BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG
NGUYỄN HỮU TRƯỜNG HƯNG
KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG KINH TẾ TRONG
LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ: KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 62.34.01.21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2017
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG
THƯƠNG - BỘ CÔNG THƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Phạm Tất Thắng
2. TS. Nguyễn Thị Nhiễu
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện
Họp tại Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương - Bộ
Công thương
Địa chỉ: 46 Ngô Quyền - Hà nội.
dịch vụ, rút ra bài học có thể áp dụng cho Việt Nam, đề xuất, khuyến
nghị các điều kiện và giải pháp để vận dụng bài học kinh nghiệm của
các nước nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát hoạt động TTKT ở
nước ta thời kỳ đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là lý luận và bài học
kinh nghiệm nước ngoài về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có thể áp dụng cho Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu cơ sở lý luận của kiểm soát tập
trung kinh tế, nội dung chính sách và quy định của nước ngoài về
kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và
dịch vụ. Từ đó đưa ra các đánh giá về chính sách và quy định của các
nước ngoài về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực
2
thương mại và dịch vụ. Khuyến nghị điều kiện áp dụng các bài học
kinh nghiệm của nước ngoài và đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm
soát tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ của Việt
Nam.
Về không gian: kinh nghiệm nước ngoài về kiểm soát hoạt
động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ nghiên
cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, EU,
Trung Quốc và Indonesia.
Về thời gian: nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về kiểm
soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
từ năm 2006 – 2015. Đưa ra các giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt
động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ từ năm
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP
TRUNG KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ
DỊCH VỤ
1.1. Khái niệm và đặc điểm tập trung kinh tế trong lĩnh
vực thương mại và dịch vụ
1.1.1. Khái niệm và các hình thức tập trung kinh tế trong lĩnh
vực thương mại và dịch vụ
1.1.1.1. Khái niệm
Dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh năm 2004 không quy
định thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi
là tập trung kinh tế. Theo đó, điều 3 khoản 3 khẳng định tập trung
kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh; điều 16 quy định tập trung
kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (i) sáp nhập doanh
nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv)
liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vi tập trung khác
theo quy định của pháp luật. Sự liệt kê này đã làm rõ các hình thức
tập trung kinh tế mà quan điểm thứ hai chưa làm rõ.
1.1.1.2. Các hình thức tập trung kinh tế trong lĩnh vực
thương mại và dịch vụ
Căn cứ theo Điều 17 của Luật Cạnh tranh về hình thức biểu
hiện, tập trung kinh tế bao gồm các hành vi: sáp nhập, hợp nhất, mua
lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp.
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh
nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn
tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự
tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
ảnh hưởng của các vụ việc TTKT trong lĩnh vực này là tương đối
rộng.
Thứ ba, các vụ việc TTKT trong lĩnh vực thương mại và dịch
vụ có tác động tới cả thị trường hạ nguồn và thượng nguồn của một
sản phẩm cũng như một lĩnh vực.
Thứ tư, có rất nhiều vụ việc TTKT tương đối phức tạp và
mang nhiều màu sắc văn hoá – chính trị của một quốc gia.
1.2. Mục tiêu kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong
lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Ở mỗi quốc gia, chính sách kiểm soát tập trung kinh tế là
một bộ phận trong tổng thể các chính sách của Chính phủ, bao gồm
chính sách công, chính sách kinh tế và chính sách cạnh tranh.
Xét về cạnh tranh, mục tiêu cốt lõi của chính sách kiểm soát TTKT là
5
nhằm đảm bảo hoạt động TTKT không gây ra hoặc không tiềm ẩn
nguy cơ gây ra tác động tiêu cực tới hoạt động cạnh tranh trên thị
trường.
1.3. Các yếu tố tác động tới kiểm soát hoạt động tập
trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
1.3.1. Các yếu tố bên ngoài tác động tới kiểm soát hoạt động
tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
1.3.1.1. Hiệp định FTA
Trong thời gian vừa qua, các hiệp định FTA có xu hướng nở
rộ trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Hầu hết trong
các hiệp định FTA thế hệ mới hiện nay đều có một chương riêng về
cạnh tranh. Đây là một trong những ưu tiên hàng đầu được các quốc
gia phát triển quan tâm tới trong quá trình đàm phán các hiệp định
FTA. Chính vì vậy, các hiệp định FTA mà Việt Nam đã và đang tham
Chương 2
KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG
KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG
LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
2.1. Kinh nghiệm về kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ của các quốc gia phát
triển
2.1.1. Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của
Hoa Kỳ
2.1.1.1. Tổng quan
Trong năm 2015, FTC và Cục chống độc quyền đã tiến hành
rà soát 1801 giao dịch theo quy định của đạo luật HSR, tăng 8,3% so
với năm 2014.
