nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới (innovation policy) kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho việt nam - Pdf 32

Bộ Khoa học v công nghệ

viện chiến lợc v chính sách khoa học v công nghệ
______________________________________

báo cáo tổng hợp

Đề ti cơ sở:

Nghiên cứu quá trình phát triển
chính sách đổi mới (innovation policy)
kinh nghiệm quốc tế v gợi suy cho Việtnam

Chủ nhiệm đề ti: HONG VĂN TUYêN

H Nội - 12/2006

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................................3
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................................................5
1.1. Đổi mới và chính sách đổi mới ...................................................................................................5
1.1.1. Đổi mới (innovation) ..........................................................................................................5
1.1.2. Chính sách đổi mới (innovation policy) .............................................................................9
1.2. Tầm quan trọng của chính sách đổi mới.................................................................................10
1.3. Quá trình phát triển chính sách đổi mới.................................................................................12
1.3.1. Quá trình hoạch định chính sách đổi mới .........................................................................12
1.3.2. Môi trường cho đổi mới....................................................................................................13
1.3.3. Truyền bá tri thức trong nền kinh tế .................................................................................15

2


MỞ ĐẦU
Chính sách đổi mới (innovation policy) là nhân tố quan trọng được mong đợi mở ra sự tăng
trưởng mạnh mẽ. Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức rõ tầm quan trọng
của đổi mới với vai trò quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (EC, 2002). Chính
sách đổi mới có thể giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm, quá trình và dịch vụ
đổi mới và chính phủ đóng vai trò như người tạo lập một khuôn khổ pháp lý thích hợp cho
quá trình này. Theo nhiều nghiên cứu của các học giả thì chính sách đổi mới đã vượt ra
khỏi phạm vi của chính sách nghiên cứu và phát triển (NC&PT), việc phát triển chính sách
đổi mới phù hợp không phải là vấn đề đơn giản và phải xem xét dưới nhiều khía cạnh khác
nhau. Gần đây, ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề đổi mới, đổi
mới công nghệ và hệ thống đổi mới quốc gia. Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu đơn
lẻ về một số khía cạnh trong quá trình phát triển chính sách đổi mới như nghiên cứu về
trung tâm xuất sắc, công viên khoa học/công nghệ, doanh nghiệp KH&CN, chùm đổi mới,
quản lý đổi mới, v.v… Tuy nhiên, một bức tranh tổng thể về các khía cạnh khác nhau trong
quá trình phát triển chính sách đổi mới hoặc chưa được xem xét và phân tích một cách sâu
sắc hoặc còn mờ nhạt trong các tài liệu trên. Xét theo giác độ đó, vấn đề nghiên cứu về các
khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi mới là cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm nước ngoài và tình
hình thực tế ở Việt nam, đề tài nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hình thành và
phát triển chính sách đổi mới (innovation policy) phù hợp ở Việt Nam.
Giới hạn nghiên cứu:
Với yêu cầu và mức độ của đề tài cấp cơ sở, đề tài này tập trung chủ yếu vào xác định đặc
trưng cơ bản của đổi mới và chính sách đổi mới, tầm quan trọng của chính sách đổi mới,
xem xét các khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi mới của một số
quốc gia điển hình. Xem xét tình hình Việt Nam (theo khung của OECD) chỉ mang tính
thăm dò, minh chứng cho các giả thuyết nghiên cứu.


mới của Việt Nam sẽ được xem xét dựa trên khung của OECD và từ đó rút ra những bài
học và khuyến nghị trong việc hoàn thiện chính sách đổi mới ở Việt Nam.
Tập thể tác giả: Chủ nhiệm đề tài, Ths. Nguyễn Thị Minh Nga, Ths. Phạm Quang Trí, CN.
Nguyễn Thị Lan Anh và một số đồng nghiệp trong Ban chính sách khoa học-NISTPAS.

4


CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Đổi mới và chính sách đổi mới
1.1.1. Đổi mới (innovation)
Đổi mới có tầm quan trọng đang gia tăng và thay đổi như một nguồn lực của lợi thế cạnh
tranh với tầm ảnh hưởng rộng lớn đến chính sách. Tuy nhiên, việc đưa ra một định nghĩa
thống nhất không phải là đơn giản và đã có nhiều tranh luận về vấn đề này.
Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học
Schumpeter (1911) đã phân biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui
trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng đó đến quá trình kinh tế (đổi mới).
Hộp 1. Phân biệt giữa phát minh, đổi mới và truyền bá
Phát minh/sáng chế: Sự nhận thức và hiểu rõ một thiết kế cho một sản phẩm hay qui trình hoặc
một sự cải tiến một sản phẩm hay qui trình.
Đổi mới: Việc áp dụng phát minh đến hoạt động kinh tế hoặc nói cách khác sự hữu dụng về mặt
kinh tế của một phát minh.
Truyền bá: Việc phổ biến rỗng rãi một phát minh trong nền kinh tế, việc phổ biến qui trình đổi
mới có ý nghĩa kinh tế. Sự truyền bá liên tục có thể dẫn đến sự thay đổi để rồi lại hình thành một
phát minh mới.

Đến năm 1939 Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng mới
trong sản xuất, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới (như sáp nhập), mở
ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo một cách mới hoặc tiến hành một sự


Hàng hoá

Dịch vụ

Hình 1. Phân loại đổi mới (theo Edquist, 1997:7)

Ngược lại với cách tiếp cận tuyến tính trong đó quá trình đổi mới phát triển qua những giai
đoạn theo trật tự tiệm tiến (từ nghiên cứu cơ bản/nghiên cứu nền tảng đến nghiên cứu ứng
dụng, triển khai thực nghiệm và đưa sản phẩm/dịch vụ ra thị trường,…), một số học giả đã
vận dụng cách tiếp cận mới: cách tiếp cận hệ thống. Cách tiếp cận hệ thống nhấn mạnh tầm
quan trọng của những hợp phần khác nhau và sự tương tác giữa các hợp phần này trong
toàn bộ hệ thống mà qui trình đổi mới phát triển. Ở đây, thuật ngữ “đổi mới” không được
đánh đồng với thuật ngữ “nghiên cứu” hoặc “tiến trình công nghệ”. Đổi mới vượt ra ngoài
phạm vi NC&PT và bao gồm một tập hợp các hoạt động. Do đó đổi mới có thể được định
nghĩa như sau: đổi mới là sự làm mới và mở rộng phạm vi sản phẩm, dịch vụ và thị trường;
sự hình thành những phương pháp sản xuất mới, cung cấp và phân bổ; đưa ra những thay
đổi trong quản lý, tổ chức công việc, những điều kiện làm việc và kỹ năng của người lao
động (EC, 2002a: 9).
6


Một định nghĩa khác: Đổi mới là một qui trình mà doanh nghiệp làm chủ và thực hiện công
việc thiết kế, sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà là mới đối với doanh nghiệp đó, bất luận
chúng có mới hay không đối với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước (EC, 2002a:9).
Trong nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Quân (2006), sau khi phân tích một số đặc điểm của
đổi mới (tính tổng thể, tính định hướng thị trường, tính đa dạng, tính không tuần tự, tính hệ
thống, khả năng tự tiến hoá và tự tổ chức và doanh nghiệp là chủ thể của hoạt động đổi
mới) tác giả đã nhấn mạnh đổi mới là hoạt động tìm kiếm và theo đuổi lợi nhuận của các
doanh nghiệp và doanh nhân trên thị trường thông qua quá trình tạo ra những sản phẩm và

-

NC&PT;

-

Tiếp nhận công nghệ và bí quyết tách rời dưới dạng sáng chế, giấy phép, bí quyết được
công bố, thương hiệu, thiết kế, khuôn mẫu, dịch vụ máy tính và các dịch vụ KH&CN
khác liên quan đến việc thực hiện đổi mới;

-

Tiếp nhận công nghệ gắn kèm dưới dạng máy móc, thiết bị với tính năng cải tiến (kể cả
phần mềm nằm trong đó) liên quan đến việc thực hiện đổi mới.

(ii)
-

Các khâu chuẩn bị sản xuất
Trang bị máy móc và xây dựng công nghiệp: các thay đổi trong thủ tục, phương pháp
và tiêu chuẩn về sản xuất và kiểm soát chất lượng và các phần mềm cần thiết để tạo ra
sản phẩm mới hoặc cải tiến về công nghệ, hoặc để sử dụng qui trình mới hoặc cải tiến
về công nghệ;

-

Thiết kế công nghiệp: các sơ đồ và bản vẽ nhằm xác định các thủ tục, tính năng kỹ thuật
và đặc điểm vận hành cần thiết cho việc sản xuất các sản phẩm mới về công nghệ và
thực hiện các qui trình mới;


nghệ mới.
Xuất phát từ hai định nghĩa trên Haukness và Wicken (1999) đưa ra cách xác định chính
sách đổi mới theo nghĩa rộng hơn, vượt ra khỏi phạm vi của những chính sách đổi mới đã
công bố (tức là chính sách tác động mạnh mẽ trực tiếp lên việc thực hiện đổi mới) bao gồm
chính sách công nghiệp, chính sách tài chính, chính sách thương mại, các biện pháp điều
chỉnh và luật pháp, và nhiều vùng chính sách khác. Theo các tác giả này thì chính sách đổi
mới bao gồm cả những chính sách công bố và chính sách ngầm định (liên quan đến thẩm
quyền của bộ về đổi mới và các bộ không có chương trình hành động đổi mới riêng). Nói
như vậy có nghĩa là chính sách ngầm định sẽ tạo ra một môi trường và những điều kiện cần
thiết của chính sách đổi mới công bố (Hauknes and Wicken, 1999).
Trong một nghiên cứu về chính sách đổi mới và cách tiếp cận hệ thống đổi, Edquist (2001)
cho rằng chính sách đổi mới là sự can thiệp của nhà nước dẫn đến sự thay đổi kỹ thuật và
các hình thức đổi mới khác, bao gồm: chính sách NC&PT, chính sách công nghệ, chính
sách cơ sở hạ tầng, chính sách vùng và chính sách giáo dục. Điều này có nghĩa là chính
sách đổi mới vượt ra khỏi phạm vi của chính sách KH&CN (ảnh hưởng đến đổi mới từ bên
cung) và như vậy chính sách đổi mới bao gồm cả hoạt động ảnh hưởng đến đổi mới từ bên
cầu (Edquist, 2001:18).
Nghiên cứu về chính sách đổi mới trong nền kinh tế tri thức (Cowan and van de Paal, 2000)
các tác giả đã đưa ra cách xác định chính sách đổi mới như một tập hợp các hoạt động
chính sách nhằm gia tăng số lượng và hiệu quả của các hoạt động đổi mới. Các hoạt động
đổi mới ở đây đề cập đến sự sáng tạo, sự thích nghi và chấp nhận các sản phẩm, qui trình
hoặc dịch vụ mới hoặc được cải tiến. Ở phạm vi doanh nghiệp hay tổ chức thì các hoạt
động này diễn ra nhằm giới thiệu các sản phẩm, qui trình hoặc dịch vụ mới hoặc được cải
9


tiến nhằm tăng năng suất, lợi nhuận hoặc thị phần, với mục tiêu cuối cùng là tăng tính cạnh
tranh của tổ chức mình trong khoảng thời gian dài.
Trong nghiên cứu của Uỷ ban châu Âu về Đổi mới thì cho rằng chính sách đổi mới không
đơn thuần chỉ tập trung vào NC&PT mà đúng hơn chính sách này tập trung vào các biện

Hai nguyên nhân đầu có thể thấy rõ qua hành vi của các doanh nghiệp đối với NC&PT.
Thứ nhất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) với nguồn lực hạn chế hoặc là không mặn
mà hoặc là đầu tư ít hơn vào NC&PT so với các doanh nghiệp lớn. Thứ hai, nhận thức của
các doanh nghiệp về tính chất hàng hoá công của tri thức. Các doanh nghiệp cho rằng tri
thức là một hàng hoá công mà có thể “lan toả” đến mọi doanh nghiệp và do vậy họ không
cần đầu tư và dẫn đến mức đầu tư vào NC&PT và đổi mới dưới “ngưỡng” cần thiết.
Nguyên nhân thứ ba đó là sự khác nhau lớn về thông tin giữa người phát minh (inventor) và
nhà đầu tư (investor). Điều này là dễ hiểu bởi vì những giao dịch thị trường hiệu quả phụ
thuộc vào quyền sở hữu của tài sản giao dịch. Nguyên nhân thứ tư là tính không chắc chắn
về lợi ích, sự công bố tri thức mới của các doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp cạnh tranh
về các công nghệ mới thì chiến lược của họ thông thường sẽ ngăn cản sự phổ biến tri thức
mà đem đến cho họ một lợi thế so với các doanh nghiệp khác. Nguyên nhân cuối cùng liên
quan đến triển vọng của xã hội và đến lợi ích xuất phát từ những hàng hoá và dịch vụ nhất
định mà những lợi ích này không được thừa nhận để chúng có thể hoặc là phát triển hoặc là
báo hiệu cho thị trường (Gustafsson et al., 2006:3).
Để giải quyết vấn đề thất bại trong thị trường, chính phủ các nước có thể đưa ra nhiều biệp
pháp chính sách, cơ chế khuyến khích khác nhau cho việc sản xuất và sử dụng tri thức, tăng
cường lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội như: hình thành hệ thống sở hữu trí tuệ thích hợp
để công nhận những người sản xuất tri thức về những chi phí cho việc khám phá và cùng
thời gian là phổ biến tri thức cũng như tăng cường kho tàng tri thức của nhân loại; hỗ trợ
đầu tư vào NC&PT thông qua các công cụ tài chính hoặc hỗ trợ trực tiếp; hình thành các
loại “tổ chức NC&PT đặc biệt” để tăng cường khả năng tiếp cận đến tri thức mới cho các
doanh nghiệp; hỗ trợ các trường đại học và các viện NC&PT khám phá tri thức khoa học
mới.
Thất bại hệ thống: đổi mới không phải là một quá trình tuyến tính từ khoa học đến thị
trường mà là một hệ thống phức tạp bao gồm rất nhiều các nhân tố khác nhau. Hệ thống đổi
mới là một tập hợp các tổ chức tương tác với nhau với các chức năng sản xuất, thông tin và
lưu trữ tất cả các nhân tố tri thức đặc biệt đòi hỏi trong quá trình đổi mới (Nelson, 1993;
Freeman, 1987; Edquist, 1997; Carlsson, 1995; Lundvall, 1992). Bởi vì hệ thống được hình
thành từ những nhân tố và do có tương tác giữa các nhân tố nên sự thất bại hệ thống sẽ xuất


Khuyến khích đầu tư vào đổi mới, tối ưu hoá chi tiêu khu vực công cho NC&PT;



Giảm thiểu những rào cản trong việc hình thành và phát triển doanh nghiệp dựa trên
công nghệ mới, doanh nghiệp đổi mới.

1.3. Quá trình phát triển chính sách đổi mới
Khi phân tích quá trình phát triển chính sách đổi mới của mỗi quốc gia, các khía cạnh sau
đây cần được nhìn nhận xem xét:
1.3.1. Quá trình hoạch định chính sách đổi mới
Như trên đã chỉ ra, chính sách đổi mới không chỉ tập trung vào NC&PT mà đúng hơn là tập
trung vào vấn đề làm thế nào để thúc đẩy môi trường có lợi cho đổi mới, đó là môi trường
tạo điều kiện cho truyền bá tri thức trong hệ thống. Chính sách nên chú ý vào những điều
kiện khung, bao gồm “nhu cầu” cho đổi mới: môi trường kinh tế vĩ mô định hướng tăng
trưởng và ổn định, cạnh tranh hiệu quả, liên kết khoa học-công nghiệp mạnh mẽ, tiếp cận
với nguồn vốn mạo hiểm, dnKH&CN, cũng như những điều kiện hình thành mạng lưới

12


quan hệ, hệ thống trợ giúp và cơ sở hạ tầng giáo dục (chẳng hạn cung cấp những nhà khoa
học). Tất cả những điều này gói gọn trong một môi trường thể chế thuận lợi (EC, 2002:10).
Một vấn đề quan trọng khác đó là việc điều phối chính sách đổi mới. Việc điều phối này có
thể diễn ra ở các cấp độ khác nhau: quốc gia, địa phương và một số tổ chức chịu trách
nhiệm về vấn đề này. Đây chính là cách thức mà các thành phần khác nhau của hệ thống
đổi mới thảo luận. Điều quan trọng là làm thế nào để “ghép nối” các chính sách khác nhau
ảnh hưởng đến đổi mới trong một đề xuất chính sách chung.
Một khía cạnh khác của quá trình điều phối này là việc xác định rõ trách nhiệm ở mức độ

sử dụng thích hợp những dịch vụ hỗ trợ có thể cải thiện đáng kể tính cạnh tranh của doanh
nghiệp. Những biện pháp thường được sử dụng trong một số nước là dịch vụ thông tin
chuyên nghiệp, dịch vụ thông tin pháp luật, dịch vụ đào tạo, dịch vụ thị trường chứng
khoán, vốn vay, bảo lãnh vốn vay,…


Sở hữu trí tuệ (SHTT)

SHTT và sử dụng sáng chế là một vấn đề quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách,
đặc biệt là các nước phương Tây. Sáng chế có thể khuyến khích đổi mới theo 2 cách: thứ
nhất, đưa đến khả năng khai thác một công nghệ mới và thứ hai phổ biến đến công chúng
những thông tin chi tiết liên quan đến những phát minh. Việc công bố này nhằm mục đích
thông báo công nghệ - thành quả sáng tạo cụ thể đã có chủ, và việc công khai này giúp cho
những người khác tránh được những nghiên cứu trùng lặp, tìm kiếm các hướng giải quyết
tốt hơn, đồng thời cung cấp cho các nhà nghiên cứu về các hướng phát triển mới của công
nghệ, những ý đồ sáng tạo mới làm cơ sở cho việc nảy sinh các sáng chế mới, công nghệ
mới. Cứ như vậy, mỗi quyền công nghệ được xác lập thì tri thức công nghệ của xã hội được
đổi mới thêm, xã hội không phải mất công sức, thời gian chi phí cho việc tìm kiếm công
nghệ đã được tìm ra, giảm các chi phí do nghiên cứu trùng lặp, xây dựng các hướng nghiên
cứu mới từ các giải pháp kỹ thuật đã được công bố.
Trong nền kinh tế định hướng đổi mới, việc đổi mới công nghệ để cạnh tranh và tăng lợi
nhuận càng trở nên gay gắt đòi hỏi một hệ thống bảo hộ SHTT hữu hiệu và chặt chẽ để
ngăn chặn sự cạnh tranh hỗn loạn, không trung thực, đồng thời kích thích năng lực công
nghệ nội sinh.


Các biện pháp tài chính cho đổi mới

Các nhà hoạch định và phân tích chính sách đều thừa nhận rằng những khó khăn về tài
chính cho đổi mới là rất phổ biến, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNC,

Hợp tác giữa khoa học và công nghiệp

Đổi mới thành công tuỳ thuộc vào việc tạo ra các ý tưởng và tri thức mới. Các ý tưởng và
tri thức mới lại tuỳ thuộc vào sự tồn tại của nền tảng khoa học đa dạng và vững chắc với
các cơ sở nghiên cứu hiện đại. Tuy nhiên, quan điểm liên kết giữa người sản xuất tri thức
và công nghệ với người sử dụng (người chuyển tri thức và công nghệ này thành các sản
phẩm, qui trình và dịch vụ đổi mới) theo một qui trình tuyến tính không còn phù hợp. Việc
tạo ra tri thức, sự chuyển giao và hấp thu đang thay đổi từ một quá trình tuyến tính đến một
quá trình “xoáy ốc”, phi tuyến và được biết đến trong cách tiếp cận hệ thống (nơi mà
chuyển giao tri thức diễn ra không ngừng và hai chiều). Kịch bản này làm gia tăng vai trò
của khu vực doanh nghiệp: vừa là người sử dụng công nghệ vừa là người trung gian chuyển
15


nhu cầu thị trường thành các vấn đề nghiên cứu. Những rào cản hợp tác giữa khu vực hàn
lâm và công nghiệp đang nhỏ dần.
(i)

Các biện pháp chính sách trực tiếp nhằm khuyến khích hợp tác giữa trường ĐH/viện
NC&PT và doanh nghiệp hoặc thúc đẩy việc sử dụng các kết quả nghiên cứu,
khuyến khích sinh viên, NCV và nhà khoa học làm việc cùng nhau hoặc khuyến
khích sự lưu chuyển nhân lực giữa các tổ chức hoặc các ngành, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp từ trường ĐH/viện NC&PT,
khuyến khích sự đối thoại giữa người sản xuất và sử dụng công nghệ (các diễn đàn
liên ngành và ngành, câu lạc bộ công nghệ,...).

(ii)

Các biện pháp chính sách gián tiếp như hình thành và phát triển công viên khoa học,
thung lũng công nghệ, cực công nghệ, trung tâm xuất sắc, v.v…cũng là những biện


DnKH&CN có vai trò quan trọng như một kênh thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo việc
làm, tăng trưởng và đổi mới (Tuyên, 2005: 13). DnKH&CN cũng thường đi kèm với sản
xuất giá trị gia tăng cao và thành công trên thị trường thế giới. Thêm nữa các hoạt động
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do các doanh nghiệp này thực hiện cũng tạo
ra hiệu ứng lan toả đem lại lợi ích cho các ngành công nghiệp khác mà tiếp đó dẫn đến sản
phẩm và qui trình mới hơn, tăng năng suất và tăng trưởng doanh nghiệp (EC, 2003: 5). Các
biện pháp chính sách thúc đẩy việc hình thành và phát triển dnKH&CN là rất cần thiết và
quan trọng trong nền kinh tế tri thức. Các biện pháp này trước hết khuyến khích sự tạo ra
các ý tưởng từ nghiên cứu, phát triển các dự án kinh doanh, chuyển ý tưởng thành các kế
hoạch kinh doanh cụ thể, sau đó tạo những điều kiện thuận lợi hay hỗ trợ cho sự phát triển
(đặc biệt là giai đoạn khởi nghiệp và giai đoạn phát triển sớm trong vòng đời phát triển của
dnKH&CN). Những nghiên cứu ở châu Âu đã chỉ ra 3 rào cản lớn nhất để hình thành và
phát triển dnKH&CN đó là thiếu văn hoá kinh thương, thiếu đào tạo những kỹ năng kinh
thương và thiếu vốn mạo hiểm.


Chính sách thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chuyển giao công nghệ
nước ngoài

Thương mại là một kênh quan trọng đối với việc truyền bá tri thức thông qua những công
việc liên quan đến hàng hoá nước ngoài. Thêm nữa việc nhập khẩu một loại hàng hoá tiên
tiến về mặt công nghệ có thể bắt đầu cho sự học hỏi và cho phép các nhà sản xuất trong
nước chế tạo một sản phẩm tương tự với chi phí thấp hơn. Như vậy có thể nói rằng có một
sự liên kết chặt chẽ giữa truyền bá tri thức và nhập khẩu (kể cả trực tiếp và gián tiếp thông
qua nước thứ ba) (Theisens và Kersting, 2004: 373).
FDI thường liên quan đến chuyển giao tri thức (ẩn/ngầm) từ một quốc gia đến một quốc gia
khác và như vậy có thể nói FDI là một kênh quan trọng tiềm năng đối với việc truyền bá tri
thức quốc tế.
Ngoài những đóng góp của FDI cho nguồn vốn đầu tư trong nước, đối với nguồn thu ngân

giúp tăng cường việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có thông qua mạng lưới liên kết với
các thể chế đầu tư; (ii) các vườn ươm trong trường ĐH/viện NC&PT còn có vai trò thúc
đẩy quá trình thương mại kết quả nghiên cứu thông qua việc hình thành các dnKH&CN từ
vườn ươm này, phổ biến các bí quyết kỹ thuật từ trường ĐH/viện NC&PT đến SMEs. (iii)
tạo việc làm mới; (iv) thu hút đầu tư và khuyến khích văn hóa kinh thương.


Cực/khu công nghệ

Cực công nghệ (technopolis) là một tụ điểm phát triển về công nghệ và trước hết là CNC.
Nó có vai trò khuyến khích sự hình thành và phát triển doanh nghiệp dựa trên tri thức, dựa
trên KH&CN và các tổ chức khác có trụ sở ở đó, đồng thời cực công nghệ còn hỗ trợ mạnh
mẽ cho CGCN và tăng cường kỹ năng kinh doanh và quản lý công nghệ. Như vậy có thể
nói cực cộng nghệ là một khái niệm rộng, bao hàm tất cả các khái niệm như công viên
nghiên cứu, trung tâm đổi mới,…là một tổ hợp chủ yếu định hướng công nghệ, dựa trên tài
18


sản công nghệ. Về quan điểm cấu trúc thì trong cực công nghệ có sự hiện diện của trường
ĐH và hoặc viện NC&PT. Vai trò của cực công nghệ như sau:
(i)

Như một công cụ cho sự phát triển địa phương thể hiện qua việc hỗ trợ các doanh
nghiệp mới. Điều này có thể lấy ví dụ qua sự thành công của thung lũng Silicon nhờ
một phần đóng góp của Công viên nghiên cứu Stanford. Như vậy cực công nghệ là
những điểm nút trong mạng lưới các thể chế kinh tế của một quốc gia.

(ii)

Tạo cơ hội việc làm.

ươm tạo. Mục tiêu của trung tâm là giúp cho các doanh nghiệp CNC mới tồn tại qua các
giai đoạn đầu (khởi nghiệp, tăng trưởng sớm) trong vòng đời phát triển doanh nghiệp. Các
thành viên của trung tâm đổi mới tiếp cận đến phương tiện nghiên cứu, phát triển và thiết bị

19


từ các trung tâm nghiên cứu, trường đại học. Các doanh nghiệp được xem như thành viên
của trung tâm đổi mới phải tập trung vào CNC.


Công viên khoa học/nghiên cứu và thành phố khoa học

Một công viên trong đó các hoạt động NC&PT là các hoạt động chi phối, các hoạt động
này hợp tác chặt chẽ với các phòng thí nghiệm, trường ĐH và hoặc viện NC&PT trong
cùng một vị trí hoặc những vị trí gần đó thì gọi là công viên khoa học/nghiên cứu. Khi mà
công viên mở rộng qua một vùng địa lý rộng thì được gọi là thành phố khoa học.


Trung tâm xuất sắc

Trung tâm xuất sắc là những thể chế nhằm vào việc trình diễn những tiến bộ khoa học trong
các lĩnh vực như giáo dục đào tạo, NC&PT kể cả những mối quan hệ mạnh mẽ giữa khu
vực hàn lâm và khu vực công nghiệp. Tại đây tri thức, nghiên cứu ứng dụng và trợ giúp kỹ
thuật được sử dụng để tăng cường và thúc đẩy các doanh nghiệp định hướng tăng trưởng và
công nghệ.
Ví dụ điển hình đó là chương trình các trung tâm xuất sắc của Utah được xây dựng để thúc
đẩy thương mại hoá các sản phẩm là các công nghệ tiên tiến nhất xuất phát từ các trường
ĐH/viện NC&PT. Điều này được thực hiện thông qua các biện pháp như tài trợ cho nghiên
cứu ở các trường ĐH, cấp li-xăng cho các công nghệ đã có sáng chế, thành lập các doanh

phải làm việc với nhiều SMEs;

-

Công nghệ: hoặc do công nghệ phải nhập, hoặc do chi phí đầu tư ban đầu quá cao đối
với doanh nghiệp;

-

Thị trường sản phẩm: hoặc do thiếu mối quan hệ với các nhà thương gia trên thị trường,
hoặc không có khả năng tiếp thị một cách có hiệu quả cũng như khả năng quảng cáo
cho sản phẩm;

-

Quản trị: do tiếng nói chính trị hạn chế và khả năng đàm phán yếu của SMEs.

Đối với SMEs hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, những rào cản này rất khó
vượt qua. Tuy vậy, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy vấn đề không phải ở quy mô
vừa và nhỏ của các doanh nghiệp này mà do “vị trí đơn độc” của nó. Đây chính là chỗ để
chùm và mạng lưới quan hệ có thể phát huy tác dụng.
Chùm là một nhóm các doanh nghiệp được tập trung theo ngành và theo không gian.
Ngược lại một mạng lưới quan hệ là tập hợp các doanh nghiệp không nhất thiết phải ở cùng
một nơi nhưng họ hợp tác chặt chẽ với nhau. Cả 2 hình thức tạo nhóm này đều có thể giúp
SMEs có được lợi thế cạnh tranh.
Một số kinh nghiệm nổi tiếng về phát triển chùm công nghiệp ở Italy trong giai đoạn 19601970 đã chỉ ra sự tăng trưởng mạnh (vùng Đông Bắc và miền Trung Italy), những nơi này
vốn trước kia không được biết tới như là vùng có năng lực công nghiệp mạnh. Ở một số
khu vực các nhóm doanh nghiệp tạo chùm với nhau cố gắng thâm nhập vào những thị
trường xuất khẩu cạnh tranh về sản phẩm da giầy, dệt may và chế biến thực phẩm. Những
ngành công nghiệp cung cấp máy móc thiết bị cho những ngành nói trên cũng tạo được



Cải tiến hệ thống đào tạo, tăng cường các chương trình đào tạo, chương trình phát triển
nguồn nhân lực phục vụ đổi mới;



Phát triển tinh thần kinh thương (entrepreneurship) và người có tinh thần kinh thương
(entrepreneur).

Không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả các nhà nghiên cứu cũng đang quan tâm
đến vấn đề này. Tinh thần kinh thương được xem như một động cơ thúc đẩy sự năng động
và đổi mới nền kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế (Báo cáo của Bộ kinh tế Hà lan, 2002:
9).
22


Người có tinh thần kinh thương được xem như người sáng tạo ra sự không ổn định và sự
phá huỷ có tính đổi mới và là những người sáng lập ra các doanh nghiệp mới hoặc là người
đổi mới. Nói một cách khác người có tinh thần kinh thương là cá nhân đưa ra những ý
tưởng mới và thực hiện những ý tưởng này nhưng không đảm bảo sự chắc chắn về kết quả
đạt được. Điều này có nghĩa là người có tinh thần kinh thương là người sáng tạo ra sản
phẩm mới, các phương pháp sản xuất mới, các kế hoạch tổ chức mới và sự kết hợp mới
giữa thị trường và sản phẩm.
Tinh thần kinh thương là khả năng và sự sẵn sàng của các cá nhân để:
-

Hiểu được và tạo ra những cơ hội kinh tế mới (sản phẩm mới, phương pháp sản xuất
mới, kế hoạch tổ chức mới và sự kết hợp mới giữa thị trường và sản phẩm);


2.1.1. Hoạch định chính sách đổi mới
Về nhận thức, ngày nay hầu hết các nước phát triển của châu Âu và thậm chí một số nước
Đông Âu đều nhận thức cao về đổi mới và ưu tiên cho đổi mới, thậm chí đổi mới được xem
như một chương trình nghị sự chính sách của chính phủ.
Xét theo khía cạnh hành chính, việc hoạch định và thực hiện chính sách đổi mới của các
quốc gia châu Âu cũng theo những cách tiếp cận khác nhau và có thể chia thành 3 cách tiếp
cận sau (EC, 2004:30,31):
-

Tiếp cận chức năng, hiện đại: xem xét đổi mới như một yếu tố cấu thành của chính sách
công và như vậy việc điều phối chính sách do một cơ quan cấp bộ chịu trách nhiệm.
Điển hình cho cách tiếp cận này là các nước Bắc Âu (Thuỵ Điển, Đan Mạch, Phần Lan)
và Ai-rơ-len;

-

Tiếp cận truyền thống: xem xét đổi mới như là giai đoạn cuối cùng của quá trình
NC&PT và do đó bộ kinh tế/công nghiệp sẽ chịu trách nhiệm về chính sách đổi mới.
Điển hình cho cách tiếp cận này là Hà Lan, CHLB Đức, Italy và Tây Ban Nha.

-

Một số trường hợp riêng không thuộc 2 cách tiếp cận trên. Điển hình là Anh, Pháp, Hy
Lạp, Bỉ, Thuỵ Sỹ và một số quốc gia nhỏ khác.

Ở đây, cũng cần phải nhấn mạnh rằng chỉ riêng cơ cấu tổ chức “cứng” không tạo nên sự
khác biệt giữa các quốc gia mà đúng hơn là quá trình hoạch định chính sách (theo cách tiếp
cận hệ thống với sự tham gia đầy đủ của các nhân tố cấu thành ở các giai đoạn khác nhau)
cũng như nội dung chính sách ban hành, điều phối và thực hiện chính sách.
Một điểm đáng quan tâm trong quá trình điều phối là việc phân định trách nhiệm quản lý

chính sách đổi mới ở châu Âu: (i) khuyến khích SMEs áp dụng và khai thác SHTT; (ii) thay
đổi quyền sở hữu SHTT trong các viện NC&PT công một số vấn đề đặc biệt như SHTT
trong phần mềm máy tính và công nghệ sinh học.
Khuyến khích SMEs sử dụng SHTT được khẳng định là ưu tiên hàng đầu trong các nước
thành viên. Hầu hết các biện pháp chính sách nhằm tăng cường nhận thức về SHTT của
SMEs và thúc đẩy cơ sở hạ tầng SHTT. Tăng cường nhận thức với nhiều cánh tiếp cận khác
nhau để giảm thiểu những cản trở cho SMEs áp dụng các biện pháp SHTT như cung cấp cơ
sở dữ liệu điện tử, trợ giúp tài chính và một loạt các trợ giúp khác.
Thay đổi quyền sở hữu SHTT trong các viện NC&PT công cũng là một vấn đề được tranh
luận ở một số nước châu Âu. Một số nước hay vùng đã đưa ra các biện pháp chính sách về
vấn đề này. Điển hình là vùng Wallonia (Bỉ) thì các trường ĐH và viện NC&PT được giữ
quyền về SHTT từ các chương trình NC&PT do chính quyền vùng tài trợ. Tại Đức thì các
NCV trong các viện NC&PT công giữ 2/3 khoản lợi nhuận thu được từ SHTT.

25


Trích đoạn Kinh nghiệm Trung Quốc Cỏc hoạt động chớnh sỏch thỳc đẩy đổi mới Một số bài học và khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status