoảng:
Để ngăn ngừa và phòng tránh được khủng hoảng tài chính - tiền tệ, Việt Nam cần chủ
động, tích cực phối hợp chặt chẽ với IMF trong việc cung cấp thông tin, báo cáo tài chính nhằm
phát huy tính tích cực của IMF trong việc tư vấn chính sách và dự phòng khủng hoảng tài chính -
tiền tệ. Ngoài ra, nếu có biến động lớn, Việt Nam cũng cần chia sẻ thông tin kịp thời với các
nước trong khu vực nhằm phòng tránh khủng hoảng từ xa.
Tuy nhiên, một biện pháp quan trọng quyết định đến việc loại trừ khả năng khủng hoảng
ở Việt Nam đó chính là từng bước nâng cao năng lực đối phó khủng hoảng của Việt Nam bằng
cách chủ động cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng, cải cách hệ thống doanh nghiệp, cải cách
thể chế đi đôi với việc chủ động mở cửa, tự do hoá tài chính theo lộ trình một cách thận trọng.
Tăng cường phối hợp với IMF và các tổ chức tài chính quốc tế khi khủng hoảng xảy
ra:
Ngay khi có khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra, ngoài việc tăng cường vai trò của nhà
nước trong việc ban hành những chính sách kịp thời thì một biện pháp “chữa cháy” tức thì cần
phải được thực hiện ngay đó là Chính phủ cần nhanh chóng kêu gọi sự giúp đỡ về tài chính, kỹ
thuật và tư vấn chính sách của cộng đồng quốc tế để có thể lấy lại lòng tin của thị trường và các
nhà đầu tư. Tất nhiên, khi phải nhờ đến sự giúp đỡ từ bên ngoài, chắc chắn quốc gia đó sẽ mất đi
tính độc lập tương đối trong việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, thậm chí còn phải hy
sinh một số mục tiêu trước mắt hay thậm chí gây ra những ảnh hưởng lâu dài về mặt xã hội hay
chính trị khác.
Cách tốt nhất để giảm thiểu mức độ hà khắc của chính sách đó là ngay khi nhận cứu trợ
khẩn cấp của IMF, các Chính phủ cần nhanh chóng tăng cường đối thoại, hợp tác, chia sẻ để
cùng IMF và cộng đồng quốc tế tìm ra nguyên nhân và có những giải pháp thích hợp. Trong vấn
đề này, quan trọng là nghe IMF nhưng nghe đến đâu. Thực chất của vấn đề là lựa chọn chính
sách như thế nào và thời điểm nào để thực hiện
chính - tiền tệ, trong đó tập trung vào việc huy động vốn hỗ trợ trong và ngoài nước và cải thiện
hệ thống tài chính quốc gia. Tiến trình thực hiện của các nước có sự khác biệt về các mức kết
quả, bởi có nước tương đối thành công, nhưng có nước lại lún sâu vào khủng hoảng. Chính vì
thế, rất nhiều nhà kinh tế và các chính trị gia đã phê phán kịch liệt “phương thuốc đắng” của
IMF, thậm chí đòi xem xét lại vai trò của IMF. Tuy nhiên, một nguyên nhân hết sức quan trọng
đó chính là sự thiếu phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á và IMF trong việc phòng
chống khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
5. Sau 20 năm đổi mới, mở cửa và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát
triển mạnh mẽ trên nhiều phương diện. Với thế và lực mới, trên con đường phát triển của mình,
Việt Nam sẽ ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào hệ thống kinh tế quốc tế. Đi cùng với quá
trình này, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt với những rủi ro tài chính do quá trình tự do hoá
thương mại và tự do cán cân thanh toán quốc tế đem lại. Những nguy cơ khủng hoảng xuất hiện
cả bên trong lẫn bên ngoài là những dấu hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ trong tương lai có thể xảy ra ở Việt Nam. Trên cơ sở những kinh nghiệm của các nước đã từng
trải qua khủng hoảng, luận văn rút ra một số bài học trong việc ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng
tài chính - tiền tệ ở Việt Nam từ việc duy trì nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc, điều hành linh
hoạt chính sách tỷ giá hối đoái, chủ động xây dựng và cải cách hệ thống tài chính quốc gia, thực
hiện tự do hoá tài chính theo lộ trình thận trọng và an toàn, tăng cường vai trò của nhà nước và
đặc biệt tăng cường đối thoại và phối hợp chặt chẽ với IMF cũng như các tổ chức tài chính quốc
tế trong việc dự phòng và chống khủng hoảng. Tuy nhiên, do khủng hoảng chưa xảy ra ở Việt
Nam, nên bài học về dự phòng, ngăn ngừa khủng hoảng có ý nghĩa đặc biệt thiết thực đối với
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như về lâu dài. References