Hình 2.1: Thống kê các vụ sáp nhập rà soát theo đạo luật HSR
trong giai đoạn 2006 - 2015
Nguồn: Báo cáo HSR 2015 của FTC
Trong số 1801 giao dịch tiến hành rà soát trong năm 2015 đã
có 2,7% giao dịch tiến hành rà soát lần thứ hai, giảm đi so với tỷ lệ
3,2% của năm 2014. Trong các vụ việc sáp nhập nêu trên, lĩnh vực
hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng và sản xuất chiếm tỷ trọng nhiều nhất,
7
lần lượt là 28,6% và 14,8%.
2.1.1.2. Quy định pháp lý về kiểm soát hoạt động tập trung
kinh tế
Những điểm đáng chú ý chính trong chính sách sáp nhập
Hoa Kỳ là:
- Xác định thị trường sản phẩm và thị trường địa lý liên
mà luật pháp Hoa Kỳ coi là các hành vi kinh doanh “phản cạnh
8
tranh”.
Cục chống độc quyền thuộc Bộ tư pháp
Cơ quan này thường cùng làm việc với FTC trong việc ban
hành các hướng dẫn cho các doanh nghiệp. Trong hơn 6 thập kỷ,
nhiệm vụ của Cục chống độc quyền là thúc đẩy và bảo về tiến trình
cạnh tranh – và nền kinh tế Hoa Kỳ - bằng việc thực thi các luật
chống độc quyền. Pháp luật chống độc quyền áp dụng với gần như
tất cả các ngành và mọi mức độ kinh doanh, bao gồm cả sản xuất,
vận chuyển, phân phối và tiếp thị.
2.1.1.4. Đánh giá chung về các quy định kiểm soát tập trung
kinh tế của Hoa Kỳ
Thông qua việc nghiên cứu các quy định kiểm soát tập trung
kinh tế của Hoa Kỳ đã cho thấy những vấn đề kinh nghiệm rất cần
lưu ý như sau:
Thứ nhất, cần xây dựng ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế
phù hợp với nền kinh tế của từng quốc gia.
Thứ hai, nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tiến
hành tập trung kinh tế Hoa Kỳ đã xây dựng cơ chế kiểm soát tập
trung kinh tế hình thức kiểm soát lần thứ nhất và lần thứ hai.
Thứ ba, có hai cơ quan là Uỷ ban thương mại liên bang Hoa
Kỳ và Cục chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp cùng có chức năng
kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế. Việc có 2 cơ quan có
quyền hạn ngang nhau trong vấn đề này khiến việc kiểm soát TTKT
tại Hoa Kỳ tương đối chặt chẽ, và loại bỏ được hầu hết các vụ việc
TTKT có nguy cơ dẫn đến các hành vi phản cạnh tranh.
2.1.2. Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của
trúc pháp lý và các quyết định chính sách có nhiều khía cạnh khác
với hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ. Một số sự khác biệt - đặc biệt là:
a) sự phân chia về tính pháp lý giữa Ủy ban châu Âu và các quốc gia
thành viên và b) thời hạn về thủ tục – đã tạo nên một số hệ quả có thể
gây xung đột khi một vụ tập trung kinh tế chịu sự xét duyệt của các
10
cơ quan quản lý cạnh tranh khác ngoài châu Âu.
Tại châu Âu, quyền kiểm soát hoạt động sáp nhập thuộc về
Ủy ban châu Âu (EC) và các quốc gia thành viên. EC có các quy
định về sáp nhập (ECMR) quy định các hoạt động sáp nhập nào
thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này.
2.1.2.4. Đánh giá chung về các quy định của EU
Do Châu Âu là một cộng đồng chung bao gồm nhiều nước
thành viên, chính vì vậy, việc kiểm soát tập trung kinh tế tại EU có
những đặc điểm khác biệt và có nhiều điểm phù hợp để Việt Nam có
thể tham khảo, cụ thể như sau:
Thứ nhất, để kiểm soát chặt chẽ hoạt động tập trung kinh tế
trên thị trường EC cũng xây dựng cơ chế với 2 lần rà soát, hầu hết
các vụ việc gây quan ngại lớn về cạnh tranh sẽ bị tiến hành rà soát kỹ
lưỡng ở lần rà soát thứ hai.
Thứ hai, các quy định tập trung kinh tế của EU là sự đan xen
giữa quy định của từng quốc gia thành viên và của chung toàn khối.
Thứ ba, một điểm khác biệt tương đối rõ trong quy định về
tập trung kinh tế của EU đó là bất kỳ doanh nghiệp sáp nhập, người
làm công, đối thủ cạnh tranh hoặc chính phủ nước thành viên EU đều
có quyền khiếu nại kết luận của EC về một vụ sáp nhập.
2.2. Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ của các quốc gia đang phát
vượt quá 10 tỷ nhân dân tệ (1,75 tỉ USD) trong năm tài chính trước
đó và mỗi công ty trong ít nhất 02 hoặc nhiều công ty có tổng doanh
thu hơn 400 triệu nhân dân tệ (62,66 triệu USD) tại Trung Quốc
trong năm tài chính trước đó, hoặc;
Tổng doanh thu tại Trung Quốc của tất cả các bên trên 2 tỷ
nhân dân tệ (313 triệu USD) trong năm tài chính trước đó và mỗi
công ty trong ít nhất 02 hoặc nhiều công ty có tổng doanh thu trên
400 triệu nhân dân tệ (62,66 triệu USD) tại Trung Quốc trong năm tài
chính trước đó.
Đánh giá tác động cạnh tranh của các vụ việc sáp nhập
theo AML
Điều 27 của AML liệt kê những nhân tố được xem xét bởi
MOFCOM trong việc đánh giá những ảnh hưởng đến cạnh tranh của
một vụ việc như sau: (1) thị phần và sức mạnh thị trường trên thị
trường liên quan; (2) mức độ tập trung thị trường; (3) những ảnh
hưởng đến gia nhập thị trường và yếu tố công nghệ; (4) những ảnh
hưởng đến người tiêu dùng và các công ty khác có liên quan; (5)
những ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế quốc gia; và (6)
những nhân tố khác ảnh hưởng tới cạnh tranh được xác định bởi Cơ
quan chống độc quyền của Hội đồng Nhà nước.
Đánh giá an ninh quốc gia
AML dẫn chiếu tới việc đánh giá an ninh quốc gia cho
những những giao dịch liên quan tới các bên nước ngoài, không có
những giải thích chi tiết về nội dung hoặc thủ tục. Ngày 3 tháng 2
năm 2011, Hội đồng Nhà nước đã ban hành “Lưu ý khi thành lập hệ
12
thống đánh giá an ninh về mua lại các công ty trong nước bởi các
nhà đầu tư nước ngoài”, và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 5 tháng 3
của Indonesia
Sáp nhập, hợp nhất và mua lại (các giao dịch có sự thay đổi
về kiểm soát), khi giá của các công ty liên quan trên ngưỡng xác định
về tài sản hoặc doanh thu phải thông báo tới KPPU. GR 57/2010 đưa
ra quy trình thủ tục thông báo bắt buộc sau sáp nhập trong các vụ sáp
13
nhập, hợp nhất hoặc mua lại (các giao dịch có sự thay đổi về kiểm
soát) mà sau khi sáp nhập:
- Giá trị tài sản 2,5 ngàn tỷ IDR (hoặc 205 triệu USD); hoặc
- Giá trị doanh thu 5 ngàn tỷ IDR (hoặc 409 triệu USD).
- Các giao dịch trong lĩnh vực ngân hàng cao hơn ngưỡng
thông báo chỉ cần thông báo tới KPPU nếu giá trị các tài sản liên
quan cao hơn 20 ngàn tỷ IDR (1,6 tỷ USD).
Các ngưỡng thông báo ở trên được tính toán bằng cộng gộp
các tài sản hoặc giá trị doanh thu của các công ty Indonesia có liên
quan như sau:
Công ty sau sáp nhập hoặc hợp nhất hoặc công ty mua lại và
công ty bị mua lại; và
Công ty trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc bị kiểm soát
bởi công ty sau sáp nhập hoặc hợp nhất hoặc mua lại.
Đánh giá vụ việc sáp nhập tại Indonesia
Để đánh giá một vụ việc sáp nhập, yếu tố đầu tiên được
KPPU sử dụng đó là chỉ số HHI. Việc phân tích chỉ số HHI như sau:
HHI
Đánh giá KPPU
< 1800
2.2.2.3. Đánh giá chung về chính sách và các quy định kiểm
soát tập trung kinh tế của Indonesia
Thông qua nghiên cứu bài học kinh nghiệm của Indonesia
cho thấy, các quốc gia đang phát triển rất cần thiết nghiên cứu và học
tập các quy định TTKT của các nước phát triển trong việc kiểm soát
hoạt động này. Có thế nói những quy định của EU và Mỹ là những
kim chỉ nam để các quốc gia đi sau có thể học tập và áp dụng.
2.3. Bài học kinh nghiệm về kiểm soát hoạt động tập
trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ của các nước
2.3.1. Xác định quan điểm và mục tiêu kiểm soát hoạt động
tập trung kinh tế
Thông qua việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia
trên thế giới cho thấy rõ ràng để thực hiện tốt việc kiểm soát hoạt
động tập trung kinh tế, các quốc gia trên thế giới đều thể hiện rõ
quan điểm trong từng nội dung quy định về kiểm soát hoạt động tập
trung kinh tế.
2.3.2. Quy định về ngưỡng và tiêu chí đánh giá một vụ việc
tập trung kinh tế
Ngưỡng kiểm soát vụ việc tập trung kinh tế
Kinh nghiệm của các quốc gia đã tiến hành sửa đổi quy định
kiểm soát TTKT cho thấy, lợi ích từ việc sử dụng tiêu chí thị phần để
xác định ngưỡng thông báo TTKT không thể bù đắp cho những khó
khăn và chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu.
Tiêu chí đánh giá vụ việc tập trung kinh tế
Pháp luật cạnh tranh các nước trao quyền rất lớn cho cơ quan
cạnh tranh trong việc đánh giá tác động cạnh tranh của vụ việc
TTKT, đồng thời cũng cho phép cơ quan cạnh tranh tiến hành các
biện pháp để đảm bảo đạt được lợi ích kinh tế cũng như quyền lợi
người tiêu dùng. Tiêu chí quan trọng nhất là đảm bảo, bảo vệ cạnh
tranh trên thị trường.
doanh nghiệp thực hiện TTKT.
16
Hình 3.4: Số vụ việc thông báo tập trung kinh tế giai đoạn
2005 - 2016
Nguồn: Tổng hợp của Cục QLCT
Cho tới nay, Cục QLCT đã phê chuẩn tất cả các vụ việc
TTKT được thông báo và có 01 vụ việc thuộc trường hợp bị cấm
nhưng đáp ứng điều kiện cho hưởng miễn trừ theo quy định của Luật
Cạnh tranh.
Hình 3.5: Phân loại tổng số vụ việc thông báo tập trung kinh tế
theo hành vi giai đoạn 2005 - 2016
Nguồn: Tổng hợp của Cục QLCT
3.1.2. Đánh giá về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế
3.1.2.1. Thành tựu đạt được
Có thể nói, sau 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh, việc kiểm
17
soát hoạt động TTKT đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa
các hành vi phản cạnh tranh trên thị trường. Số lượng các vụ việc
TTKT thông báo và xin tham vấn ngày càng tăng đã cho thấy ý thức
tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp đã được cải thiện một cách rõ
ràng.
3.1.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Qua phân tích về thực trạng thực thi việc kiểm soát hoạt
động TTKT tại Việt Nam, có thể nhận thấy một số điểm cần được bổ
trong thời gian tới
Với những xu hướng và nhận định nêu trên, trong thời gian
sắp tới, các nhóm đối tượng sau đây cần phải tập trung giám sát:
Thứ nhất: Các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường
Thứ hai: Các thương vụ lớn được giao dịch ở ngoài lãnh thổ
Việt Nam nhưng các Bên tham gia có hoạt động tại Việt Nam thông
qua hiện diện thương mại hoặc có sản phẩm, dịch vụ được tiêu
thụ/cung cấp tại thị trường Việt Nam.
Thứ ba: Các thương vụ M&A trong một số lĩnh vực quan
trọng của nền kinh tế.
3.4. Giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt động tập trung
kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại Việt Nam
3.4.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
cạnh tranh Việt Nam
- Bổ sung ngưỡng thông báo tập trung kinh tế
Kinh nghiệm của các quốc gia đã tiến hành sửa đổi quy định
kiểm soát TTKT cho thấy, lợi ích từ việc sử dụng tiêu chí thị phần để
xác định ngưỡng thông báo TTKT không thể bù đắp cho những khó
khăn và chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Trên thực tế, hầu
hết các hệ thống kiểm soát TTKT chỉ sử dụng tiêu chí doanh thu để
19
xác định ngưỡng thông báo TTKT.
- Bổ sung các quy định về đánh giá tác động TTKT
- Sửa đổi về phạm vi và các hình thức TTKT phải kiểm soát
3.4.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát hoạt
động tập trung kinh tế tại Việt Nam
- Hoàn thiện mô hình cơ quan cạnh tranh Việt Nam
sở dữ liệu chung quốc gia sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và
thực thi pháp luật của các cơ quan có liên quan.
3.4.3. Giải pháp đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư
- Tăng cường tham vấn trước với Cơ quan cạnh tranh trước
khi tiến hành hoạt động tập trung kinh tế
Hoạt động M&A sẽ càng ngày có nhiều phương thức phức
tạp mà có thể ban lãnh đạo doanh nghiệp chưa nắm vững. Ngoài ra,
hệ quả pháp lý nếu thương vụ có sự vi phạm pháp luật về cạnh tranh
(trong bối cảnh các vụ M&A nằm trong ngưỡng phải thông báo hoặc
bị cấm được dự đoán là sẽ gia tăng trong những năm tới) hoặc tổn
thất về tài chính, kinh tế là rất lớn nếu như các hợp đồng M&A
không được soạn thảo kỹ lưỡng, chặt chẽ. Do đó, việc tham vấn với
các cơ quan quản lý nhà nước cũng như việc cân nhắc sử dụng dịch
vụ của các đơn vị tư vấn, hãng luật có kinh nghiệm là rất quan trọng.
- Tăng cường nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp
Căn cứ trên mức độ nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp
thì hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh còn nhiều
hạn chế. Do đó, trong thời gian tới, Cơ quan cạnh tranh cần đa dạng
hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến. Bên cạnh các hình thức
truyền thống như hội nghị, hội thảo, cần có các hoạt động tuyên
truyền trực tiếp, trực quan, sáng tạo đến doanh nghiệp và các đối
tượng khác của Luật Cạnh tranh.
KẾT LUẬN
21
Trong các lĩnh vực của nền kinh tế hiện nay, thương mại và
dịch vụ là những lĩnh vực được xem là nhạy cảm đối với bất kỳ quốc
gia nào do đây là những lĩnh vực kinh tế phát triển ở mức độ cao
lý cạnh tranh
Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, Luận án đã đạt được
một số kết quả có tính mới như sau:
1. Về cơ sở lý luận: Luận án đã phân tích khái niệm về
TTKT, mục tiêu, vai trò cũng như các đặc điểm của hoạt động TTKT
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Bên cạnh đó, luận án cũng chỉ
ra các yếu tố tác động tới việc kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnh
vực thương mại và dịch vụ
2. Về nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển và
đang phát triển: Phân tích kinh nghiệm để rút ra bài học là một trong
những nội dung chủ yếu của luận án. Nghiên cứu đã phân tích cụ thể
kinh nghiệm các nước từ chính sách, nội dung pháp luật, cơ quan
thực thi để tìm ra các nội dung và bài học có thể áp dụng ở Việt Nam.
Các bài học kinh nghiệm rút ra cho thấy:
- Cần xây dựng cơ chế kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnh
vực thương mại và dịch vụ thật chặt chẽ, tuy nhiên vẫn tạo điều kiện
thuận lợi và thời gian nhanh nhất đối với các vụ việc không làm ảnh
hưởng tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường.
- Trong các quy định về kiểm soát TTKT trong lĩnh vực
thương mại và dịch vụ cần đặc biệt lưu ý tới các quy định về ngưỡng
thông báo với Cơ quan cạnh tranh cũng như các yếu tố cần phải đánh
giá trong quá trình xem xét một vụ việc TTKT.
- Về hoạt động của cơ quan cạnh tranh: nguyên tắc quan
trọng hàng đầu của cơ quan cạnh tranh là bảo đảm tính độc lập. Độc
lập về vị trí và độc lập khi ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
23
Bên cạnh đó, để vận hành tốt, cơ quan cạnh tranh phải có một số
quyền lực cơ bản bao gồm: