NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
MỤC LỤC
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NỢ CÔNG 2
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NỢ CÔNG CHÂU ÂU 10
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU ĐẾN NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 17
Kết luận
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 1
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NỢ CÔNG
1.1 Khái niệm nợ công
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp
cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách
nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng
nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với
nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ
của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ
phận của nợ quốc gia mà thôi.
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm
chủ thể bao gồm: (1) nợ của Chính phủ Trung Ương (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (3)
nợ của Ngân hàng trung ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50%
vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người
chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ
1
. Cách định nghĩa này cũng tương tự như
quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về
thương mại và phát triển (UNCTAD).
1.2 Bản chất kinh tế của nợ công
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt quá khả
năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn và điều đó làm
hoạt.
Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc ngân sách thăng bằng,
nhưng khái niệm thăng bằng không còn được hiểu một cách cứng nhắc như quan niệm của các nhà
kinh tế học cổ điển, mà đã có sự uyển chuyển hơn. Ví dụ, theo quy định của pháp luật Việt Nam, các
khoản chi thường xuyên không được vượt quá các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí; nguồn thu từ vay
nợ chỉ để dành cho các mục tiêu phát triển.
Hầu hết các quốc gia thực hiện nền kinh tế thị trường đều có hoạt động vay nợ. Việc vay nợ của
Nhà nước thường được thực hiện dựa trên quan điểm của Keynes, nhưng có hai điều chỉnh quan
trọng: một là, việc cố ý thâm hụt ngân sách và bù đắp bằng các khoản vay không được thực hiện
vĩnh viễn, bởi lẽ xét về lý thuyết thì những tác động từ các khoản vay chỉ có ích trong ngắn hạn còn
về dài hạn lại có ảnh hưởng tiêu cực và do đó Nhà nước cần phải có giới hạn về mặt thời gian trong
việc sử dụng các khoản vay; và hai là, các khoản nợ công phải được kiểm soát kỹ lưỡng nhằm đảm
bảo hiệu quả sử dụng, đồng thời hạn chế những tác động không mong muốn từ việc sử dụng các
khoản vay. Việc quản lý nợ công hiệu quả sẽ giúp mục đích vay vốn đạt được với chi phí thấp nhất,
đồng thời đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn.
1.3 Các đặc trưng cơ bản của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có những
đặc trưng sau đây:
- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước
(bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ
của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp được hiểu là cơ quan
nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ
khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương). Gián tiếp là trong trường hợp
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường
hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ:
Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài).
- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 3
vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi
ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo
hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro
tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh
toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái.
1.5 Rủi ro nợ công
1.5.1 Rủi ro thanh toán
Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại
Khi một quốc gia có thâm hụt ngân sách và buộc phải đi vay nợ để bù đắp sự bội chi này, rủi ro
đầu tiên đến từ việc liệu quốc gia đó có thể trả được các khoản nợ công này trong tương lai hay
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 4
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
không. Điều này phụ thuộc vào khối lượng nợ, có thể được so sánh trên GDP, xuất khẩu (thường
đối với nợ nước ngoài), hoặc thu ngân sách chính phủ. Đối với tổng toàn bộ nợ công, chính phủ
được xem là có khả năng thanh toán nếu như giá trị chiết khấu của cán cân ngân sách trong tương lai
sẽ lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện tại của khối lượng nợ. Tương tự đối với nợ công nước ngoài, do
vay bằng ngoại tệ nên sẽ phải chi trả bằng ngoại tệ, mà nguồn ngoại tệ bền vững đến từ xuất khẩu
ròng hay cán cân thương mại. Chính vì vậy, chính phủ được xem là có khả năng thanh toán nợ công
nước ngoài nếu như giá trị chiết khấu của cán cân thương mại trong tương lai lớn hơn hoặc bằng giá
trị hiện tại của khối lượng nợ công nước ngoài. Điều này có thể được mô tả một cách đơn giản và dễ
hiểu hơn. Lấy ví dụ về tổng nợ công, xuất phát từ khoản nợ công đầu tiên tại thời điểm t-1, ký hiệu
là B
t-1
, khi đó ràng buộc ngân sách thời kỳ t sẽ được biểu diễn bởi phương trình:
G
t
+ r
t
*B
t-1
– B
t-1
)/B
t-1
= r
t
và điều này là rất nguy hiểm. Để duy trì
không vay thêm nợ và có khả năng chi trả nợ cũ, đồng nghĩa với việc giữ cho B
t
ít nhất bằng 0 hoặc
nhỏ hơn. Do đó:
T
t
– G
t
r
t
*B
t-1
hay (T
t
– G
t
)/ r
t
B
t-1
Chính vì vậy, thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại kéo dài không những không thể bù
đắp được nợ công cũng như nợ công nước ngoài mà còn có khả năng làm gia tăng nợ công. Việc
định giá đồng nội tệ quá cao sẽ làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu dẫn đến thâm hụt thương mại
quả chỉ ra rằng, khi dư nợ nước ngoài chạm mức 60% GDP, tăng trưởng kinh tế sẽ bắt đầu suy giảm
2%, và nếu như vượt quá 90% GDP, mức tăng trưởng sẽ giảm một nửa.
Một nghiên cứu khác của Caner, Grennes và Koehler-Geib (2011) tiếp tục đi sâu phân tích thêm
về ngưỡng nợ nguy hiểm. Nghiên cứu này sử dụng số liệu nhiều hơn so với nghiên cứu của Reinhart
và Rogoff, bao gồm các số liệu về nợ công, tăng trưởng, độ mở của nền kinh tế, lạm phát và GDP
trong thời kỳ trước của 101 quốc gia (75 đang phát triển và 26 đã phát triển) trong giai đoạn 1980-
2008, đồng thời sử dụng mô hình kinh tế lượng. Kết quả cho thấy ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình
cho tất cả các quốc gia đã được lấy số liệu là 77% GDP, vượt qua ngưỡng này tăng trưởng kinh tế
bắt đầu suy giảm. Bên cạnh đó, áp dụng tương tự mô hình cho nhóm các quốc gia đang phát triển thì
con số này là 64% GDP.
Kumar và Woo (2010) cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự, với số liệu của 38 nền kinh tế
tiến bộ và mới nổi với dân số trên 5 triệu người, kéo dài trong 4 thập kỷ và cũng sử dụng mô hình
kinh tế lượng. Giống như Reinhart và Rogoff, các tác giả cũng chỉ tìm thấy một mối quan hệ đối
nghịch giữa nợ công và tăng trưởng nếu như nợ công vượt quá 90% GDP. Các tác giả cũng tìm ra
rằng. đối với các nền kinh tế mới nổi, tác động của nợ công lớn hơn so với các nền kinh tế tiến bộ.
Cụ thể, nếu quy mô nợ công tăng thêm 10% GDP, tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm từ 0,15% đến
0,2% tại các nền kinh tế tiến bộ, trong khi con số này tại các nền kinh tế mới nổi là từ 0,3% đến
0,4%. Ngoài ra, mức nợ ban đầu cao cũng sẽ tạo nên nhiều rủi ro hơn. Đối với các quốc gia mà nợ
công đã vượt quá 90% GDP, một mức gia tăng nợ công thêm 10% GDP sẽ đi kèm với tăng trưởng
giảm 0,19%; còn nếu mức nợ ban đầu chỉ từ 30% đến 60% GDP thì con số này chỉ là 0,11%. Ngoài
ra, Kumar và Woo cũng mở rộng mô hình của mình nhằm xác định những kênh khác mà hệ quả từ
nợ công có thể chuyển đến. Kết luận cho thấy rằng nợ công cao sẽ làm giảm đầu tư, làm chậm tốc
độ tăng trong lượng vốn tư bản cho mỗi lao động, dẫn đến hệ quả là suy giảm năng suất.
Một nghiên cứu nữa của Presbitero (2010) dựa trên số liệu tổng nợ công tại 92 quốc gia có thu
nhập thấp và trung bình trong khoảng thời gian 1990-2007 cũng nhằm tìm kiếm ngưỡng nợ nguy
hiểm. Nghiên cứu này tìm ra hệ quả xấu đối với tăng trưởng nếu nợ công vào mức khoảng 90%
GDP. Vượt trên mức này, một hệ quả xấu hơn rất nhiều sẽ xảy ra với tăng trưởng bởi quản lý kinh tế
kinh tế nghèo nàn cũng như những thể chế tồi tệ. Presbitero kết luận rằng những quốc gia công
nghiệp thành công hơn nhiều so với các quốc gia đang phát triển trong việc vay mượn và sử dụng
những khoản tài chính trong nước và quốc tế mà không phải hứng chịu những rủi ro có thể gây ra
đồng thời giám sát mối quan hệ giữa dư nợ và các tài sản trong ngắn hạn.
Theo sự tổng hợp của Eichengreen & Hausmann (1999), nợ ngắn hạn trung bình cho toàn khu
vực Mỹ Latinh năm 1998 chiếm 26% tổng dư nợ, chỉ khoảng một nửa so với khu vực Đông Á. Tỉ lệ
này còn đặc biệt thấp tại Argentina và Brazil. Tuy nhiên, điều này cũng không cho phép các quốc
gia Mỹ Latinh có thể duy trì khả năng tiếp tục vay từ các thị trường tài chính quốc tế khi các quốc
gia này bị ảnh hưởng bởi những cú sốc thương mại. Khi dòng vốn tài chính chảy vào bị ảnh hưởng,
các quốc gia này bị buộc phải thực hiện những chính sách thắt chặt để thúc đẩy xuất khẩu nhằm gia
tăng thặng dư thương mại, điều này làm cho đồng tiền bị trượt giá nghiêm trọng.
1.5.3 Rủi ro từ bất ổn vĩ mô
Ngoài những rủi ro trong khả năng thanh toán nợ và khả năng thanh khoản, nền kinh tế còn gặp
nhiều rủi ro do những bất ổn từ các biến số vĩ mô có thể ảnh hưởng trực tiếp lên nợ công. Các biến
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 7
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
số này bao gồm tăng trưởng, nguồn thu ngân sách chính phủ, lạm phát và tỉ giá. Những biến số thể
hiện khả năng thanh toán cũng như khả năng sẵn sàng trong việc trả nợ của nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của nền kinh tế, bởi nó thể hiện rằng
liệu quốc gia đó có đang phát triển bền vững và ổn định hay không. Điều này sẽ quyết định đến khả
năng tiếp cận với các nguồn tài chính mới nhằm bù đắp các khoản nợ công cũng như thâm hụt ngân
sách của mình.
Thông thường các quốc gia có nợ công cao là các quốc gia đang phát triển hoặc các nền kinh tế
mới nổi, nơi chính phủ còn đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế. Các quốc gia hay các nền kinh
tế này thường xuất khẩu các hàng hóa thô, giá trị gia tăng thấp, trong khi lại có nhu cầu nhập khẩu
máy móc thiết bị công nghệ cao với chi phí lớn. Chính vì vậy, thâm hụt thương mại là chuyện
thường thấy, đồng nghĩa với việc các quốc gia này phải có thặng dư cán cân vốn để bù đắp mức
thâm hụt này. Do các khoản tín dụng nước ngoài từ xuất khẩu thường không bù đắp đủ, các quốc gia
này phải thường xuyên vay nợ mới để trả các khoản nợ cũ. Và để có điều kiện tiếp tục vay nợ, các
quốc gia này phải thể hiện một bộ mặt tích cực trong phát triển kinh tế. Nếu mức tăng trưởng đang
suy giảm hoặc thậm chí nền kinh tế tăng trưởng âm, sẽ rất khó cho các quốc gia này trong việc tiếp
cận thêm các nguồn vốn tín dụng mới.
Nguồn thu ngân sách cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ. Việc tăng nguồn thu
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất
định. Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước. Nếu
kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng,
lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công.
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 9
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NỢ CÔNG CHÂU ÂU
2.1 Diễn biến nợ công châu Âu
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sự gia tăng mức nợ công
của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha). Ngày 5/11/2009 Thủ tướng Hy
Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức 12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố trước
đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ. Thực tế, mức thâm hụt ngân sách đạt tới 13,6%
GDP. Nợ công Hy Lạp cũng lên tới 236 tỉ euro, chiếm khoảng 115% GDP của Hy Lạp vào năm
2009. Trước đó, 22/12/2009, Moody hạ xếp hạng nợ của Hy Lạp xuống mức A2 từ mức A1 bởi
thâm hụt ngân sách của nước này tăng cao. Đây là cơ quan thứ 3 hạ xếp hạng tín dụng của Hy Lạp.
Đây là kết quả của một quá trình thực hiện chính sách tài khóa không bền vững nhằm kích thích
kinh tế sau suy thoái toàn cầu cuối năm 2007. Ngày 14/1/2010 Chính phủ Hy Lạp công bố kế hoạch
bình ổn, chính phủ Hy Lạp tuyên bố muốn giảm thâm hụt ngân sách xuống mức 2,8% GDP vào năm
2012.
Tháng 04/2010, EU và IMF đã phải đưa ra một gói cứu trợ trị giá 110 tỉ euro nhằm cứu lấy Hy
Lạp. Đi kèm với gói cứu trợ này là các điều khoản buộc Hy Lạp phải cắt bỏ nhiều khoản lương
thưởng đối với nhân công, không tăng lương chính phủ trong vòng 3 năm, thuế giá trị gia tăng tăng
từ 21% lên 23%, mức giảm chi tiêu lên đến 30 tỷ euro trong 03 năm tới. Ngoài ra chính phủ cũng
nâng tuổi nghỉ hưu từ 60 lên 65 đối với nam và 55 lên 60 đối với nữ.
Tình hình của Hy Lạp lúc này làm dấy lên nỗi bất an của không chỉ các quốc gia vay nợ nhiều
như Ireland, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, Italia mà còn cả những quốc gia hùng mạnh trong khối
EU như Đức. Chính vì lẽ đó, chính phủ các quốc gia này đã có những biện pháp nhằm tránh khủng
hoảng vỡ nợ như sau:
Tháng 1/2010 Chính phủ Tây Ban Nha công bố kế hoạch tiết kiệm 50 tỷ euro tương đương 70 tỷ
USD trong đó tổng số tiền chi tiêu giảm tương đương 4% GDP. Lương lao động trong lĩnh vực công
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Poturgal
64,7 -3,9 63,6 -2,6 66,3 -2,8 76,8 -9,4 85,8 -8,5 91,1 -7,9
Ireland
24,9 3,0 25,0 0,1 43,9 -7,3 64,0 14,3 98,6 -32,0
Italia
106,5 -3,3 103,5 -1,5 106,1 -2,7 115,8 -5,3 118,2 -5,3 118,9 -5,0
Hy Lạp
97,8 -3,6 95,7 -5,1 99,2 -7,7 115,1 -13,6 133,3 -8,1 145,1 -7,6
Spain
39,6 2,0 36,2 1,9 39,7 -4,1 53,2 -11,2 64,9 -9,8 72,5 -8,8
Nguồn: Featherstone (2011)
Bước sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp tục là quốc gia thứ ba rơi vào khủng hoảng khi tuyên bố
mức thâm hụt ngân sách đã lên tới 8,5% GDP, cùng với đó nợ công cũng đã vượt quá 90% GDP.
Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ công (lương cao cho các nhà
chính trị; công chức, hệ thống an sinh xã hội và lao động, chế độ nghỉ hưu )
Áp lực của các nhóm tài phiệt: các nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính lớn và các trung tâm quyền
lực kinh tế lớn đã thuyết phục được các chính phủ chỉ điều chỉnh thể chế chứ không áp dụng các
biện pháp cải cách thể chế. Chính phủ các nước đã tiêu tốn hàng tỷ euro hỗ trợ các ngân hàng và cho
các chương trình hỗ trợ hoạt động kinh tế nhằm cứu ngân hàng và nền kinh tế không đổ vỡ, điều này
không tránh khỏi nợ công tăng. Trong khi đó, các NHTM nhận vốn với lãi suất 1% năm từ NHTW
với mục đích tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất. Tuy nhiên, các NHTM
lãi dùng tiền đó để mua nợ chính phủ với lãi suất 4 – 5%/ năm.
2.2.2 Nguyên nhân bên ngoài
Chiến dịch tấn công đồng euro: tháng 02/2010, Bộ trưởng Xây dựng TBN José Blanco cho rằng
có một chiến dịch tấn công vào đồng euro mà cụ thể là Tây Ban Nha. Giới đầu cơ đang thực hiện
các chiến dịch hạ thấp đồng euro và kiếm lời. Chủ yếu là đầu cơ ngắn hạn. Cũng có ý kiến cho rằng
cuộc khủng hoảng xảy ra do Anh và Mỹ tiến hành để hạ giá trị đồng euro. Việc tấn công đồng euro
cũng để chuyển hướng dư luận về sự yếu kém của đồng Bảng Anh và đồng USD Mỹ.
Các cơ quan đánh giá rủi ro đầu tư trái phiếu: thị trường tài chính đóng vai trò gây bất ổn tình
hình kinh tế châu Âu: chỉ một năm trước khủng hoảng nợ công, lãi suất trái phiếu xuống mức thấp
kỷ lục. Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng nợ tại Dubai, các cơ quan đánh giá phát hiện có một cuộc
khủng hoảng và hạ thấp trái phiếu của Dubai, và giới đầu cơ thu lời. Tiếp đó, các cơ quan đánh giá
tiếp tục nhắm tới các nước Nam Âu cụ thể là Hy Lạp. Hy Lạp với nền kinh tế yếu, nợ công cao dễ
dàng bị tổn thương. Các cơ quan xếp hạng tín nhiệm tín dụng Standar & Poor’s và Fitch bắt đầu
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 12
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
đánh giá nợ Hy Lạp, hạ thấp trái phiếu nước này thành trái phiếu rác. Kể từ đó, lãi suất trái phiếu
của chính phủ Hy Lạp không ngừng tăng, thị trường chứng khoán liên tục giảm. Cuối tháng
04/2010, Moody’s cảnh báo nợ công của Hy Lap, hạ tiếp trái phiếu chính phủ Hy Lạp. Làm cho lãi
suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp lại tăng cao. Chính các cơ quan đánh giá rủi ro là nhân tố góp phần
vào sự bất ổn của các thị trường, đẩy các nước lấn sâu vào khủng hoảng.
Hoạt động đầu cơ tài chính: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý và Ireland đối mặt với hoạt
động đầu cơ tài chính rất cao. Mục đích của đầu cơ là tăng lãi suất trái phiếu chính phủ lên mức cao
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 13
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
dứt khủng hoảng nhưng họ không thể hành động chỉ dựa trên lợi ích của những quốc gia đang gặp
khó khăn (Italia, Hy Lạp…). Đó là lý do khiến cho giải pháp nợ công của khu vực đồng Euro gặp
nhiều khó khăn. Khủng hoảng nợ công châu Âu không phải là một cuộc khủng hoảng kinh tế mà là
cuộc khủng hoảng chính trị bởi lẽ tiền tệ hóa số nợ công ở châu Âu đã gặp phải sự phản đối chính
trị, tư tưởng và tâm lý không chỉ của ECB mà của cả các nước phát triển mạnh khác như Đức, Pháp.
Thứ tư, trong số những giải pháp khắc phục khủng hoảng nợ công, thì 2 biện pháp được xem là
cơ bản nhất đó là chính sách “thắt lưng buộc bụng” và chiến lược mua trái phiếu của những quốc gia
mắc nợ của ECB để giúp họ tái thiết nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và
bản thân nền kinh tế châu Âu đang hết sức khó khăn do suy thoái thì biện pháp “thắt lưng buộc
bụng” lại càng đẩy nền kinh tế vào khó khăn lớn hơn và có thể tiếp tục lún sâu vào suy thoái. Điều
này cũng đồng nghĩa với sản xuất đình đốn, thất nghiệp gia tăng…
Thứ năm, chia rẽ trong nội bộ khu vực châu Âu ngày càng tăng. Càng bị khủng khoảng, châu Âu
và Eurozone càng bị “chia rẽ” khi nhiều quốc gia có nền kinh tế ổn định lại phải chung tay gánh vác
các quốc gia gặp khủng khoảng. Mọi giải pháp đều liên quan và phải có sự đồng thuận của các nước
thành viên nhưng thực tế không phải lúc nào sự đồng thuận cũng ở mức cao nhất. Liên minh châu
Âu hay khu vực Eurozone không phải là quốc gia thống nhất nên không có cơ chế kiểm soát và can
thiệp thống nhất để tránh khủng hoảng. Không như hệ thống ngân hàng tại Mỹ và Nhật Bản (nơi
doanh nghiệp chủ động tìm vốn trên thị trường chứng khoán), hệ thống ngân hàng châu Âu giữ vị trí
trọng yếu trong việc tài trợ doanh nghiệp. Các doanh nghiệp châu Âu trông cậy vốn vào ngân hàng.
Khi ngân hàng thiếu vốn thì doanh nghiệp châu Âu cũng gặp khó khăn. Tuy nhiên, giải pháp nâng
vốn ngân hàng để tăng thêm khả năng trả nợ và để trấn an thị trường cũng chưa hoàn toàn thuyết
phục được giới ngân hàng và các chuyên gia tài chính. Giải pháp này chỉ tạo thêm hoảng loạn trên
thị trường thay vì trấn an dư luận và các nhà đầu tư. Trên thực tế, nhiều ngân hàng châu Âu không
thiếu vốn để phải huy động thêm vốn. Các cơ quan tài chính chỉ tạm đóng van tín dụng để chờ Liên
minh châu Âu có giải pháp rõ ràng trong chính sách giải quyết khủng hoảng.
2.4 Phản ứng chính sách và kết quả đạt được
Nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng, các quốc gia châu Âu đã phải thực hiện hàng loạt những
chính sách thắt chặt ngân sách một cách hết sức khắc khổ nhằm chứng minh quyết tâm giảm thâm
12/3/2012, các bộ trưởng tài chính khu vực đồng euro (Eurozone) trong cùng ngày đã thông qua lần
cuối đối với gói cứu trợ thứ hai trị giá 130 tỷ euro (170 tỷ USD) cho nước này và hai ngày sau đã
quyết định giải ngân các khoản cho vay đầu tiên 39,4 tỷ euro.
Ngày 15/3/2012, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng thông qua khoản vay 28 tỷ euro cho Hy Lạp
như một phần của gói cứu trợ và sẽ giải ngân ngay lập tức 1,65 tỷ euro. Sự phê chuẩn này của IMF
đã kết thúc nhiều tháng lo âu của Hy Lạp, khi đất nước cận kề nguy cơ phá sản, với nghĩa vụ thanh
toán 14,5 tỷ euro vào ngày 20/3. Hi Lạp thoát ra khỏi nguy cơ vỡ nợ.
Ngày 21/3/2012 các Bộ trưởng Tài chính châu Âu đã đạt được sự đồng thuận về các phương thức
của ESM - Cơ chế ổn định châu Âu, một dạng quỹ cứu trợ tài chính thường trực với số vốn cơ bản
lên tới 700 tỷ Euro nhằm tránh tái diễn các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai. Quỹ cứu trợ
dài hạn EMS đã bắt đầu đi vào hoạt động (10/2012). Theo giới lãnh đạo tài chính Eurozone, EMS là
một phần của kế hoạch tổng thể nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động tài chính ở Eurozone và hỗ trợ
các nước thành viên gặp khó khăn tài chính.
Về phía Đức, chỉ số lòng tin của các nhà đầu tư đang làm gia tăng hy vọng kinh tế Đức sẽ trụ
vững trong năm tới. Thêm vào đó, Italy đã thành công lớn trên thị trường trái phiếu, khi đã phát
hành được 6 tỷ euro (7,8 tỷ USD) trái phiếu với lãi suất đã giảm. Điều này cho thấy các nhà đầu tư
đang trở nên tin tưởng hơn vào kinh tế Italy và hơn thế, đây là dấu hiệu cho thấy cuộc khủng hoảng
nợ ở Eurozone đang dịu bớt phần nào. Như vậy, với những giải pháp hầu hết các nước từng dẫn đầu
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 15
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
trong khủng hoảng nợ công Châu Âu đều đã có những dấu hiệu tích cực, cho thấy cuộc khủng hoảng
này hiện đang dịu bớt phần nào và mang lại hy vọng.
2.5 Tương lai nợ công của EU
Trong dự báo kinh tế công bố cuối tháng 2/2013, Ủy ban châu Âu (EC) đã đưa ra phân tích, cảnh
báo Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đang đối mặt với nguy cơ suy thoái kéo dài trong
suốt cả năm 2013. Theo đó, sản lượng kinh tế của 17 nước thành viên Eurozone trong năm nay sẽ
giảm 0,3%, sau khi đã giảm 0,6% trong năm 2012. Trong toàn bộ 27 nước thành viên EU chỉ có Ba
Lan và Anh sẽ đạt mức tăng trưởng 0,1% trong năm nay và 1,6% vào năm 2014. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc khu vực đang chìm ngập trong nợ công này sẽ có thêm hàng triệu người nữa bị
mất việc làm và tỷ lệ thất nghiệp sẽ lập kỷ lục (12,2%) vào cuối năm nay.
3.1 Tình hình nợ công Việt Nam
3.1.1 Quy mô nợ công
Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD,
tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến
hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam
được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001
đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm (Biểu
đồ 1). Nếu tiếp tục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt
Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần
đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%). Nợ công đạt trên 100% GDP là một con số không nhỏ đối
với một nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông
nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam.
3.1.2 Tình hình sử dụng nợ công
Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyển tải vào các dự án
đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên,
tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao, thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, tình trạng dự án, công trình thi công dở dang, chuyển tiếp, kéo dài, chậm tiến độ vẫn
chậm được khắc phục. Điều này cùng với sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt
động của các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các tập đoàn lớn, dẫn đến đầu tư dàn trải, lãng phí,
thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư.
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 17
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
Thứ hai, hiệu quả đầu tư thấp, thể hiện qua chỉ số ICOR (Biểu đồ 2): Năm 2009, trong khi tổng
mức đầu tư toàn xã hội lên tới 42,2% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2%. Chỉ số ICOR
năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008. Điều này có nghĩa là, nếu năm
2001 Việt Nam cần 5,24 đồng vốn để tạo ra được 1 đồng sản lượng, thì giờ đây cần phải đầu tư
thêm gần 3 đồng vốn nữa.
2.1.3 Tình hình trả nợ công
Từ năm 2006 đến nay, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định và hầu như không có
sự gia tăng đáng kể về giá trị, trung bình hàng năm Việt Nam dành ra trên 3,5% GDP để chi trả nợ
tiềm năng của các doanh nghiệp nước ngoài trong thời gian tới, vì vậy các doanh nghiệp trong nước
sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa. Về mặt tài chính, doanh
nghiệp nước ngoài trước hết được ưu đãi về thuế khi mới thành lập ở Việt Nam, ngoài ra, họ còn
được vay nợ để đầu tư vào Việt Nam với mức lãi suất thấp trên thị trường tài chính ở nước sở tại;
trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu mức lãi suất ngân hàng rất cao nên gặp thách thức
rất lớn trong việc cạnh tranh về giá thành hàng hóa. Hơn nữa, các doanh nghiệp nước ngoài có vốn
hiểu biết, năng lực và thương hiệu vượt xa các doanh nghiệp trong nước. Chênh lệch này khiến các
doanh nghiệp Việt Nam bị lép vế trên chính thị trường nước mình.
3.2.3. Vốn đầu tư nước ngoài suy giảm
Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn
FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với các nước
thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi nhà
đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu
Âu.Ngược lại, các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn không được hưởng
lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênh lệch quá lớn về trình độ công
nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào các quốc gia này giảm sút do cuộc khủng
hoảng nợ.
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 19
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
Mặt khác, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu cùng với chính sách tài khóa
thắt chặt sẽ gây khó khăn cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việt Nam hiện
đang được đánh giá là nhóm các quốc gia đang phát triển mới nổi (cùng với Indonesia và Nam Phi)
và chỉ đứng sau Ấn Độ, Trung Quốc, Braxin và Nga. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng Thế
giới (World Bank) thì hiện chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam đang sụt giảm (xếp thứ 98
trên 183 nền kinh tế, giảm 8 bậc so với năm 2010) thể hiện sự suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư
nước ngoài vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Sự sụt giảm này một phần là do Việt Nam
chịu những tác động từ thị trường quốc tế qua sự bất ổn của nền kinh tế Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ
công châu Âu.
Ngoài ra, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu cũng khiến các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm
hơn đến vấn đề nợ công của các quốc gia đang phát triền trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Năm
động giám sát nợ công, cần quy định rõ các cơ quan có thẩm quyền giám sát, nội dung và
phương thức giám sát nhằm đảm bảo cho hoạt động giám sát diễn ra hiệu quả.
Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nợ công, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả
hoạt động của các cơ quan quản lý nợ công
- Chuyên nghiệp hoá, hiện đại hoá bộ máy tổ chức, hoàn thiện quy chế hoạt động. Nâng cao
năng lực quản lý nợ thông qua hình thức đào tạo mới và đào tạo lại cán bộ quản lý nợ có đủ
đức, đủ tài. Lực lượng cán bộ quản lý nợ của hầu hết các cơ quan có liên quan còn mỏng và
kiến thức quản lý còn nhiều điểm yếu dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao, đặc biệt ở các địa
phương. Do vậy, cần tăng cường tổ chức các hội thảo, tọa đàm, mở các lớp đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ cán bộ làm công tác quản lý nợ nước ngoài một cách đồng bộ, đáp ứng yêu
cầu thực tế như các kỹ năng giám sát số liệu và phân tích nợ, quản lý hành chính, nâng cao
hiểu biết về pháp luật, ứng dụng công nghệ tin học, sử dụng ngoại ngữ thành thạo. Ngoài ra,
Chính phủ nên tạo điều kiện cho cán bộ đi khảo sát, thực tập nghiệp vụ để tiếp thu kinh
nghiệm tại các nước có nhiều thành công trong công tác quản lý nợ nước ngoài.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cán bộ quản lý. Cần có một chế tài nghiêm khắc với
những cán bộ quản lý nợ công khi họ mắc những sai phạm. Tổ chức kiểm điểm và xử lý
nghiêm túc các sai phạm của tập thể và cá nhân có liên quan.
3.3.2 Đổi mới đầu tư công hướng tới mục tiêu bền vững tài khóa
Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay
- Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng và hiệu quả sử dụng nợ công, trên cơ sở kiểm soát thâm hụt
ngân sách hợp lý và có chiến lược cụ thể về huy động và sử dụng hiệu quả. Tiếp tục nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Huy động, sử dụng vốn vay đáp ứng các mục tiêu và nguyên
tắc quản lý nợ; Vay cho ngân sách phải kiểm soát chặt chẽ đảm bảo bù đắp bội chi ngân sách
Nhà nước không quá 5% GDP; Rà soát danh mục dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ,
vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh; Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đấu thầu;
Tăng cường theo dõi, giám sát và dự báo thị trường. Tránh việc vay nợ quá nhiều, đầu tư
công quá lớn và quá dàn trải. Do vậy, đối với các dự án đầu tư dài hạn bằng vốn vay ODA ở
Việt Nam cần được giám sát chặt chẽ về điều kiện vay nợ, hiệu quả đầu tư, khả năng trả nợ.
Thay đổi cơ cấu nợ công
- Có phương án huy động nguồn lực trong nước mà không phải tìm đến các nguồn nước ngoài.
và dài hạn, tăng cường tính tiên đoán, chủ động, tính hệ thống trong phân bổ nguồn lực.
- Sửa đổi các quy chế về phân cấp đầu tư, quy định rõ về quyền quyết định đầu tư của từng
cấp gắn với quyền phân bổ nguồn lực và cân đối vốn. Thực hiện bảo đảm nguyên tắc chỉ
quyết định đầu tư khi dự án có đủ thủ tục theo quy định, xác định rõ nguồn vốn và khả năng
cân đối nguồn vốn ở từng cấp ngân sách. Nghiên cứu hình thành cơ chế mở cho tất cả các địa
phương trong thu hút các nguồn lực cho phát triển phù hợp với quy hoạch, năng lực cũng
như đặc điểm của từng địa phương cùng với việc hoàn thiện các các cơ chế giám sát, bảo
đảm sự phù hợp trong định hướng phát triển của địa phương với định hướng phát triển của
từng vùng, miền.
- Thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện tái cấu trúc các tập đoàn, tổng công
ty nhà nước, định vị lại vai trò của khu vực này trong nền kinh tế, xác định rõ vai trò chủ sở
hữu của nhà nước, lành mạnh hóa năng lực tài chính của các DNNN, qua đó góp phần lành
mạnh hóa năng lực tài chính của nhà nước. Thực hiện đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, giảm
bớt số lượng doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối trên cơ sở thực hiện
rà soát lại ngành, nghề kinh doanh. Kiên quyết khắc phục tình trạng các DNNN đầu tư ra các
ngành mà không phải ngành nghề chính.
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 22
NỢ CÔNG CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GVHD: TS TRẦN BÍCH DUNG
3.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công, bảo đảm an toàn nợ công
Thiết lập ngưỡng an toàn nợ công, duy trì giới hạn nợ ở mức an toàn, đảm bảo an
ninh tài chính quốc gia
- Đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công, có khả năng thanh
toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Muốn vậy, cần thiết lập
ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các khoản
vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà nước, tổng kim ngạch xuất
khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ…
- Bảo đảm kỷ luật tài khóa, an ninh, an toàn tài chính. Từng bước giảm dần mức bội chi
NSNN theo lộ trình xác định trước với các bước đi thích hợp, bảo đảm cân đối giữa mục tiêu
bảo đảm tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững nhưng vẫn lành
mạnh hóa được tình hình tài khóa. Trong điều hành ngân sách hàng năm cần ưu tiên sử dụng
- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công, duy trì các chỉ số nợ công trong giới hạn an
toàn. Cụ thể là xây dựng và thực hiện Chiến lược quản lý nợ, trong đó nêu rõ mục đích, công
cụ và phạm vi hoạt động cũng như các quan điểm dài hạn trong quản lý nợ. Đồng thời, kiểm
tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện Chiến lược, chấp hành các chính sách quản lý nợ, bao
gồm cả việc xây dựng các hạn mức về nợ và giám sát việc tuân thủ các hạn mức đã đặt ra.
Chú trọng công tác quản lý rủi ro đối với danh mục nợ, bao gồm rủi ro về đồng tiền vay, lãi
suất, tỷ giá, khả năng thanh toán và hoạt động. Tiến hành phân tích bền vững nợ để hình
thành các đối sách phù hợp. Đa dạng hóa các công cụ quản lý nợ trong nước thông qua việc
tiếp tục phát triển thị trường thứ cấp nhằm, tăng cường khả năng tự quản lý rủi ro thông qua
các nghiệp vụ phái sinh. Xác định phạm vi quản lý và cách thức ứng xử rõ ràng đối với các
khoản nghĩa vụ nợ công dự phòng cũng như giám sát được các khoản nợ tự vay tự trả của
khu vực tư nhân và các khoản nợ ngắn hạn. Đổi mới tổ chức quản lý nợ theo hướng hiện đại
và từng bước củng cố và phát huy vai trò cơ quan quản lý nợ để thống nhất quản lý nợ trong
nước và ngoài nước.
Thu hút, đa dạng hóa nguồn lực trong xã hội
- Thu hút có hiệu quả, đa dạng hóa các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển hạ tầng
kinh tế - xã hội để từng bước giảm dần sự phụ thuộc vào đầu tư công. Đẩy mạnh việc thực
hiện cơ chế hợp tác Nhà nước và tư nhân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua các dự án
PPP. Tạo hành lang pháp lý đẩy mạnh mô hình quỹ đầu tư phát triển địa phương để góp phần
huy động và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội địa phương. Đẩy mạnh việc
thực hiện chính sách xã hội hóa đầu tư trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể
thao để một mặt tăng thêm nguồn vốn đầu tư, mặt khác cũng tăng tính cạnh tranh trong cung
cấp sản phẩm dịch vụ, tạo cơ hội cho người dân được tiếp cận với một chất lượng của dịch
vụ ngày càng cao.
Minh bạch, công khai việc sử dụng nguồn lực công
- Cải thiện tính minh bạch, công khai và nâng cao trách nhiệm giải trình trong việc sử dụng
nguồn lực công. Mở rộng hình thức và nội dung công khai; tăng cường trách nhiệm giải
trình, khắc phục được tình trạng công khai còn mang tính hình thức như hiện nay. Tạo điều
kiện cho người dân tiếp cận được với các thông tin về nguyên tắc, mục tiêu và định hướng
của chính sách tài khóa, về số liệu liên quan đến NSNN để mở rộng và nâng cao sự phản
có thể xảy ra đe dọa tính bền vững của nợ công và ngân sách nhà nước.
-
NHÓM 3 – LỚP ĐÊM 4 K 22 Trang 25