Trung quốc xâm nhập thị trường châu phi và bài học cho việt nam - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
----------***---------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Trung quốc xâm nhập thị trường châu phi
và bài học cho việt nam
Hà Nội, 6/2008
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI VÀ VẤN
ĐỀ XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI......................................10
I. Tổng quan về vấn đề xâm nhập thị trường nước ngoài......................10
1. Khái niệm thị trường trong kinh tế học................................................10
2. Khái niệm xâm nhập thị trường nước ngoài........................................11
3. Các hình thức xâm nhập thị trường nước ngoài.................................11
3.1. Xuất khẩu........................................................................................11
3.2. Nhượng quyền thương hiệu............................................................12
3.3. Đầu tư trực tiếp..............................................................................13
3.4. Xúc tiến thương mại.......................................................................13
3.5. Cung cấp vốn ODA.........................................................................13
4. Nguyên nhân và quá trình hình thành xu hướng xâm nhập thị trường
nước ngoài..................................................................................................15
4.1. Nguyên nhân xuất hiện xu hướng xâm nhập thị trường nước ngoài
..............................................................................................................15
4.1.1. Nâng cao lợi ích kinh tế đối với bản thân các doanh nghiệp.15
4.1.2. Nâng cao lợi ích kinh tế và thỏa mãn nhu cầu phát triển ngành
của nền kinh tế quốc gia......................................................................15
4.1.3. Nâng cao vị thế chính trị của quốc gia trên trường quốc tế.....16
4.2. Quá trình hình thành và phát triển xu hướng xâm nhập và mở rộng

3.5. Điều chỉnh thuế quan phù hợp với cam kết hội nhập khu vực và thế
giới........................................................................................................31
4. Những thách thức đặt ra khi muốn xâm nhập thị trường châu Phi. .31
4.1. Vẫn tồn tại những mâu thuẫn xung đột nội bộ tiềm tàng................31
4.2. Phổ biến là thị trường quy mô nhỏ, trình độ thấp...........................31
4.3. Chính sách bảo hộ các ngành sản xuất trong nước cản trở nhập
khẩu sản phẩm giá rẻ, chất lượng cao...................................................32
4.4. Cơ sở hạ tầng yếu kém làm tăng chi phí vận chuyển, giá thành.....32
4.5. Phương thức thanh toán phức tạp, khả năng thanh toán thấp kém,
gây nhiều rủi ro cho đối tác...................................................................32
4.6. Địa bàn tranh chấp không khoan nhượng giữa nhiều thế lực lớn
trên thế giới...........................................................................................32
5. Quan hệ thương mại trong nội bộ các nước châu Phi. ......................33
6. Quan hệ thương mại giữa châu Phi và các nước trên thế giới hiện
nay...............................................................................................................34
6.1. Quan hệ với EU và các nước Tây Âu. ............................................34
6.2. Quan hệ với Mỹ..............................................................................35
6.3. Quan hệ với Nga và các nước SNG. ..............................................35
6.4. Quan hệ với các nước châu Á........................................................36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI
CỦA TRUNG QUỐC....................................................................................38
I. Những lí do để Trung Quốc xâm nhập thị trường châu Phi..............38
1. Lí do về mặt kinh tế ..............................................................................38
1.1. Mở rộng thị trường xuất khẩu và tiêu thụ hàng hoá.......................38
3
1.2. Châu Phi : nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên dồi dào cho phát
triển công nghiệp...................................................................................39
2. Lí do về mặt xã hội ...............................................................................41
3. Lí do về mặt chính trị ............................................................................42
II. Những ưu thế của Trung Quốc khi xâm nhập thị trường Châu Phi

2.2. Những hậu quả và vấn đề còn tồn tại trong quan hệ Trung - Phi .58
2.2.1. Tác động về mặt kinh tế: gây mất cân đối và tạo rủi ro cho phát
triển kinh tế ..........................................................................................58
2.2.2. Tác động về mặt chính trị: tạo điều kiện cho các chính quyền
độc tài tồn tại........................................................................................59
2.2.3. Tác động về mặt xã hội.............................................................61
4
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC NGHIÊN
CỨU THỰC TẾ XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG
CHÂU PHI CỦA TRUNG QUỐC...............................................................62
I. Thực trạng xâm nhập thị trường châu Phi của Việt Nam..................62
1. Quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Phi được phát triển trên nền
tảng quan hệ chính trị gắn bó truyền thống.............................................63
2. Quan hệ xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và châu Phi đang phát triển
mạnh mẽ......................................................................................................63
3. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi được mở rộng ..65
4. Mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và châu Phi có thay đổi
nhiều trong những năm gần đây...............................................................65
5. Phương thức xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các quốc gia châu
Phi còn sơ khai...........................................................................................66
6. Quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Phi còn nhiều hạn chế và gặp
không ít khó khăn trong quá trình phát triển...........................................67
II. Một số bài học cho Việt Nam về giải pháp phát triển quan hệ
thương mại Việt Nam – Châu Phi từ thực tế xâm nhập thị trường Châu
Phi của Trung Quốc...................................................................................69
1. Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Phi.......................69
2. Bài học về giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Châu
Phi Phi từ thực tế xâm nhập thị trường Châu Phi của Trung Quốc......70
2.1. Giải pháp vĩ mô..............................................................................70
2.1.1. Xác lập chiến lược mậu dịch trung hạn và dài hạn.................70

Việt Nam, ngay từ thập niên cuối, Châu Phi – lục địa được thế giới nhìn nhận là
“hoang sơ và rộng mở”, đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là thị trường mới mà
Việt Nam cần nhanh chóng tiếp cận. Việc Chính phủ Việt Nam đưa ra “Chương trình
hành động Quốc gia thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Châu Phi giai đoạn 2004 – 2010”
đã một lần nữa thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta đẩy mối quan hệ buôn
bán với Châu Phi lên một tầm cao mới. Với tư cách một thị trường được thế giới xem
như “con sư tử đang ngủ”, Châu Phi ngày càng tỏ ra có nhiều hứa hẹn khi Mỹ, EU và
đặc biệt là Trung Quốc – những thế lực kinh tế lớn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của
mình tới lục địa này. Để có thể tiếp cận, xâm nhập và khai thác hiệu quả thị trường
này, doanh nghiệp nước ta cần đón nhận một cách tích cực những khó khăn, thách
thức, tìm cách hóa giải chúng thông qua sự thông hiểu sâu sắc và toàn diện mảnh đất
và những con người mà mình tiếp xúc, ứng xử một cách phù hợp nhất với yêu cầu và
nguyện vọng, với bản sắc văn hóa của các dân tộc này. Ngoài ra, việc nghiên cứu
kinh nghiệm xâm nhập thị trường Châu Phi của các nước khác trên thế giới cần đuợc
đầu tư nghiêm túc, bởi hiện nay ở Việt Nam, thông tin về thị trường Châu Phi rất tản
mạn và hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu tiếp cận, xâm nhập và khai thác thị
trường đầy tiềm năng này. Trong số những quốc gia xâm nhập vào thị trường Châu
Phi, Trung Quốc hiện là thế lực kinh tế nổi bật nhất, khẳng định được sức ảnh hưởng
của mình, đồng thời không ngừng đạt được những thành tựu to lớn trong mối quan hệ
kinh tế, chính trị Trung – Phi. Kim ngạch buôn bán hai chiều Trung Quốc - Châu Phi
đã vượt qua 18 tỷ USD trong năm 2003, tăng gần gấp đôi so với mức thực hiện năm
2000. Sự tăng trưởng nhảy vọt về kinh tế của Trung Hoa đại lục là một trong những
nhân tố quan trọng, góp phần thúc đẩy thương mại Trung - Phi. Bản thân sự năng
động, nhạy bén và kinh nghiệm thương trường dày dạn của các doanh nghiệp Trung
Quốc cũng quyết định thành công trên thị trường mới mẻ này. Sự thành công của
8
Trung Quốc là kinh nghiệm quý báu để các doanh nghiệp xem xét chiến lược kinh
doanh của mình, khai thác thế mạnh và xâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng này
một cách hiệu quả nhất. Cũng chính bởi những lý do đó, tôi đã chọn nghiên cứu đề
tài: “Trung Quốc xâm nhập thị trường Châu Phi và bài học cho Việt Nam”.

mà tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ. Trong kinh tế học, thị
trường được hiểu rộng hơn, đó là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa
vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa
điểm nào, thời gian nào. Thị trường đảm nhiệm 03 chức năng chủ yếu, đó là:
- Thứ nhất, thừa nhận công dụng xã hội của hàng hóa (giá trị sử dụng xã hội)
và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó, thông qua việc hàng hóa đó có bán được hay
không, bán với giá thế nào.
- Thứ hai, cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng thông qua
những biến động của nhu cầu xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại, cơ cấu của
các loại hàng hóa, giá cả, tình hình cung cầu về các loại hàng hóa.
- Thứ ba, kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng.
Trong kinh tế học, thị trường được chia thành ba loại căn cứ theo chức năng:
thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động,
và thị trường tiền tệ. Ngoài ra, thị trường còn có thể phân loại theo phạm vi quốc gia:
thị trường nội địa (thị trường trong nước) và thị trường nước ngoài.
- Thị trường nội địa (thị trường trong nước) là thị trường giới hạn trong phạm
vi một quốc gia.
- Thị trường nước ngoài là thị trường ở ngoài biên giới một quốc gia, đây là
thị trường rộng lớn và đa dạng với nhiều đặc điểm khác nhau, thậm chí có cả những
đặc điểm đối nghịch về văn hóa, tập quán, sở thích, phương thức vận hành, lưu
thông…
10
2. Khái niệm xâm nhập thị trường nước ngoài
Mở rộng thị trường là kết quả của chiến lược xâm nhập thị trường thành công,
trong đó đi kèm với nó là tăng thị phần, lợi nhuận và sức cạnh tranh của hàng hóa,
dịch vụ. Khái niệm “mở rộng thị trường” ở đây không chỉ là phát triển, khai thác thị
trường mới theo bề rộng mà còn đặc biệt quan tâm thị trường đã có theo chiều sâu.
Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách luôn luôn có khả năng cung cấp cho khách
hàng những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao.
Xâm nhập thị trường nước ngoài là những biện pháp hoặc chiến lược nhằm

được lợi thế quy mô đáng kể qua khối lượng bán cho thị trường toàn cầu của mình.
Hiệu quả của chiến lược xuất khẩu là nhằm làm cho sản phẩm hàng hóa thích ứng và
thỏa mãn được nhu cầu của các khách hàng và sự ưa thích của thị trường, đồng thời
làm cho chính sách giá cả, phân phối và truyền thông liên kết chặt chẽ trong một
chiến lược marketing tổng thể. Tuy nhiên, xuất khẩu cũng có một số nhược điểm.
Thứ nhất, các sản phẩm xuất khẩu được sản xuất từ cơ sở của các công ty ở chính
quốc có thể không phù hợp với nhu cầu và điều kiện thị trường địa phương. Thứ hai,
chi phí vận chuyển cao có thể làm cho việc xuất khẩu trở nên không kinh tế, đặc biệt
trong trường hợp các sản phẩm cồng kềnh. Các hàng rào thuế quan cũng có thể làm
cho việc xuất khẩu giảm hiệu quả kinh tế. Cuối cùng, những rủi ro bắt nguồn từ
nguyên nhân ít kinh nghiệm xuất khẩu, ít am hiểu thị trường của các công ty mới bắt
đầu xuất khẩu.
3.2. Nhượng quyền thương hiệu
Nhượng quyền thương hiệu là cách thức mà một doanh nghiệp cho phép một
doanh nghiệp khác nào đó được sử dụng tài sản vô hình của mình như quy trình sản
xuất, thương hiệu, sáng chế, bí mật kinh doanh để thu về khoản phí sử dụng những
tài sản vô hình đó. Thông qua hình thức này, bên nhượng quyền thương hiệu có thể
xâm nhập thị trường với ít rủi ro trong khi bên nhận nhượng quyền nhận được những
kỹ năng chuyên môn trong sản xuất, một hàng hóa, dịch vụ hay một tên tuổi danh
tiếng nào đó mà không cần phải bắt đầu từ đầu. Nhượng quyền thương hiệu cũng có
những hạn chế có thể xảy ra, ví dụ như doanh nghiệp ít có khả năng kiểm soát hơn
đối với bên nhận nhượng quyền khi bên nhận nhượng quyền có thể tự xây dựng cơ sở
vận hành riêng cho mình. Hơn nữa, nếu như bên nhận nhượng quyền thương hiệu
12
hoạt động thành công thì cũng có nghĩa là bên nhượng quyền để mất đi lợi nhuận
mình đáng có. Khi kết thúc hợp đồng nhượng quyền giữa hai bên, bên nhượng quyền
có thể sẽ nhận ra rằng mình đã tạo ra một đối thủ cạnh tranh.
3.3. Đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức sở hữu trực tiếp đối với nhà xưởng máy móc thiết
bị đầu tư tại một nước nào đó. Đầu tư trực tiếp liên quan đến việc chuyển giao tiền

gian ân hạn 8-10 năm); trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn
lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA.
Bất lợi khi nhận ODA: Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những
lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho mình, đảm
bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, các
nước này đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có
lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế -
chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới). Về kinh tế, nước tiếp nhận
ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp
non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA
cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng
hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời
cao. Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường
gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm
chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Nguồn vốn viện trợ ODA còn gắn với
các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm. Cụ thể là nước cấp
ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch
vụ do nước viện trợ sản xuất. Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử
dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả
thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng nước viện
trợ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
14
4. Nguyên nhân và quá trình hình thành xu hướng xâm nhập thị trường nước
ngoài
4.1. Nguyên nhân xuất hiện xu hướng xâm nhập thị trường nước ngoài
4.1.1. Nâng cao lợi ích kinh tế đối với bản thân các doanh nghiệp
Xu hướng thâm nhập thị trường nước ngoài ra đời để thỏa mãn nhu cầu mở
rộng thị trường, nâng cao lợi nhuận trong lĩnh vực sản xuất và trao đổi, buôn bán
hàng hóa, dịch vụ. Khi thị trường nội địa đã được các doanh nghiệp khai thác triệt để

(chuyển dịch cơ cấu ngành nghề); nhập khẩu và tiếp thu trực tiếp các công nghệ tiên
tiến đầu tay, hiện đại hoá nền kinh tế và cải thiện tiêu dùng cho nhân dân, tăng quy
mô thị trường.
Ngoài ra, trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, xâm nhập và mở rộng thị
trường nước ngoài trở thành một nhu cầu tất yếu đối với rất nhiều quốc gia, đặc biệt
là những nền kinh tế cần nhiều tài nguyên, nguyên liệu và nhiên liệu thô phục vụ cho
phát triển công nghiệp. Xâm nhập vào thị trường nước ngoài là giải pháp tối ưu để
tiến hành khai thác, tận dụng, thậm chí tiến đến kiểm soát nguồn tài nguyên, nguyên
nhiên liệu dồi dào ở nhiều nước đang và kém và phát triển. Thị trường nước ngoài
khi đó không đơn thuần là “đầu ra”- thị trường tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước,
mà trở thành nguồn cung cấp “đầu vào” thỏa mãn “cơn khát” năng lượng, tài nguyên
của nền công nghiệp nội địa.
4.1.3. Nâng cao vị thế chính trị của quốc gia trên trường quốc tế
Trong kỷ nguyên mới của toàn cầu hóa, mỗi quốc gia đều cần nhận thức được
rõ ràng vị thế của mình trên chính trường quốc tế. Mặt trái của toàn cầu hóa là sự
phân biệt giàu nghèo, sức ảnh hưởng mang tính kiểm soát của những thế lực lớn
trong kinh tế thế giới, và sự “lép vế” trong quan hệ ngoại giao, phân chia lợi ích kinh
tế của các nước “tầm vóc” kinh tế bé nhỏ hơn. Bởi thế, càng nâng cao sức ảnh hưởng
trên thương trường, các quốc gia càng có nhiều lợi thế để thúc đẩy tiếng nói của mình
trên chính trường quốc tế, đây là định hướng phát triển lâu dài mà quốc gia nào trên
thế giới cũng khát khao hướng đến. Xu hướng thâm nhập, mở rộng thị trường, đặt
trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng như hiện nay,
trở thành một nhu cầu phát triển cực kỳ quan trọng phục vụ cho mục đích chính trị
của các nền kinh tế.
16
4.2. Quá trình hình thành và phát triển xu hướng xâm nhập và mở rộng thị
trường nước ngoài
Xâm nhập và mở rộng thị trường gắn liền với quá trình toàn cầu hóa kinh tế,
những mục tiêu toàn cầu hóa kinh tế đặt ra có thế nói phần lớn đã được thực hiện
hiệu quả thông qua chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường. Trong lịch sử phát

và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
tạo nên một kiểu quan hệ mới giữa các quốc gia dân tộc. Kiểu quan hệ mới này bước
đầu mở ra kiểu quốc tế hoá đời sống kinh tế mới, dựa trên tính ưu việt của hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa, nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế
của chủ nghĩa tư bản, đặt nền móng cho sự quốc tế hoá chân chính. Song, do những
thăng trầm của lịch sử, trong những năm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô sụp đổ, hệ thống
xã hội chủ nghĩa tan rã, kiểu quan hệ kinh tế quốc tế này đã kết thúc.Tuy nhiên, lực
lượng sản xuất vẫn ngày càng phát triển. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức hình thành, đời sống kinh tế quốc tế hoá,
toàn cầu hoá; các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển và trở thành lực lượng chi
phối thế giới. Có thể nói, từ sau chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá kinh tế đi liền với quá
trình mở rộng và xâm nhập thị trường chủ yếu gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Mặc dù
vậy, trên thực tế, hiện nay vẫn tồn tại một số nước xã hội chủ nghĩa, hầu hết là nước
đang phát triển. Do vậy, khi đề cập đến toàn cầu hóa kinh tế và quá trình phát triển
của xu hướng xâm nhập, mở rộng thị trường thì không thể bác bỏ một thực tiễn lịch
sử là quá trình này đang diễn ra trong bối cảnh hình thành cục diện kinh tế đa cực,
hình thành một trật tự kinh tế, chính trị quốc tế mới, trong đó có hình thức phát triển,
hợp tác, cạnh tranh và cùng nhau phồn vinh của các quốc gia dân tộc. Và khái niệm
toàn cầu hoá hiện đại gắn liền với xâm nhập và mở rộng thị trường trở thành xu thế
khách quan đang diễn ra trong thời đại hiện nay. Lịch sử của quá trình quốc tế hoá,
toàn cầu hoá kinh tế rất lâu dài, và phải thấy rằng, cơ cấu của toàn cầu hoá bắt đầu từ
sự hình thành nhà nước, quốc gia dân tộc và tư nhân hoá - những cỗ xe đi đến hiện
đại. Kết quả tất yếu là sự mở rộng thị trường thế giới. Mở rộng thị trường thế giới
gắn với việc phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản và cả quan hệ sản
xuất của chủ nghĩa tư bản. Sự hiện đại hoá lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
của chủ nghĩa tư bản dẫn tới toàn cầu hoá. Nó đi trước và quyết định quá trình toàn
18
cầu hóa. Song, cho đến nay, toàn cầu hóa lại là một trong những điều kiện để hiện đại
hóa thế giới, bất chấp ý muốn của ai. Sự phát triển của phương Tây thúc đẩy hiện đại
hóa, toàn cầu hóa. Bởi vậy, việc hiện đại hóa của thế giới, trong đó có các nước đang

tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh tế; các lĩnh vực
hợp tác trong toàn cầu hoá kinh tế và xâm nhập, mở rộng thị trường không ngừng
phát triển.
II. Tổng quan về thị trường Châu Phi
1. Giới thiệu khái quát về Châu Phi - lục địa đen của thế giới
1.1. Điều kiện tự nhiên
Nguồn tài nguyên dồi dào đã khiến Châu Phi được xem là châu lục có kho
tàng khoáng sản đáng chú ý nhất trên trên thế giới. Cho đến nửa thế kỷ trước, những
cuộc thăm dò cho thấy trữ lượng khoáng sản hầu như vô tận ở châu lục này.Ở vùng
Trung Phi, vàng nằm cả ở vùng ven biển lẫn trong nội địa. Nhưng trữ lượng vàng lớn
nhất lại nằm ở phía nam, ở Mađagatxca và nhất là Transvaal. Miền trung Châu Phi có
vàng, granit, thiếc với trữ lượng cũng rất lớn. ở Senegan và Sudan có than đá, quặng
sắt, titan, trong đó có rất nhiều mỏ chưa được khai phá. Vùng đất Angieri được biết
đến với trữ lượng lớn chì, kẽm, thủy ngân, sắt. Vùng Maroc là dầu hỏa, vùng Rif là
bạc, rất nhiều muối và phốt phát. Nhưng vùng giàu khoáng sản nhất là phía nam
Châu Phi với : vàng (từ đầu thế kỷ trước đã chiếm 3/5 sản lượng vàng thế giới), kim
cương được tìm thấy trong cả đất phù sa, thậm chí cả trong các bờ biển ở vùng đông
nam Châu Phi. Nam Phi còn có cả quặng sắt, bạch kim, than đá.
Cho đến nay, Châu Phi vẫn được xem là một kho tàng ngầm đáng thèm muốn
nhất của nhân loại. Trong 50 khoáng sản chủ yếu của nền kinh tế thế giới, Châu Phi
đứng đầu về trữ lượng của 17 loại: kim cương chiếm 90% của thế giới, côban – 87%,
vàng – 67 %, phốt phát – 70%, crôm – 50 %, mănggan – 70%, uranium – 37%, đồng
và bôxit – 21%. Đặc biệt, giá trị kho tàng ngầm của Châu Phi đã tăng vượt bậc khi
những mỏ dầu và khí đốt được phát hiện và khai thác ở Angiêri, Nigiêria, Angola,
Libi, Gabông, Cộng hòa Cônggô
1
…Chính tiềm năng về khoáng sản này đã làm cho
một số nước Châu Phi, mặc dầu có trình độ phát triển kinh tế và hiện đại hóa còn
thấp kém, vẫn có một vị trí đáng kể và một tiếng nói nhất định trên trường quốc tế.
1

các cộng đồng người, của các nhóm người thuộc sắc tộc khác nhau, có trình độ sản
21
xuất thấp kém, là do cơ cấu quốc gia, bộ lạc, sắc tộc, thậm chí, sự lỏng lẻo trong kỷ
cương của các chính quyền đã tạo điều kiện cho sự dịch chuyển này.
Thứ ba, tỷ lệ dân số tăng cao, cho dù tỷ lệ tử vong, đặc biệt là trẻ em được xếp
hàng đầu trên thế giới. Trong khoảng từ năm 1980 đến năm 2000, tỷ lệ tăng dân số
hàng năm của Châu Phi là 2,6%, trong khi của Thế giới là 1,6%. Từ năm 2000 đến
năm 2005, tình hính có được cải thiện nhưng không đáng kể, vẫn ở mức 2,2% (so với
mức 1,2% của Thế giới). Với tỷ lệ tăng dân số cao như vậy, dân số Châu Phi năm
2005 là 906 triệu, tăng gần hai lần trong 25 năm (năm 1980 mới có 470 triệu), quá
lớn so với mức tăng của Thế giới trong thời gian tương ứng là 1,3 lần. Đến năm
2010, dự báo dân số Châu Phi sẽ đạt khoảng 1 tỷ người
2
.
Thứ tư, phân bố dân cư của Châu Phi rất không đồng đều. Có mật độ dân số
lớn nhất là Nigiêria, Ethiopia, thung lũng sông Nin và quanh những vùng hồ lớn
Victoria và Tanganyica. Những thủ đô và hải cảng lớn là nơi tập trung một số lượng
đáng kể dân cư ở Châu Phi. Trong số đông người nghèo, có một bộ phận người quá
nghèo đến mức đói khát quanh năm. Châu Phi cũng là lục địa duy nhất thường xuyên
xảy ra nạn đói và cũng cần đến sự viện trợ thường xuyên của cộng đồng quốc tế. Sự
yếu kém về kinh tế tất yếu kéo theo sự yếu kém về trình độ văn hóa. Thất học là tính
trạng khá phổ biến ở nhiều vùng quê Châu Phi. Đặc biệt, nước có tỷ lệ mù chữ cao
nhất là Burkina: trong số 13,2 triệu dân, tỷ lệ mù chữ của nam giới là 81,5% và nữ
giới là 91,9%.
3
Châu Phi còn là lục địa của các dịch bệnh như sốt rét, bệnh đường ruột, đặc
biệt là bệnh AIDS. Từ khi AIDS xuất hiện tới nay, Châu phi vẫn đứng đầu Thế giới
về số người nhiễm HIV, số người chết vì bệnh AIDS, và dĩ nhiên, đứng hàng chót
Thế giới về những điều kiện và nỗ lực ngăn ngừa căn bệnh thế kỷ này. Báo cáo của
Hội nghị Quốc tế lần thứ XVI về bệnh AIDS được tổ chức tháng 8/2006 cho thấy, chỉ

đến 30% vào cuối thập niên này, thậm chí có thể vượt quá 50% nếu tính cả số thất
nghiệp không tuyên bố. Người ta dự đoán rằng, cho đến năm 2010, hàng năm thị
trường lao động Châu Phi sẽ phải tiếp nhận thêm 8,7 triệu người lao động cần có việc
làm.
Như vậy, xét về phương diện nhân lực, Châu Phi là một thị trường lao động
đông đảo, dồi dào tiềm năng về sức vóc thể chất nhưng còn rất thấp về trình độ và kỹ
năng xét theo yêu cầu của công cuộc hiện đại hóa. Nói một cách khác, nếu khối
người này có thể cung cấp một cường độ lao động chân tay rất lớn thì nó cũng đòi
hỏi một quá trình đào tạo vừa cấp bách, vừa lâu dài, với sự đầu tư to lớn để có thể trở
4
Báo cáo Châu Phi của hiệp đoàn các nước Châu Phi năm 2007
23
thành một lực lượng lao động tương xứng với yêu cầu sản xuất trong điều kiện toàn
cầu hóa hiện nay. Xét về phương diện tiêu dùng, thị trường này cũng đang cần một
khối lượng rất lớn hàng hóa phổ thông có chất lượng vừa phải, kết hợp với nhu cầu
của một số ít ỏi những người giàu có về hàng hóa đặc biệt có chất lượng cao.
1.3. Điều kiện lịch sử
Cho dù có một nền văn minh lâu đời, đặc biệt là nền văn minh Ai Cập tồn tại
từ 3.400 năm trước Công nguyên, thì châu Phi từ 1500 năm sau Công nguyên trở về
trước gần như còn giữ nguyên trạng cuộc sống nguyên thủy. Lịch sử châu Phi có
bước ngoặt lớn nhất là từ khi người châu Âu đặt chân lên vùng đất này. Người Bồ
Đào Nha, sau đó là người Hà Lan, rồi lần lượt là Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Mỹ đến giành
giật đất đai, kiếm lợi trên lục địa đen bằng việc trao đổi hàng hoá công nghiệp giá đắt
lấy nguyên liệu giá rẻ và buôn nô lệ với quy mô ngày càng lớn. Điều đó đã để lại cho
châu Phi những hậu quả mang tính chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội sâu sắc. Nhiều
giới chức trên thế giới vẫn cáo buộc chủ nghĩa thực dân tội gây ra những xung đột,
những va chạm, những thù hận giữa các cộng đồng người Phi để đến nay vẫn chưa
giải quyết được về cơ bản.
Thắng lợi của nhân dân châu Phi trong cuộc đấu tranh chống sự áp bức, bóc
lột của đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc trong những thập kỷ 1950, 1960,

mang về cho một số quốc gia châu Phi nguồn thu ngoại tệ dồi dào;
- Môi trường quốc tế đối với châu Phi được cải thiện ít nhiều, khi tăng trưởng
kinh tế chung của thế giới làm tăng nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng về sản phẩm
cung cấp từ Châu Phi;
- Ngày càng có nhiều hàng hoá của Châu Phi tiếp cận tự do và thuận lợi hơn
thị trường một số nước lớn nhờ những chính sách ưu đãi và trợ giúp của một số chính
phủ, tổ chức quốc tế.
5
Báo cáo Châu Phi của hiệp đoàn các nước Châu Phi năm 2007
25

Trích đoạn Những đánh giá về thực trạng xâm nhập thị trường châu Phi của Quan hệ thương mại Việt Nam Châu Phi được phát triển trên nền Phương thức xuất nhập khẩu giữaViệt Nam và các quốc gia châu Quan hệ thương mại Việt Nam Châu Phi còn nhiều hạn chế và gặp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status