1
Bộ Khoa học và công nghệ
viện chiến lợc và chính sách khoa học và công nghệ
______________________________________
báo cáo tổng hợp Đề tài cơ sở:
Nghiên cứu chùm đổi mới : tổng quan kinh nghiệm
quốc tế và bài học cho việt nam
Ngời thực hiện:
NGUYễN LAN ANH
NGUYễN MINH HạNH
Phạm quang trí
HOàNG VĂN TUYêN
Nguyễn thị minh Nga
2.1.2. Phân tích chùm đổi mới như công cụ phân tích chính sách 23
2.1.3. Vai trò đang thay đổi của chính phủ: những nguyên lý chính sách 24
2.1.4. Chùm đổi mới như cơ chế chính sách cho học hỏi tương tác 26
2.1.5. Các lợi ích khác của chùm đổi mới 29
2.2. Chính sách chùm đổi mới và các công cụ của chính sách chùm
đổi mới 30
2.3. Một số hạn chế của chính sách chùm đổi mới 32
Kết luận 34
CHƯƠNG II. KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC CHÂU ÂU 36
2.1. Cách tiếp cận chùm đổi mới 36
2.2. Phân tích chùm đổi mới 36
2.3. Đổi mới và hợp tác trong chùm đổi mới 38
2.3.1. NC&PT ở các doanh nghiệp đổi mới trung tâm 38
2.3.2. Nghiên cứu trong tổ chức NC&PT 40
2.4. Lý do hình thành chính sách chùm đổi mới 41
2.5. Chính sách chùm đổi mới 43
2.5.1. Mô hình ưu thế quốc gia 44
2.5.2. Mô hình mạng lưới bên trong doanh nghiệp (DNV&N)
47
2.5.3. Mô hình phát triển chùm đổi mới vùng 49
2.5.4. Mô hình thúc đẩy mối quan hệ công nghiệp - nghiên cứu 53
2.6. Kết luận 57
CHƯƠNG III. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÙM ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ ĐỀ XUẤT 59
3.1. Tình hình nghiên cứu về chùm đổi mới ở Việt Nam 59
3.1.1. Khái niệm chùm và chùm đổi mới 59
3.1.2. Các nhân tố trong chùm đổi mới 61
3.1.3. Mức độ và phân tích chùm đổi mới 63
3.1.4. Quá trình hình thành chính sách phát triển vùng (chùm đổi mới) 66
3.2. M
nước?. Đề tài “Nghiên cứu chùm đổi mới: tổng quan kinh nghiệm quốc tế và bài học cho
Việt Nam” được triển khai thực hiện, nhằm phần nào làm sáng tỏ vấn đề dặt ra trên đây.
Mục tiêu nghiên cứu c
ủa đề tài nhằm tìm hiểu bản chất của chùm đổi mới cũng như cách
tiếp cận chùm đổi mới trong phân tích chính sách để rút ra một số gợi suy cho Việt Nam.
Giới hạn nghiên cứu của đề tài: trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, đề tài tập
trung chủ yếu vào nghiên cứu bản chất của chùm đổi mới, các lợi ích của cách tiếp cận chùm
đổi mới trong hoạch định chính sách, các mô hình chính sách phát triển chùm đổi mới.
Nghiên cứu một số khía cạnh trong chính sách phát triển chùm đổi mới ở một số nước trên
thế giới, rút ra một số gợi suy như cách tiếp cận chùm đổi mới, xây dựng chính sách chùm
đổi mới trong hoàn cảnh Việt Nam. 4
Các câu hỏi sẽ được làm rõ trong quá trình nghiên cứu:
- Thế nào là chùm đổi mới?
- Tại sao lại đặt vấn đề chùm đổi mới? hay vai trò của chùm đổi mới?
- Các chính sách hỗ trợ phát triển chùm đổi mới?
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: để đạt được mục tiêu mong muốn và trả lời các câu hỏi
nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Tổng quan và phân tích các nghiên cứu đã có cũng như thực tế của một số nước;
- Hội thảo, trao đổi tham khảo ý kiến các nhà khoa học để làm sáng tỏ các vấn đề đặt
ra của đề tài.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong ba chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung. Chương này trình bày các cách hiểu khác nhau về chùm
và chùm đổi mới, các nhân tố hình thành chùm đổi mới, các vai trò của chùm đổi mới cũng
như các mô hình chính sách phát triển chùm đổi mới.
Chương 2. Kinh nghiệm các nước châu Âu. Trên cơ sở khung phân tích ở chương 1, đề tài
nghiên cứu theo một số khía cạnh như cách tiếp cận chùm đổi mới, phân tích chính sách
chùm cũng như các mô hình chính sách phát triển chùm ở các nước châu Âu.
đích khác nhau (gia tăng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), hỗ trợ hợp
tác nghiên cứu, …).
Porter (1990) xác định chùm là các nhóm doanh nghiệp gần nhau về mặt địa lý, có mối liên
hệ và thể chế liên kết đặc biệt trong cùng một lĩnh vực trên cơ sở kết hợp kỹ năng và công
nghệ chung. Chùm hình thành trên một khu vực địa lý có điều kiện thuận tiệ
n về giao thông
và trao đổi các dịch vụ. Thông thường, chùm tập trung trên vùng lãnh thổ và đôi khi trong
địa phận một thành phố. Khái niệm chùm của Porter giành được nhiều sự quan tâm trong
6
hoạch định chính sách công nghiệp và trao đổi chính sách. Tuy vậy, các tranh luận này vẫn
chưa đi đến sự đồng thuận về định nghĩa và cách tiếp cận chùm.
Các cách tiếp cận chùm
Theo Jacobs và De Man (1995), rất khó để đưa ra cách tiếp cận chùm “chuẩn”. Tuy nhiên,
cách tiếp cận thoả đáng tuỳ thuộc vào từng mục tiêu. Tuỳ thuộc vào mục tiêu mà chúng ta
lựa chọn cách tiếp cận nào cho phù hợp với nghiên cứu hoặc hoạch định chính sách. Mỗi
cách tiếp cận tập hợp các xu hướng nhất định theo một mục tiêu nhất định.
Hộp 1. Các xu hướng về cách tiếp cận chùm (Jacobs và De Man, 1995).
• Tiếp cận địa lý (sự tương tự nhau/phụ thuộc vào nhau): chùm không gian trong một mạng
lưới sản xuất hoặc trong một tập hợp các mạng lưới sản xuất;
• Tiếp cận ngang (sự tương tự nhau): phân loại theo ngành ở một mức độ nào đó;
• Tiếp cận dọc (sự phục thuộc vào nhau): tập hợp các chuỗi sản xuất (mạng lưới cung cấ
p
và mạng lưới sử dụng nguồn bên ngoài), câu hỏi quan trọng mang tính chiến lược là: ai
trong mạng lưới là nguyên nhân chính của đổi mới?
• Tiếp cận một bên (sự tương tự nhau): các vùng có liên quan với năng lực được chia sẻ và
khả năng tập hợp;
• Tiếp cận công nghệ (sự tương tự nhau): các công nghệ có liên quan và các đặc trưng công
nghệ mà có thể liên kết các ngành;
• Tiếp cận tri thứ
Kim loại
Sản phẩm lâm
nghiệp
Xăng dầu/hoá chất Chất bán dẫn/máy
tính
Các ngành công
nghiệp chủ lực
Kinh doanh Giao
thông
Năng lượng
(sản xuất và
phân phối
Văn phòng Viễn thông Quốc phòng Các ngành chức
năng, và công
nghiệp hỗ trợ
Thực phẩm/đồ
uống
Dệt,may/
quần áo
Nhà ở, nông
trại
Sức khoẻ Nhu cầu cá
nhân
niệm về cách tiếp cận mạng lưới hoặc chuỗi có chung một nhận định rằng các doanh nghiệp
không nên hoạt động riêng lẻ. Các doanh nghiệp là một phần của tập hợp bao gồm người sử
dụng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và các nhân tố kinh tế khác với các mối quan hệ
mạng lưới.
Ở Pháp, cách tiếp cận chuỗi sản xuất lần đầu xuất hiện trong nghiên cứu của Montfort và
Dutailly (1983) và được gọi là cách tiếp cận “chuỗi sản xuất filière” hoặc đơn giản là
“filière”. Theo cách tiếp cận này, tác giả đã tìm ra 19 “filière” ở Pháp (Hassel, 1999). Các
phân tích của Montfort đều dựa trên những yếu tố quan trọng với việc lập bảng đầu vào-đầu
ra. Montfort chia “filière” làm 3 mức độ là trên, giữa và dưới. Ví dụ nổi bật là “filière” thực
phẩm-nông nghiệp của Pháp (hình 1).
Một số nghiên cứu ở Hà Lan cũng sử dụng cách tiếp cận “filière” của Montford. Ví dụ,
Roelandt (1986) tìm ra 6 “filière”, còn Witteveen (1997) xác định 10 “filière”. Ưu điểm của
phương pháp này vừa xác định rõ các yếu tố chùm vừa chỉ ra các mối quan hệ giữa các nhân
tố trong chùm.
Nghiên cứu của Quatroro (2005) ở Italia nhấn mạnh mối liên kết của các doanh nghiệp trong
“filière” và các hoạt động đổi mới. Đặc biệt các doanh nghiệp trong “filière” có thể tiếp cậ
n
nhiều hơn với tri thức để tích hợp lại trong quá trình đổi mới. Ngoài ra, mối quan hệ giữa đổi
mới và quy mô của doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng trong “filière”.
Vấn đề chủ yếu trong phương pháp chuỗi sản xuất hoặc “filière” là cách tiếp cận định lượng,
hay còn gọi là cách tiếp cận theo “điểm giới hạn” (cut-off point). Điểm giới hạn là điểm bắt
đầu cho các nhà cung cấp nguyên liệu trung gian: nếu việc cung cấp nguyên liệu ở phía trên
của điểm giới hạn thì liên kết đã hình thành, ngược lại nếu việc cung cấp nguyên liệu ở phía
dưới của điểm giới hạn thì liên kết chưa hình thành.
Ngoài ra, cách tiếp cận “filière” không chỉ là phương pháp mạng lưới hoặc chuỗi, ý nghĩa
đằng sau phương pháp này là nhằm kết hợp các dòng công nghệ, tương tác đổi mới. 9
hề đón
g
tàu
Cá
Thực phẩm
từ gia súc
Công nghiệp thực phẩm – nông
nghiệp: bảo quản, giống cây, chế
biến đồ khô, đồ uống, thức ăn đã
qua chế biến
Buôn bán và dự trữ thực phẩm
Các nhà hàng, quán rượu
Các loại hạt
giống
10
Thứ nhất: Sản xuất công nghiệp trong các nhóm tổ chức.
Nhiều tài liệu đề cập đến thuật ngữ “quận công nghiệp”. Tổng hợp của Bortagaray và Tiffin
(2000) thì quận công nghiệp nhấn mạnh vào không gian địa lý mà ở đó các doanh nghiệp
hoạt động. Khái niệm quận công nghiệp nhấn mạnh vào “môi trường văn hoá của quận công
nghiệp”, dưới khía cạnh văn hoá chung thì những mối quan hệ song phương và những “quy
tắc của việc trao đổi với nhau sẽ kết hợp với sự đồng thuận mang tính xã hội một cách phù
hợp”. Nói một cách khác, “quận công nghiệp” là mạng lưới kinh doanh địa phương trong đó
cơ cấu xã hội dựa trên việc chia sẻ những quy tắc văn hoá, giá trị và mạng lưới của những
thể chế tạo thuận lợi cho việc phổ biến tri thức và đổi mới”.
Cũng theo tổng hợp của Bortagaray và Tiffin (2000), “công viên công nghiệp” là một không
gian hình thành nên để hỗ trợ cơ sở hạ tầng với việc miễn giảm thuế để khuyến khích các
doanh nghiệp thiết lập trụ sở trong công viên. Thực tế cho thấy, công viên công nghiệp là sự
biến thái lại khái niệm gốc về “quận công nghiệp” với điểm nhấn về tầm quan trọng phải
thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp trong công viên.
thức chính thức “…các doanh nghiệp liên quan có trụ sở trong một khu vực địa lý, chịu ảnh
hưởng của nền khoa học quốc gia”. Nghiên cứu của Tavares (1998) nhấn mạnh vai trò của
tri thức khoa học và công nghệ (KH&CN) đối với loại hình tổ chức - gọi là cực công nghệ
(technopolis). Nghiên cứu của Gómos (1999) sử dụng thuật ngữ công viên khoa học với
nghĩa bao hàm cả cực công nghệ và chùm công nghiệp dựa vào KH&CN.
“Chùm đổi mới” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến hiện nay và trong tương lai. Voyer
(1997) đưa ra định nghĩa về chùm đổi mới là “sự tập trung của các doanh nghiệp trong
vùng hoặc thành phố, bao gồm những nhà chế tạo, nhà cung cấp nguyên liệu và cung cấp
dịch vụ trong một hoặc nhiều khu vực công nghiệp. Các doanh nghiệp có sự hỗ trợ từ các
trường đại học, trường cao đẳng, viện nghiên cứu, thể chế tài chính, vườn ươm, dịch vụ kinh
doanh và hệ thống giao thông/viễn thông thuận lợi”. Voyer đưa ra một danh sách tám yếu tố
nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp khi ký kết với cơ quan chức năng địa phương về
khả năng hình thành chùm đổi mới trong cộng đồng địa phương. Những yếu tố này rất quan
trọng để nhấn mạ
nh những đặc trưng chính của chùm đổi mới.
• Công nhận về tiềm năng của các ngành công nghiệp dựa vào tri thức của những nhà
lãnh đạo địa phương/vùng;
• Nhận dạng tiềm năng và hỗ trợ về tri thức của vùng;
12
• Ảnh hưởng lẫn nhau của thể chế địa phương;
• Có định hướng kinh doanh và kinh nghiệm kinh doanh tốt;
• Có sẵn nhiều nguồn vốn đầu tư;
• Liên kết được đảm bảo bởi cả mạng lưới thông tin chính thức và không chính thức;
• Có các cơ cấu nghiên cứu và giáo dục (đây là yếu tố quan trọng nhất);
• Cần có “năng lực kiên nhẫn” bền bỉ.
Bortagaray và Tiffin (2000) xác định: “chùm đổi mới là thể chế tổ chức tạo ra những doanh
nghiệp và những sản phẩm mới ở quy mô công nghiệp trong các lĩnh vực có lựa chọn, có
ranh giới địa lý xác định, là nơi tập trung cao tri thức, học hỏi lẫn nhau và chia sẻ các giá
trị xã hội”.
thống đổi mới quốc gia.
1.3. Các nhân tố trong chùm đổi mới
• Doanh nghiệp đổi mới ở trung tâm của chùm, đổi mới là một phần của chiến lược
hoạt động và chiến lược sản phẩm nói chung của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đổi mới thực
hiện quá trình đổi mới và phân chia chức năng giữa các cơ cấu thành phần.
• Nhà cung cấp nguyên vật liệu là các đối tác trong chùm rất quan trọng. Thông
thường việc đổi mới trong các doanh nghiệp cung cấp đòi hỏi đầu vào từ các doanh nghiệp
khác dưới hình thức nguyên vật liệu mới hoặc những thay đổi trong sản phẩm trung gian.
Đôi khi các doanh nghiệp này cũng thúc đẩy đổi mới. Chẳng hạn, việc cung cấp nguyên vật
liệu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong các bộ phận hợp thành của sản phẩm cuối cùng.
• Tổ chức NC&PT chia thành 2 nhóm: (i) các viện nghiên cứu chuyên về lĩnh vực của
chùm; (ii) các viện nghiên cứu không liên quan đến lĩnh vực của chùm nhưng thực hiện một
số lĩnh vực công nghệ có liên quan. Các tổ chức thuộc nhóm thứ nhất đảm nhận toàn bộ tri
thức để xây dựng và hoàn thiện sản phẩm trong chùm. Các tổ chức này liên kết chặt chẽ với
các trường đại học thông qua hợp đồng NC&PT, sử dụng chung thi
ết bị, cán bộ với trường
đại học. Nhóm thứ hai, cung cấp tri thức thích hợp cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau,
nhưng chỉ đáp ứng một phần tri thức theo nhu cầu của một ngành công nghiệp cụ thể trong
chùm. Nói một cách khác, nhóm thứ hai có vai trò quan trọng trong chuyển giao tri thức cho
nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau.
14
• Dịch vụ kinh doanh thâm dụng tri thức (DVKDTT) bao gồm các công ty thiết kế,
công ty tư vấn kỹ thuật, … các DVKDTT có ý nghĩa đối với các hoạt động NC&PT và hoạt
động đổi mới của doanh nghiệp đổi mới (Rentmeister, B., 1999).
DVKDTT
Chính quyền
địa phương
DN đổi
mới
DN đổi
mới
Chính quyền
địa phương
Các tổ
chức hỗ tr
ợ
Nhà cung
cấp
Khách hàng
DVKDTT
Dịch vụ
kinh doanh
15
trình NC&PT, chương trình công nghệ nhằm khuyến khích nghiên cứu và hỗ trợ thay đổi cơ
cấu và công nghệ.
• Các tổ chức hỗ trợ (hiệp hội, uỷ ban, văn phòng quản lý dự án, tổ chức cấp phép
công nghệ,…). Có hai loại tổ chức hỗ trợ: (i) nếu các tổ chức hỗ trợ là các tổ chức nhà nước
thì chức năng chính sẽ là phổ biến thông tin và đáp ứng những đòi hỏi nhằm thực hiện mục
tiêu chính sách từ hệ thống chính trị đến hệ thống kinh tế; (i) nếu tổ chức hỗ trợ là tổ chức tư
nhân thì chức năng chính sẽ là phục vụ những quan tâm của doanh nghiệp về các các vấn đề
liên quan đến chính sách, môi trường, v.v…
• Khách hàng thường chia sẻ ý tưởng đổi mới với các doanh nghiệp đổi mới. Khách
hàng không chỉ đưa ra xu hướng của đổi mới mà còn có một vai trò tích cực trong việc xác
mã/kiểu dáng và các NC&PT phức tạp hơn. Sự cạnh tranh giữa chính các tổ chức NC&PT,
giữa các tổ chức NC&PT và DVKDTT gia tăng theo sự suy giảm của các hỗ trợ từ chính
phủ đối với tổ chức NC&PT.
Có một số yếu tố củng cố cho lập luận rằng, sự hợp tác sẽ trở thành quan trọng hơn trong
chùm đổi mới. Vòng đời đổi mới nhanh chóng dẫn đến những khó khăn cho một nhân tố để
thiết lập nên toàn bộ năng lực cần thiết trong các dự án đổi mới. Thực tế, sự cần thiết đối với
hợp tác đã được xác nhận từ chính các nhà cung cấp nguyên vật liệu cũng như tổ chức
NC&PT và các nhân tố khác trong chùm.
Mặc dù vậy, cũng có sự miễn cưỡng đáng kể đối với hợp tác trong một số trường hợp và
hợp tác có thể đưa đến các hình thức khác so với các hình thức truyền thống tại một số nước.
Các doanh nghiệp nhỏ e ngại đối với hợp tác vì một số lý do như sau (i) họ có ít kinh
nghiệm trong hợp tác; (ii) họ lo ngại việc chảy máu trí tuệ vì các đối tác nhỏ hơn không thể
có khả
năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của họ; (iii) họ có quá ít NC&PT có thể tạo thuận
lợi cho việc hấp thu tri thức bên ngoài, do vậy, họ không nhận thức được những thuận lợi
trong hợp tác (Rocha, F., 1999).
Tổng hợp của Preissl (2000) dựa trên nghiên cứu của Perter và Becker (1999) cho thấy có
năm hình thức hợp tác trong đổi mới. Cách phân loại ở đây chỉ mang tính tương đối, các
kiểu hợp tác không loại trừ
nhau, một số doanh nghiệp sử dụng cả năm kiểu hợp tác, còn
một số doanh nghiệp lại tập trung vào một hoặc hai kiểu hợp tác. 17
Hộp 2. Các hình thức hợp tác trong đổi mới.
Kiểu 1: Các nhà sản xuất đặt làm các dự án NC&PT cho tổ chức NC&PT, tổ chức NC&PT tiến
1.5. Chùm đổi mới và hệ thống đổi mới quốc gia
1.5.1. Hệ thống đổi mới quốc gia
Mạng lưới và sự phụ thuộc lẫn nhau
Lý thuyết và thực tế chứng minh rằng, sự tương tác giữa các nhân tố khác nhau trong quá
trình đổi mới là quan trọng cho đổi mới thành công (Morgan, 1997; Lagendjik và Charles,
1999). Thực tế đổi mới chứng minh rằng, hầu hết các doanh nghiệp chưa bao giờ đổi mới
đơn lẻ (DeBresson, 1996).
Để đổi mới thành công, các doanh nghiệp buộc phải phụ thuộc
18
vào tri thức và kỹ năng bổ sung từ các doanh nghiệp và các tổ chức khác hơn là của chính
mình. Đổi mới không phải là hoạt động của một doanh nghiệp, đúng hơn hoạt động đổi mới
đòi hỏi một quá trình tìm kiếm hợp tác để tiếp cận với những nguồn mới về tri thức, công
nghệ và áp dụng nguồn tri thức mới này vào sản phẩm và quá trình sản xuất. Cạnh tranh của
một doanh nghiệp trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào chính khả năng của doanh nghiệp để áp
dụng tri thức và công nghệ mới vào sản phẩm và quá trình sản xuất. Doanh nghiệp phát triển
chiến lược phù hợp với sự phụ thuộc đang gia tăng của doanh nghiệp vào môi trường (cấu
trúc tổ chức linh hoạt hơn), sự kết hợp của nhiều liên kết trong chuỗi sản phẩm thông qua
các liên minh chiến lược, đầu tư mạo hiểm và tổ hợp (consortia). Mục tiêu chính của hầu hết
các liên minh chiến lược là giành được tri thức mới, tri thức bổ sung và đẩy mạnh quá trình
học hỏi.
Đặc trưng hệ thống
Nhân tố chính thứ hai của cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia là đặc trưng hệ thống của
hệ thống đổi mới quốc gia. Đổi mới là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố và
các thể chế. Các nhân tố, thể chế và các mối quan hệ kết hợp lại tạo thành hệ thống các nhân
tố độc lập. Điều này chứng minh rằng, không chỉ các nhân tố mà cả các thể chế có vai trò
quan trọng trong đổi mới. Các thể chế có thể được giải thích như các trường đại học, viện
nghiên cứu, tổ chức tài chính hoặc tất cả các tổ chức môi giới trong quá trình đổi mới. Các
thể chế cũng có thể được giải thích gồm các “hành vi” mà đã phản ánh trong các quy phạm,
ở một mức độ cao của liên kết công nghệ và kinh tế qua lại.
Hình 3. Giả thuyết sự phục thuộc lẫn nhau của đổi mới (Verbeek, 1999).
1.5.2. Chùm đổi mới trong hệ thống đổi mới quốc gia
Chùm đổi mới có thể được xem xét như hệ thống đổi mới ở mức độ nhỏ (OECD, 1999). Các
động lực, các đặc trưng hệ thống và sự phụ thuộc lẫn nhau trong chùm đổi mới là tương tự
đối với những động lực, đặc trưng hệ thống và sự phụ lẫn nhau của hệ thống đổi mới quốc
TÝnh ®æi míi
Sè c¸c liªn kÕt
q
ua l¹i
20
gia. Cách tiếp cận chùm đổi mới đưa đến một số thuận lợi hơn so với viễn cảnh ngành
truyền thống trong phân tích đổi mới và mạng lưới đổi mới. Những thuận lợi này không bị
hạn chế đối với phân tích quá trình đổi mới, mà còn mở rộng hoạch định chính sách đổi mới.
Chính sách dựa vào chùm nhằm để khắc phục sự không hoàn hảo của hệ thống đổi mới
(không hoàn hảo hệ thống) bằng việc tạo thuận lợi cho các chức năng hoạt động một cách có
Hệ thống đổi mới vùng
Chùmđổi mới
Mạng đổi mới toàn cầu
Hệ thống
khoa học
Tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức
Hệ thống giáo dục
và đào tạo
Thị trường sản
phẩm
Các nhân tố thị
trường
Cơ sở hạ tầng
thông tin
Năng lực đổi mới quốc gia
Tác động kinh tế
Tăng trưởng, tạo việc làm, cạnh tranh
22
đổi mới là mạng lưới giữa các ngành (theo chiều dọc và ngang) và các doanh nghiệp hỗ trợ,
các doanh nghiệp chuyên môn hoá xung quanh một liên kết đặc thù hay dựa vào cơ sở tri
thức trong chuỗi giá trị.
Với việc chuyên sâu vào ngành hoặc lĩnh vực, cách tiếp cận ngành không xem xét đến tầm
quan trọng của sự gắn kết và các luồng tri thức trong một mạng lưới sản xuất. So sánh với
cách tiếp cận ngành (tập trung vào các nhóm doanh nghiệp giống nhau với vị trí mạng lưới
giống nhau), cách tiếp cận chùm đưa ra phương pháp mới khi xem xét nền kinh tế phù hợp
với lý thuyết đổi mới và sự phát triển của thị trường.
Cách tiếp cận ngành tập trung vào những mối quan hệ theo chiều ngang và sự phụ thuộc lẫn
nhau mang tính cạnh tranh (quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các hoạt động
tương tự và hoạt động trong các thị trường sản phẩm như nhau), trong khi đó cách tiếp cận
Tìm kiến sự đa dạng trong quỹ đạo đang
tồn tại
Tìm kiếm sự hiệp lực và hợp tác mới
23
Trong thực tế việc khuyến khích hình thành chùm là khác nhau. Về mặt nguyên lý, các
khuyến khích cho việc thiết lập chùm như sau: (i) giành được sự tiếp nhận đối với công nghệ
mới và công nghệ hỗ trợ; (ii) giành được lợi ích của sự hợp lực hoặc lợi ích của các hoạt
động phụ thuộc lẫn nhau; (iii) chia sẻ rủi ro; (iv) thúc đẩy nỗ lực hợp tác NC&PT với các
nhà cung cấp và người sử dụng; (v) chiến lược bảo vệ để giảm cạnh tranh; (vi) giành được
lợi nhuận từ việc sử dụng tổng hợp các tài sản và tri thức bổ sung; (vii) khắc phục những rào
cản đầu vào thị trường.
2.1.2. Phân tích chùm đổi mới như công cụ phân tích chính sách
Mức độ lớn (mega-level)
Mức độ trung bình (meso-level) Mức độ nhỏ (micro-level)
Nguồn: Boekholt, P. và Thuriaux, B., 1999.
Hình 5. Mức độ tích hợp của chùm.
Chính sách chùm đổi mới sẽ tập trung vào mức độ tích hợp của chùm: mức độ lớn, mức độ
trung bình hoặc mức độ nhỏ. Mỗi mức độ đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau và sử dụng các
xuất. Các doanh nghiệp mong muốn đổi mới phải tương tác và trao đổi tri thức với khách
hàng, đối thủ cạnh tranh và nhà cung cấp vật liệu, dịch vụ và các yếu tố khác. Sự xuất hiện
của chùm hướng đến quá trình “thuyết phục thị trường” với sự can thiệp của chính phủ ít
hơn. Tại sao chính phủ nên có vai trò trong việc tăng cường hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho
s
ự xuất hiện của các chùm đổi mới? Thực tế cho thấy có bốn lý do giải thích cho vai trò của
chính phủ như sau:
Thứ nhất, việc hình thành các liên minh và sự kết hợp của nhiều loại kỹ năng trong chuỗi
sản xuất đã diễn ra trên thị trường. Với lý do này, nhiệm vụ cơ bản của chính phủ là tạo
thuận lợi cho sự vận hành một cách năng động của thị
trường và đảm bảo rằng sự hợp tác
không dẫn đến hành vi thông đồng làm cản trở sự cạnh tranh.
25
Lý do thứ hai về việc can thiệp của chính phủ là những vấn đề bên ngoài phù hợp với đầu tư
cho NC&PT và tạo ra tri thức. Vấn đề tranh luận ở đây là chừng nào tỷ lệ đầu tư của xã hội
vào NC&PT và tạo ra tri thức lớn hơn tỷ lệ tư nhân đầu tư cho NC&PT, thì đầu tư nên được
tạo điều kiện thuận lợi bởi vì nó đã đầu tư đủ cho những đòi hỏi của NC&PT. Trong trường
hợp ngược lại, nếu tỷ lệ đầu tư của xã hội cho NC&PT nhỏ hơn tỷ lệ đầu tư của tư nhân cho
NC&PT thì tỷ lệ đầu tư của xã hội cho NC&PT không đạt ngưỡng đòi hỏi của NC&PT.
Khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp và cơ sở hạ tầng NC&PT nhà nước (trường đại
học, viện nghiên c
ứu) có thể gia tăng tỷ lệ xã hội đầu tư vào NC&PT. Nhiều doanh nghiệp
có thể được lợi từ các nỗ lực NC&PT nhà nước như tăng tiềm năng trong phổ biến tri thức,
đặc biệt DNV&N. Trong hầu hết các nước, DNV&N không có khả năng giữ được các lợi
ích của những liên kết bên ngoài và chia sẻ tri thức. Nhiều DNV&N không nhận thức được
các cơ hội phát sinh từ hợp tác với doanh nghiệp và các th
ể chế tri thức khác.
Lý do thứ ba về sự can thiệp của chính phủ trong lĩnh vực đổi mới và tổ chức công nghiệp là
một lý do mang tính truyền thống. Thực tế, chính phủ có vai trò quan trọng trong thị trường.