ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÃ HỒNG VÂN ANH
ĐỔI MỚI CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP:KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội – 2015ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
GIỚI THIỆU CHUNG 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN 4
1.1. Tồng quan tài liệu nghiên cứu 4
1.2. Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính ở các trƣờng đại học công lập 11
1.2.1. Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập 11
1.2.2. Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính ở Đại học công lập 19
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Phƣơng pháp tổng hợp dữ liệu thứ cấp 25
2.2. Phƣơng pháp lựa chọn điển hình 25
CHƢƠNG 3: KINH NGHIỆM TRONG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP NƢỚC NGOÀIError! Bookmark not
defined.
3.1. Trung Quốc 28
3.2. Singapore 34
3.2.1. Tầm nhìn chiến lƣợc trong giáo dục 35
3.2.2. Thực thi chính sách giáo dục hiệu quả 36
3.2.3. Quản trị nguồn nhân lực chất lƣợng cao 37
3.2.4. Mô hình đại học tự chủ của Singapore 38
3.3. Hàn Quốc 40
3.4. Một số quốc gia khác 44
CHƢƠNG 4: THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG MỘT SỐ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM 46
4.1. Đại học Quốc gia Hà Nội 46
4.2. Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 48
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Khuyến nghị 54
5.2.1. Định hƣớng phát triển tài chính giáo dục đại học ở Việt Nam 54
Ngân sách nhà nước
8
SNCL
Sự nghiệp công lập
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 4.1
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
Biểu đồ
Nội dung
Trang
1
Biểu đồ 4.1
Các nguồn tài chính của ĐHQGHN
46 1
GIỚI THIỆU CHUNG
Tính cấp thiết của đề tài:
Tự chủ đại học nói chung và tự chủ tài chính nói riêng là xu thế phổ
biến trên thế giới, khuyến khích sự sáng tạo của các nhà khoa học, giúp giáo
dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường lao động và nâng cao
năng lực cạnh tranh với các trường đại học trên thế giới. Tự chủ tài chính là
một trong những yếu tố góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính giáo dục đại học
công lập, qua đó nhằm nâng cao vị thế cũng như khả năng cạnh tranh và chất
lượng đào tạo của các trường đại học công lập tại Việt Nam.
Bắt kịp theo xu thế chung của thời đại, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
ban hành một loạt các văn bản để kiện toàn hệ thống giáo dục, trong đó có
Việt Nam. Từ đó đưa ra kết luận và một số khuyến nghị giúp việc tự chủ tài
chính trong các trường ĐHCL tại Việt Nam đạt hiệu quả khả quan hơn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu :
+ Hệ thống cơ sở lý luận và tổng quan một số tài liệu nghiên cứu về tự
chủ tài chính ở các trường đại học.
+ Phân tích và rút ra những kinh nghiệm của các quốc gia khác trong tự
chủ tài chính ở đại học.
+ Phân tích thực trạng tiến hành tự chủ tài chính ở một số trường đại
học công lập Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu :
- Tại sao cần đẩy mạnh tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập ?
- Cơ chế tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập nước ngoài đã
được thực hiện như thế nào ?
- Việt Nam đã thực hiện và triển khai tự chủ tài chính cho các trường
đại học công lập ra sao ?
3
- Việt Nam có thể học được gì từ những kinh nghiệm quốc tế về tự chủ
tài chính ở đại học công lập ?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : Cơ chế tự chủ tài chính ở đại học công lập.
- Phạm vi nghiên cứu : Một số nước có thành tựu lớn trong tự chủ tài
chính cho giáo dục nói chung và đào tạo đại học nói riêng qua những giai
đoạn có đặc điểm nổi bật và một số đại học công lập Việt Nam đã thực hiện
tự chủ tài chính.
4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tồng quan tài liệu nghiên cứu
đủ hình thành một ĐHCL có chất lượng. + Nhà nước cần thiết lập được một
cơ chế hữu hiệu nhằm thu hồi nợ vay của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Theo
Phạm Phụ (2010) thì tỷ lệ hoàn vốn từ nguồn nợ vay của sinh viên Trung
Quốc là 55% của Hàn Quốc là 64%, còn đối với các nước phát triển thì cao
hơn nhiều. Nhằm giảm bớt áp lực cho bộ máy quản lý, nhiều quốc gia đã giao
trách nhiệm cho vay và thu hồi nợ vay cho hệ thống ngân hàng.
Mô hình 3 : Tăng học phí kết hợp với các chính sách hỗ trợ Mô hình
này yêu cầu học phí phải được tính toán sao cho có thể bù đắp một phần đáng
kể các chi phí hoạt động của ĐHCL, đồng thời mô hình này sẽ hướng đến các
chính sách hỗ trợ học phí đối với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Các
nước áp dụng thành công mô hình này hơn nửa thế kỷ qua là Mỹ, New
Zealand và Canada. Gia tăng học phí được xem như một giải pháp chủ yếu
nhằm chia sẽ chi phí giáo dục. Nhiều quốc gia ở Châu Âu và Châu Phi thiết
lập cơ chế học phí song song : những sinh viên không hội đủ những điều kiện
nào đó về kết quả học tập thì không được theo học miễn phí mà phải đóng học
phí ở mức cao. Tuy nhiên việc áp dụng một mức học phí quá cao sẽ có nguy
cơ loại bỏ những sinh viên nghèo trong việc tiếp cận dịch vụ GDĐH (Phạm
Phụ (2010)). Một cách làm khác có thể giúp vừa gia tăng sự chia sẽ chi phí
giáo dục, vừa đáp ứng được yêu cầu công bằng là : những sinh viên theo học
những ngành được nhà nước quan tâm phát triển thì sẽ đóng mức học phí
thấp, còn những sinh viên theo học các ngành mà xã hội đang có nhu cầu cao
như kinh tế, tài chính hay luật thì sẽ phải đóng học phí ở mức cao. Các mức
học phí khác nhau còn được áp dụng đối với các cấp độ đào tạo và đối tượng
6
người học : học phí chương trình sau đại học thì cao hơn so với chương trình
đại học, sinh viên nước ngoài phải đóng học phí cao hơn so với sinh viên
chính qui bản xứ. Úc là một ví dụ, những sinh viên khó khăn thỏa mãn các
điều kiện tham gia chương trình hỗ trợ được tính mức học phí theo qui định
của chính phủ, còn các sinh viên khác và sinh viên nước ngoài phải đóng mức
phủ phải là người điều hành tổng thể chứ không phải là người cung cấp nguồn
vốn. Tác giả cũng đưa ra những gợi ý về vấn đề tự chủ: thông qua quyền tự
quyết của các trường đại học; bảo đảm tính minh bạch của các trường đại học
đã được giao tự chủ bằng các biện pháp kiểm toán tài chính, gây dựng các
quỹ đầu tư cho giáo dục để đảm bảo nguồn vốn ngoài ngân sách.
- Frank Ziegle (1998) đã chỉ ra những ưu điểm khi chính phủ Đức thực
hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học, đó là: (1) theo dự án
ngân sách toàn diện Lower Saxony của chính phủ, tất cả khoản tiền chi ngân
sách cho đại học trong một năm được chuyển toàn bộ trong một lần duy nhất.
Điều này giúp các trường đại học dự kiến, đưa ra quyết định phân bổ nguồn
lực hiệu quả khi họ biết chính xác số tiền ngân sách mình có. (2) So với việc
phân bổ ngân sách theo nhiều cấp như truyền thống, việc phân quyền xử lý
ngân sách cho chính các trường đại học là hiệu quả hơn. Bởi hơn ai hết, các
trường đại học nắm rõ nhu cầu của chính họ, giúp việc phân bổ ngân sách hiệu
quả và linh hoạt hơn. (3) Việc phân quyền khiến các trường đại học phải chịu
trách nhiệm nhiều hơn đối với việc xử lý nguồn vốn ngân sách. Ngân sách chỉ
được phân bổ một lần, nên người đứng đầu các trường đại học phải sử dụng một
cách tiết kiệm nhất. Tác giả cũng chỉ ra rằng muốn việc tự chủ tài chính được
thực hiện hiệu quả thì chính phủ phải bãi bỏ những quy định gây hạn chế quyền
tự chủ của các trường đại học. Những nhà hoạch định chính sách phải đưa ra cơ
chế để quyền tự chủ thực sự thuộc về các trường đại học.
8
Về chính sách học phí đại học của Việt Nam
- Nguyễn Trường Giang (2012) đã nêu ra một số bất cập của cơ chế tài
chính hiện hành như: Mức học phí thấp không đủ bù đắp chi thường xuyên;
việc phân bổ ngân sách cho các cơ sở đào tạo công lập mang tính bình quân,
chưa gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo; cơ chế
tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính còn nhiều bất cập. Tác giả cũng đã gợi ý
sơ bộ một số giải pháp đổi mới cơ chế tài chính: Từng bước tính đủ chi phí
trả thu nhập cho người lao động; tự chủ sử dụng các nguồn lực tài chính, xác
định mức thu học phí, lệ phí, thu phí dịch vụ và sử dụng tài sản.
- Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012), nghiên cứu chính sách học
phí trong bối cảnh đổi mới cơ chế tài chính, hướng tới nền giáo dục đại học
tiên tiến, tự chủ. Theo các tác giả, việc áp mức trần học phí theo quy định tại
Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ tại các trường được giao cơ chế tự
chủ về tài chính là chưa hợp lý. Các tác giả đề xuất, đối với các ngành nghề
có khả năng xã hội hóa cao (ví dụ tài chính, ngân hàng, thương mại v.v…),
nên xây dựng lộ trình cho phép các cơ sở đào tạo tự xác định mức học phí,
đảm bảo tự cân đối kinh phí đào tạo. Ngân sách nhà nước tiết kiệm được từ
những ngành nghề này chuyển sang góp phần thực hiện cơ chế nhà nước đặt
hàng đối với các ngành nghề đào tạo ít có khả năng xã hội hóa (ví dụ, khoa
học cơ bản, nghệ thuật, điện hạt nhân, đào tạo giáo viên sư phạm v.v ), với
mức giá đặt hàng được tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo. Để thực hiện việc
cải cách học phí và cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước vừa nêu, các tác giả
đề xuất thực hiện đồng thời hai giải pháp. Thứ nhất là xây dựng và phê duyệt
đề án tự chủ tài chính (trong đó có chính sách học phí) theo trường; và Thứ
hai là Nhà nước chủ động từng bước giao quyền tự chủ tài chính cao hơn cho
toàn khối giáo dục (trong đó có quyền tự chủ về xác định mức học phí). Các đề
10
xuất, giải pháp nêu trong báo cáo này là đúng đắn, tuy nhiên mới dừng lại ở
mức độ định hướng. Cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa các đề xuất, giải pháp
này để có thể triển khai thực tế.
Như vậy liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu của Đề tài, tuy đã có tương
đối nhiều nghiên cứu, nhưng vẫn còn quá nhiều vấn đề chưa được xử lý trên
phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn như tóm tắt dưới đây:
- Các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư cho giáo dục về mặt tài chính hiện
nay, thực chất là các nghiên cứu về tỷ lệ thu hồi vốn trong giáo dục. Như trên đã
trình bày chi tiết, đây là một khái niệm có ý nghĩa rất hạn chế, dễ gây hiểu lầm;
đào tạo. Hiện chưa có các nghiên cứu bài bản về vấn đề mức độ tự chủ hợp
lý, phạm vi tự chủ hợp lý cho các trường.
1.2. Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính ở các trƣờng đại học
công lập
1.2.1. Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức được thành lập để thực
hiện các hoạt động sự nghiệp. Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung
cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình
thường của xã hội. Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất
nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có
tính quyết định năng suất lao động xã hội. Những hoạt động sự nghiệp mang
tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa trên những tiêu chuẩn
sau: (i) Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có
thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương; (ii) Được nhà nước cấp kinh phí
và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được
phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ Nhà nước quy định;
(iii) Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà
12
nước quy định; (iiii) Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nước để kiểm soát các
khoản thu, chi tài chính.
Các đơn vị sự nghiệp công lập có những đặc điểm cơ bản sau: (i) Đơn
vị sự nghiệp công lập là những tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã
hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh,
hoạt động sự nghiệp cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế nhưng mục đích chính
không phải vì mục tiêu lợi nhuận. Nhà nước duy trì, tổ chức, tài trợ cho các
hoạt động sự nghiệp để cung cấp dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực
hiện vai trò của nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện chính
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận của nền
kinh tế và có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Trong thời
gian qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và
phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thể hiện :
Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể
dục, thể thao….có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như : đào tạo và
cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao; khám chữa bệnh, bảo
vệ sức khỏe người dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công
nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật…. phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp
công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề
án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thứ tư, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nước
đã góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa
14
nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trương xã hội hóa
hoạt động sự nghiệp của nhà nước, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở
tất cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động,
một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đồng thời qua đó cũng
thực hiện xã hội hóa bằng cách thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tư cho
sự phát triển của hoạt động sự nghiệp.
1.2.1.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nguồn thu
Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính là các đơn vị sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ
xuống. Áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có
nguồn thu, nhà nước phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên cho
đơn vị.
Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị SNCL
được tính như sau:
Mức tự bảo đảm chi phí
hoạt động thường xuyên
của đơn vị (%)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp =
x
100%
Tổng số chi hoạt động thường
xuyên Trong đó:
- Tổng nguồn thu sự nghiệp gồm: Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí
cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước.
- Tổng số chi hoạt động thường xuyên gồm: Tiền lương, tiền công, các
khoản phụ cấp lương, các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ
16
công tác thu phí và lệ phí, các khảon chi nghiệp vụ chuyên môn, sửa chữa
hoặc xét tuyển.
+ Quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức, ký hợp đồng làm việc với
những người đã được tuyển dụng, trên cơ sở bảo đảm đủ tiêu chuẩn của ngạch
cần tuyển và phù hợp với yêu cầu của đơn vị.
+ Quyết định điều động, biệt phái, nghỉ hưu, thôi việc, chấm dứt hợp
đồng làm việc, khen thưởng, kỷ luật cán bộ viên chức thuộc quyền quản lý
của đơn vị mình.
+ Quyết định nâng lương đúng thời hạn, trước thời hạn đối với nhân
viên tại đơn vị mình theo điều kiện và tiêu chuẩn do pháp luật quy định.
+ Quyết định mời chuyên gia nước ngoài đến làm việc chuyên môn,
quyết định cử viên chức của đơn vị đi công tác, học tập ở trong và ngoài nước
để nâng cao trình độ chuyên môn.
- Về tài chính:
+ Huy động vốn và vay vốn tín dụng : Đơn vị sự nghiệp có hoạt động
dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán
bộ viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt
động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật.
+ Quản lý và sử dụng tài sản : Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản
lý và sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản
nhà nước tại đơn vị sự nghiệp. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động
dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định. Số tiền trích
khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn từ
NSNN đơn vị ưu tiên chi trả nợ vay. Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị
được để lại bổ sung Qũy phát triển hoạt động sự nghiệp.
- Nhà nước thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các
đơn vị sự nghiệp công lập với mục tiêu :
18
+ Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp