1
Trong thời gian dài trước đây chúng ta quan niệm y tế, giáo dục … là các
lĩnh vực “ phi sản xuất vật chất”, có nghĩa đối lập với lĩnh vực sản xuất vật chất
như nông nghiệp, công nghiệp. Chính quan điểm sai lầm này đã kéo theo sự đầu
tư thấp vì xem như đầu tư vào các lĩnh vực này là tiêu tốn nguồn lực của Nhà
nước mà không sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng. Các bệnh viện chỉ đơn
thuần là cơ quan hành chính sự nghiệp thu đủ, chi đủ.
Chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đã có những thay đổi căn bản
trong nhận thức, quan điểm về ngành y tế. Ngành y tế được coi là một ngành
trong hệ thống kinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ phục vụ các nhu
cầu có tính chất phúc lợi xã hội. Nói cách khác, ngành y tế có đóng góp vào
GDP của đất nước. Đầu tư cho y tế không phải là tiêu phí mà là đầu tư cơ bản,
đầu tư cho phát triển. Theo quan điểm mới, bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch
vụ nhưng khác với các đơn vị kinh doanh dịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch
vụ của bệnh viện không đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất.
Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua các hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập
và tích cực hoạt động không vì doanh lợi.
Xuất phát từ quan niệm mới trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay
đổi căn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
trong chương trình nghị sự cải cách tài chính công. Đó là:
Thứ nhất, thay cho việc cấp kinh phí theo số lượng biên chế như hiện nay
bằng việc tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng
vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu cho đơn giản hơn, tăng
quyền chủ động cho đơn vị sử dụng ngân sách.
Thứ hai, xoá bỏ cơ chế cấp phát theo kiểu “ Xin- Cho”, thực hiện chế độ
tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực
hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phần còn lại do đơn vị tự trang trải.
1.1 tài chính
:
1.1.1 tài chính
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã
hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân
phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các
chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.
:
Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ
chủ yếu với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá
trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua nhất định ở các chủ
thể kinh tế - xã hội.
Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá
trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ
tiền.
:
* Chức năng huy động
Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức
khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. 4
Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và
Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt
hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước
quy định (nếu có);
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa
lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm
quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có
thẩm quyền phê duyệt;
Kinh phí khác (nếu có)
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:
Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy
định của pháp luật;
Thu từ hoạt động dịch vụ;
Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi từ tiền gửi ngân
hàng.
- Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp
luật.
- Nguồn khác, gồm: 6
Nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức
trong đơn vị;
Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước theo quy định của pháp luật.
- Tuyến tỉnh: Sở Y tế
- Tuyến huyện: Bệnh viện (trực thuộc sở Y tế)
- Tuyến xã (y tế thôn bản): Trạm y tế xã
Việc phân cấp quản lý ngân sách y tế thành 4 cấp quản lý như trình bày ở
trên có mặt tích cực là trao quyền chủ động về điều hành chi ngân sách nhà nước
cho y tế cho từng cấp chính quyền, gắn vời việc chi ngân sách cho y tế với trách
nhiệm chăm sóc sức khỏe nhân dân của từng cấp chính quyền cơ sở. Tuy vậy nó
cũng có hạn chế là có sự chia cắt về ngân sách y tế giữa các cấp chính quyền.
Bộ Y tế có rất ít thông tin về ngân sách y tế của tỉnh, không phát huy hết vai trò
kiểm soát việc thực hiện chính sách đầu tư cho y tế ở các địa phương. Do vậy,
cần thiết phải xây dựng một cơ chế quản lý và cung cấp thông tin.
1.1.4 C
Đặc trưng của hệ thống y tế là bệnh viện. Bệnh viên có trách nhiệm khám,
chữa bệnh cho cán bộ và nhân dân theo đúng luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và
các quy định khác của Nhà nước. Bên cạnh đội ngũ bác sỹ, y tá giỏi về nghiệp
vụ và chuyên môn bệnh viện cần phải có nguồn kinh phí để duy trì hoạt động
8
của mình. Ngoài việc đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế phục vụ cho công tác
khám, chữa bệnh, còn phải có lương và phụ cấp cho cán bộ - viên chức của bệnh
viện, chi phí cho quản lý hành chính, chi cho sửa chữa bảo dưỡng thường
xuyên,…
Cơ chế tài chính ở bệnh viện công lập là hệ thống những quy định của nhà
nước về nguồn tài chính cho việc cung cấp và tiếp cận các dịch vụ y tế bệnh viện
công lập, góp phần thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe đối với người dân.
Có ba hình thức cung cấp tài chính cho dịch vụ y tế bệnh viện công lập:
.
Trước hết, ngân sách nhà nước là nguồn để nhà nước đầu tư cơ sở vật chất
Để khắc phục phục tình trạng cấp trên can thiệp quá sâu vào công việc
của cấp dưới, cấp dưới chờ đợi sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên thì “cơ chế tự chủ
về tài chính đối với các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp” tất yếu phải được
ra đời để tạo tiền đề cho việc đổi mới phương thức quản lý tài chính theo hướng
kết quả đầu ra, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong các khâu phân bổ,
chấp hành và quyết toán Ngân sách nhà nước.
Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã
hội hóa các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công là một chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước ta. Tại Kết luận số 37- TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị,
Đảng ta đã thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ: “Đổi mới cơ chế hoạt động
của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ
sự nghiệp công”. Đây được coi là một trong những nhiệm vụ then chốt, góp
phần hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 quy định về cơ chế hoạt động, cơ
chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám
bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập.
Hiện nay, Bộ Y tế đang khẩn trương xây dựng, phối hợp cùng Bộ Tài
chính và các Bộ liên quan xây dựng các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị
định 85 nhằm đổi mới cơ bản cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế. Chỉ
đạo các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số
04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 29/02/2012 ban hành mức tối đa khung giá của
447 dịch vụ kỹ thuật y tế theo lộ trình định hướng của Chính phủ là không thực
hiện cùng một thời điểm, mức điều chỉnh hợp lý để phục vụ mục tiêu kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tiếp tục hoàn chỉnh để ban hành Thông tư
hướng dẫn thực hiện Nghị định 69/2008/NĐ-CP và đẩy mạnh xã hội hóa các
nguồn vốn đầu tư như vay vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng phát triển, Quỹ
kích cầu (Công ty đầu tư tài chính Tp. Hồ Chí Minh) để đầu tư xây dựng cơ sở
- Quản lý kinh tế y tế
*
- Các phòng chức năng: Phòng Tổ chức cán bộ, phòng Kế hoạch tổng hợp,
phòng Tài chính kế toán, phòng Điều dưỡng, phòng Hành chính quản trị, phòng
Vật tư thiết bị y tế.
- Các khoa: Khoa Nội tổng hợp, khoa Nội tim mạch, khoa Nội thận - Nội
tiết - Tiết niệu, khoa Ngoại Tổng hợp, khoa Ngoại chấn thương, khoa Hồi sức
cấp cứu, khoa Sản, khoa Cấp cứu, Khoa Y học nhiệt đới, khoa Y học cổ truyền,
khoa Lão khoa, khoa Khám bệnh, khoa Phục hồi chức năng, khoa Da liễu, khoa
chẩn đoán hình ảnh, khoa Tai mũi họng, khoa Mắt, khoa Răng hàm mặt, khoa
Ung bướu, khoa Phẫu thuật gây mê, khoa Giải phẫu bệnh, khoa Sinh hóa, khoa
Vi sinh, khoa Huyết học truyền máu, khoa Dinh dưỡng, khoa Dược, khoa Kiểm
soát nhiễm khuẩn
- Tùy theo nhu cầu khám, chữa bệnh và yêu cầu phát triển bệnh viện từng
bước lập kế hoạch, đề án trình các cấp có thẩm quyền thành lập một số khoa mới
trong cơ cấu tổ chức của bệnh viện đa khoa
11
Tcó 11 bệnh viện đa khoa. Các BVĐK gồm: Tp. Long
Xuyên, Tp. Châu Đốc, Tx. Tân Châu, huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn, huyện
Thoại Sơn, huyện An Phú, huyện Phú Tân, huyện Châu Phú, huyện Châu Thành,
huyện Chợ Mới.
*
- Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn, (xử lý cấp cứu, chữa bệnh
cơ bản)
- Tham gia công tác thu dung, điều trị bệnh nhân trong các vụ dịch, bệnh,
thảm họa,
- Tham gia tuyên truyền phòng bệnh trên địa bàn.
- Đào tạo, chỉ đạo chuyên môn có tuyến xã
500
36.858
3
BV Tim Mạch
110
100
3.300
4
BV Mắt-TMH-RHM
80
50
465
B
1.940
1.630
108.857
1
BVĐK Tp. Long Xuyên
92
80
4.800
2
BVĐK Tp. Châu Đốc
69
50
4.156
3
BVĐK Tx. Tân Châu
256
7
BVĐK h. Tịnh Biên
176
140
8.858
8
BVĐK h. Châu Thành
156
130
8.224
9
BVĐK h. Thoại Sơn
208
170
11.154
10
BVĐK h. Châu Phú
148
120
8.445
11
BVĐK h. An Phú
220
180
11.469
4.090
3.280
206.180
nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập. Đối
với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương,
tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm;
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một
lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu
nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu
nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong
đó, đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3
tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong
năm. Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự
nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
.
2013.
Hiện nay các bệnh viện đều thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị
định 43/2006/NĐ-CP. Có 2 bệnh viện chuyên khoa tự đảm bảo toàn bộ chi phí
hoạt động và 13 bệnh viện đa khoa ( 2 BVĐK tỉnh và 11 BVĐK huyện) đảm bảo
một phần chi phí hoạt động khoảng từ 10% – 50%.
Từ khi được giao quyền tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, cơ sở
khám, chữa bệnh công lập của tỉnh chủ động trong điều hành, quản lý chi tiêu tài
chính, được phép huy động vốn để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất; nâng cao
chất lượng hoạt động sự nghiệp; công khai, minh bạch trong tổ chức sắp xếp bộ
máy phù hợp nhiệm vụ được giao. Một số bệnh viện cũng được phép vay vốn,
liên doanh liên kết, mở rộng dịch vụ, phát triển quy mô kỹ thuật, chất lượng
chuyên môn phục vụ, đổi mới trang thiết bị, góp phần đáp ứng nhu cầu thụ
các tổ chức tín dụng, vay vốn kích cầu, huy động vốn của cán bộ viên chức trong đơn
vị, liên kết lắp đặt thiết bị cùng khai thác.
- Mở rộng hoạt động, phát triển nguồn thu sự nghiệp tạo nguồn cải cách
tiền lương: Ngoài nguồn kinh phí tiết kiệm 10% chi hoạt động thường xuyên ngân
sách nhà nước,các đơn vị sự nghiệp chủ động sử dụng 35% nguồn thu sự nghiệp để
thực hiện cải cách tiền lương theo quy định của Chính phủ đã góp phần bảo đảm bù
đắp một phần nhu cầu tiền lương tăng thêm theo quy định của Chính phủ; trong đó có
một số đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động, tự bảo đảm toàn bộ tiền lương, ngân sách
nhà nước không phải bổ sung kinh phí do thay đổi chế độ tiền lương; đối với các đơn
vị tự bảo đảm một phần kinh phí, một phần thu sự nghiệp được huy động để bù đắp
nguồn tiền lương tăng thêm theo quy định giảm chi từ nguồn NSNN.
15
- 2012 : 678.245
+ Năm 2010 : 175.699 triệu
+ Năm 2011 : 206.389 triệu
+ Năm 2012 : 296.157 triệu
- Trên cơ sở mở rộng các hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu, cùng với nguồn
kinh phí ngân sách nhà nước giao đã từng bước nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ
công cho xã hội; tạo điều kiện cho người dân ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn, tiếp
cận với các dịch vụ khám, chữa bệnh có chất lượng ngày càng cao.
- Từng bước giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên; tăng
cường phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc về: mua sắm, sửa chữa, thanh lý
tài sản; thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn
- Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã góp phần thúc đẩy các đơn vị
sắp xếp lại tổ chức bộ máy, bố trí, sử dụng cán bộ, viên chức phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị; tiết kiệm kinh phí, tăng cường cơ
sở vật chất, từng bước hiện đại hoá công nghệ quản lý, tăng thu nhập cho CBVC.
trong đó Bác sỹ và trên đại học có 907, bao gồm: 2 tiến sỹ, 36 thạc sỹ, 315 bác
sỹ CK1, 22 bác sỹ CK2, 532 bác sỹ, bình quân đạt 4,2 bác sỹ/10.000 dân (toàn
quốc là 7,2/10.000 dân). Dược sỹ đại học và trên đại học có 82 người, bao gồm:
3 thạc sỹ, 5 dược sỹ CK1, 74 dược sỹ đại học, bình quân đạt 0,38 Dược sỹ đại
học/10.000 dân (toàn quốc là 1,76 dược sỹ/10.000 dân. Y tá có 1.545 người,
trong đó có 54 y tá đại học và cao đẳng (cử nhân điều dưỡng), Nữ hộ sinh có 62,
trong đó có 6 đại học và cao đẳng. Kỹ thuật viên đại học có 21).
Sự chỉ đạo sâu sát kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Đảng ủy Sở Y tế và
Ban Giám đốc Sở trong quản lý điều hành thu, chi NSNN trên lĩnh vực khám,
chữa bệnh công lập toàn tỉnh.
Các Sở, ngành và các cấp quản lý đều có phối hợp thực hiện tốt công tác
triển khai Nghị định 43/2006/NĐ-CP, cụ thể như hướng dẫn, phổ biến các nội
dung của Nghị định này và các văn bản khác có liên quan hỗ trợ.
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước, năm 2012 Sở Y tế cũng đã tổ
chức được 01 lớp tập huấn Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 130/2005/NĐ-
CP, Nghị định 52 và một số Luật hiện hành cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc
Sở Y tế. Qua đợt tập huấn, các cơ quan, đơn vị nắm rõ hơn các quy định phân
cấp về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế,
quy chế chi tiêu nội bộ, chế độ báo cáo. Từ đó góp phần nâng cao nhận thức và
chuyên môn các ngành, các cấp đối với cơ chế tự chủ này để khi đi vào tổ chức
thực hiện không còn gặp khó khăn, lúng túng về quy trình lập, chấp hành dự
toán, xây dựng phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm, quy chế chi tiêu nội bộ và
báo cáo quyết toán.
Sự quán triệt, đổi mới kịp thời phương thức hoạt động của Thủ trưởng các
cơ sở khám, chữa bệnh công lập, giúp đơn vị chủ động trong điều hành dự toán
được giao, chủ động trong việc huy động các nguồn lực để đầu tư tăng cường cơ
sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, mở rộng các hoạt động sự nghiệp và các hoạt
động dịch vụ trong đơn vị.
2.2.2.2 nhân
càng tăng và đa dạng; một bộ phận nhân dân không có khả năng tài chính tham
gia bảo hiểm y tế và tiếp cận các dịch vụ y tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư của
Nhà nước còn thấp và khả năng đáp ứng của hệ thống y tế nói chung còn hạn
chế.
Mô hình hệ thống y tế liên tục thay đổi, một số cơ chế, chính sách không
còn phù hợp nhưng chậm thay đổi và bổ sung, tư tưởng bao cấp vẫn còn nặng
nề.
Về mặt chủ quan:
Nghị quyết 46 - NQ/TW và các kết luận của Bộ Chính trị về phát triển sự
nghiệp y tế đã chỉ ra quan điểm, định hướng và những giải pháp đột phá, nhất là
trong cơ chế tổ chức hoạt động, cơ chế tài chính,…nhưng còn một số mặt công
tác chưa được phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo.
Vai trò nòng cốt của ngành y tế chưa được phát huy, chưa có tầm nhìn
mang tính đột phá, chiến lược.
Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa đồng bộ và thường
xuyên. 18
Ngành y tế triển khai, thực hiện Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012
của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế
công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám chữa bệnh công lập
và tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 08/NQ-TU ngày 14/12/2012 của tỉnh ủy về phát
triển sự nghiệp y tế, nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-
2015 và Kế hoạch số 15/KH-UBND ngày/3/2012 của Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang
về thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TU;
Hiện nay các đề án, các văn bản hướng dẫn của Trung ương về thực hiện Nghị
định 85-CP còn chậm ban hành, do đó các địa phương còn phải chờ Trung ương;
19
CHÍNH
3.1
Thúc đẩy thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước về thực hiện tiết kiệm, chống
lãng phí; tạo điều kiện tăng thu nhập hợp pháp cho người lao động, gắn với hiệu suất
công tác của từng cán bộ, viên chức; đồng thời tạo thêm nguồn lực thực hiện cải cách
tiền lương.
Tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp tăng thêm thu nhập cho người lao động gắn
với chất lượng, hiệu quả công việc.
Giao dự toán Ngân sách nhà nước: Cấp kinh phí ngay từ đầu năm đã giúp cho
các đơn vị chủ động điều chỉnh các mục chi theo nhu cầu, đồng thời kiểm soát chi qua
Kho bạc cũng nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Sử dụng kinh phí tiết kiệm từ hoạt động chi thường xuyên: Các đơn vị chủ động
trong việc quản lý, sử dụng kinh phí, tiết kiệm chi. Kinh phí thường xuyên năm trước
không sử dụng hết chuyển sang năm sau .
Huy động nguồn lực phát triển hoạt động sự nghiệp
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống y tế An Giang đến năm 2020 theo hướng
công bằng, hiệu quả, phát triển và phù hợp với đặc điểm tình hình của địa
phương nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân về bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, tăng
tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số góp phần cải thiện nguồn nhân lực phục vụ
yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương.
130
20
n (%)
109,95
110,02
()
46
46
Trong đó: Hệ số tăng thu nhập dưới 1 lần
45
11
Trong đó: Hệ số tăng thu nhập từ trên 1 – 2 lần
01
35
Bệnh viện cấp tỉnh thực hiện được tiết kiệm (%)
58,33
63,08
Bệnh viện cấp huyện thực hiện được tiết kiệm (%)
44,92
48,11
(%)
36,85
27,24
(%)
75
100
100
Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế (%)
58,5
> 80
3.2
3.2.1
Xây dựng các chính sách ưu đãi phù hợp để khuyến khích, thu hút tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh phát triển các loại hình dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ nhân dân, thành lập các bệnh viện, các phòng khám đa khoa tư
nhân, đặc biệt ở những nơi xa cơ sở y tế công lập. Thực hiện tốt chế độ khám,
chữa bệnh bảo hiểm y tế, từ đó khuyến khích động viên người dân chủ động
tham gia mua thẻ bảo hiểm y tế và tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.
Đầu tư mua sắm, bổ sung đủ trang thiết bị có chất lượng, phù hợp để thực
hiện các kỹ thuật tại bệnh viện. Bảo đảm cung ứng đủ và khai thác có hiệu quả
trang thiết bị y tế thông dụng cho các cơ sở phòng bệnh và chữa bệnh theo qui
định của Bộ y tế. Từng bước hiện đại hoá trang thiết bị cho các cơ sở y tế nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Củng cố, hoàn thiện, phát triển và mở rộng mạng lưới khám, chữa bệnh các
tuyến.
21
Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu, ứng dụng
khoa học, công nghệ mới, đặc biệt là các tiến bộ kỹ thuật về hồi sức cấp cứu,
chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, phẫu thuật nội soi, vi phẫu thuật, công nghệ
sinh học và công nghệ thông tin, hạn chế tối đa chuyển người bệnh lên tuyến
hóa chất, vật tư y tế của bệnh viện cũng giảm so với tổng thu.
3.2.3 N
.
Nắm đội ngũ kế toán trong ngành, lập kế hoạch đào tạo, bổ túc nâng cao
trình độ cho cán bộ kế toán.
22
Rà soát lại năng lực đội ngũ kế toán trưởng các đơn vị trực thuộc để kiến
nghị với cơ sở bổ sung kế toán trưởng có trình độ năng lực và phẩm chất tư cách
tốt.
Chấp hành nghiêm Luật ngân sách nhà nước tong quản lý điều hành dự
toán được giao và các kiến nghị khắc phục sửa đổi của đoàn thanh tra, kiểm
toán.Đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các chế độ, chính sách quy định của nhà
nước trong đấu thầu mua sắm, thanh toán tạm ứng, trích nguồn cải cách tiền
lương, trích lập quỹ, kê khai các khoản nộp thuế,…
Tạo quyền tự chủ và nâng cao trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị trong
việc sử sụng có hiệu quả biên chế, kinh phí, nguồn thu sự nghiệp để hoàn thành
nhiệm vụ được giao, đảm bảo tính công khai minh bạch.
3.2.4 T
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả, xiết chặt kỷ luật, kỷ cương trong quản lý
Nhà nước về y tế, nhất là quản lý sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo
hiểm y tế, quản lý giá thuốc, hành nghề y - dược tư nhân. Tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra, các quy chế chuyên môn tại các cơ sở khám chữa bệnh. Xây
dựng và hoàn thiện hệ thống các quy chế nội bộ, quy định các tiêu chuẩn cụ thể
với từng chức danh, vị trí công tác, quy chế về trách nhiệm của người đứng đầu,
quy chế phối hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ; duy trì tốt chế độ giao ban, hội họp
nhằm kiểm soát tốt từng đầu mối công việc.
Đây là hoạt động cần thiết, góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với
các đơn vị sự nghiệp. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, thông qua
Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ phát triển Ngành, xây dựng chương trình, quy
hoạch, kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế đảm bảo quy mô, cơ cấu,
chất lượng cán bộ theo quy định; ưu tiên thu hút, tuyển dụng bác sỹ. Khuyến
khích, đãi ngộ xứng đáng cho cán bộ y tế, đặc biệt thu hút cán bộ y tế làm việc
trong lĩnh vực độc hại, nguy hiểm, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và tuyến y
tế cơ sở.
Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đội
ngũ cán bộ ngành y tế; thực hiện có hiệu quả đề án đào tạo, đào tạo sử dụng theo
địa chỉ, đào tạo bác sỹ, dược sỹ đại học (hệ tập trung); khuyến khích gửi đào tạo
theo hướng chuyên khoa, chuyên sâu, đặc biệt nâng cao tay nghề không gắn với
bằng cấp để áp dụng, phát triển các kỹ thuật y học hiện đại, phù hợp với điều kiện
của tỉnh; tiếp tục đầu tư, nâng cấp Trường trung cấp Y tế, nâng cao chất lượng
giảng viên, đổi mới chương trình, tài liệu và phương pháp giảng dạy để từng bước
trở thành trung tâm đào tạo bảo đảm nguồn nhân lực y tế của tỉnh.
Xây dựng cơ chế, chính sách trong thu hút, đãi ngộ, sử dụng cán bộ ngành y
tế phù hợp với nhu cầu phát triển, hạn chế tối đa tình trạng "chảy máu chất xám"
trong Ngành. Chuẩn hoá việc đào tạo các loại hình cán bộ theo từng tuyến.
Triển khai, thực hiện tốt Quyết định số 29/2008/QĐ-BYT về Quy tắc ứng
xử trong cán bộ, nhân viên bệnh viện và thực hiện tốt chế độ luân phiên có thời
hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ở vùng sâu, vùng
xa, vùng khó khăn. Đảm bảo các chính sách, chế độ về tiền lương, phụ cấp theo
lương, phụ cấp đặc thù của Nhà nước gắn với nâng cao thu nhập cho cán bộ,
viên chức tại các cơ sở y tế. Sắp xếp, bố trí cán bộ phù hợp với năng lực, trình
độ.
24
thiện về cơ chế quản lý tài chính mà đơn vị chưa thực hiện được hoặc còn hạn
chế nhằm tập trung được nguồn lực tài chính, quản lý và kiểm tra việc sử dụng
nguồn kinh phí chặt chẽ, tiết kiệm hiệu quả, động thời qua đó góp phần cho các
cơ sở khám, chữa bệnh công lập nâng cao công tác quản lý tài chính.
25
Tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển sự nghiệp y tế vùng đồng bằng sông
Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng, tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất, trang thiết bị cho mạng lưới khám, chữa bệnh, đặc biệt là các dự án trọng
điểm: Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh,
bệnh viện Tim Mạch An Giang,…. Có chế độ ưu đãi về đào tạo đại học, sau đại
học cho tỉnh An Giang, nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt về cán bộ y tế ở địa
phương, đáp ứng kịp thời nhu cầu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng và đầu tư phát triển sự nghiệp y tế, tiếp tục có chính sách ưu đãi đối với cán
bộ y tế cơ sở.
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy, biên chế và nhân sự,
Nghị định 43 cho phép, nhưng thực tế Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp chưa
thực sự thực hiện được quyền này. Đề nghị UBND tỉnh có cơ chế đẩy mạnh hơn
việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở khám, chữa bệnh tự chủ hoàn toàn về chi
thường xuyên.
Trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán ở các đơn vị chưa đồng đều, một số
kế toán trưởng còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, nên trong công tác chưa thích nghi