Khủng hoảng nợ công Châu Âu và bài học cho Việt Nam - Pdf 13

Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam
Phần I: Khái quát lý thuyết
1. Nợ công theo các quan điểm
WB IMF Việt Nam
Nợ của Chính phủ:
- Nợ của Chính phủ trung
ương và các Bộ, ban, ngành
trung ương
- Nợ của các cấp chính
quyền địa phương
- Nợ của Ngân hàng trung
ương
Nợ của các DN Nhà nước
Nợ của khu vực tài chính
công:
- Tổ chức tiền tệ (NHTW,
các tổ chức tín dụng nhà
Nước)
- Tổ chức phi tiền tệ (hỗ trợ
phát triển)
- Nợ của Chính phủ: Các
khoản nợ được ký kết, phát
hành nhân danh Nhà nước
hoặc Chính phủ, Bộ Tài
chính. Không bao gồm các
khoản nợ do NHTW phát
hành nhằm bảo đảm mục
tiêu chính sách tiền tệ từng
thời kỳ.
- Nợ chính quyền địa
phương: các khoản nợ do

Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, đảm bảo an sinh xã hội.
Thứ hai, góp phần tài trợ thâm hụt NSNN.
Thứ ba, góp phần tạo ra công cụ để điều hành chính sách tiền tệ và điều tiết thị
trường tài chính.
Thứ tư, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công:
Thâm hụt ngân sách: nguồn gốc của nợ công
Lãi suất thực tế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Tỷ giá thực tế.
5. Các hình thức nợ công
Vay nợ trong nước của chính phủ: bằng việc phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu
CP, trái phiếu chính phủ được bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, công trái.
Vay nợ nước ngoài:
- Viện trợ phát triển chính thức (ODA): viện trợ song phương và đa phương, viện
trợ không hoàn lại.
- Vay thương mại.
- Vay ưu đãi.
6. An toàn nợ công:
Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn nợ công:
- Nợ công quá mức có thể tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng kinh tế và ổn định
môi trường kinh tế vĩ mô.
- Nợ công quá mức tạo áp lực lên lạm phát.
- Nợ công tác động tiêu cực đến tỷ giá và thâm hụt thương mại.
- Nợ công quá lớn tiềm ẩn gây ra cuộc khủng hoảng nợ.
- Tăng gánh nặng nợ công cho thế hệ tương lai.
Một số chỉ tiêu an toàn nợ công:
Chỉ tiêu Quy định của TTCP Khuyến cáo của WB
1. Nợ công/GDP Chưa có <60%
Nợ chính phủ/GDP <50%

Sau cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 tạm lắng, tài chính thế giới tiếp tục
nhức nhối với khủng hoảng nợ tại châu Âu và sự mất giá mạnh của đồng Euro. Một vài số
liệu báo cáo đầu năm 2010 của Eurostat về tình hình kinh tế - tài chính của các nước EU:
Ước tính thâm hụt ngân sách của các quốc gia trong liên minh châu Âu năm 2009
Ước tính nợ công trên GDP của các quốc gia trong Liên minh châu Âu năm 2009
Tăng trưởng kinh tế châu Âu quý I/2010
Theo các tiêu chuẩn của EU, tỷ lệ nợ công tối đa đối với một quốc gia thành viên
của khối sử dụng đồng Euro là 60% GDP trong khi thâm hụt ngân sách hàng năm không
được vượt quá 3%. Tuy nhiên, trên thực tế, tại thời điểm đầu năm 2010, chỉ có 3 trong số
16 quốc gia thuộc khu vực đồng tiền chung đáp ứng đầy đủ những tiêu chí này là Phần
Lan, Luxembourg và Slovakia. Chính sự vượt rào “tập thể” này là một nguyên nhân quan
trọng khiến châu Âu tiềm ẩn khả năng rơi vào khủng hoảng nợ công. Trong đó tình hình
tài chính của chính phủ Hy Lạp là nguy hiểm nhất.
Hy Lạp được đặt vào tình trạng khủng hoảng nợ công kể từ cuối năm 2009, khi
Chính phủ mới của nước này thừa nhận rằng Chính phủ tiền nhiệm đã công bố những số
liệu kinh tế không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách. Thực tế thâm hụt ngân
sách của nước này năm 2009 được dự báo là 13,6% chứ không phải là 6,7% GDP như đã
từng được báo cáo, cao hơn nhiều hạn mức thâm hụt ngân sách 3% GDP cho phép đối với
các nước thành viên EU. Nợ công của nhà nước đã tới ngưỡng gần 300 tỷ Euro, tương
đương 125% GDP, chiếm khoảng 4% tổng nợ của khu vực đồng tiền chung. Với mức vay
nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với khoản nợ đến hạn thanh toán 8,5 tỷ Euro trái phiếu
chính phủ vào ngày 19/5/2010. Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó,
số nợ phải trả năm 2010 là 16% tổng nợ.
Tháng 5/2010, các nhà lãnh đạo Eurozone và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố
gói cứu trợ kỳ hạn 3 năm trị giá 110 tỷ EUR dành cho Hy Lạp. Sau đó, vào tháng 10/2010
IMF cho Hy Lạp vay thêm 2,5 tỷ EUR (3,3 tỷ USD), nâng tổng giá trị các khoản vay
khẩn cấp mà IMF dành để ngăn chặn khả năng vỡ nợ của nước này lên 10,58 tỷ EUR
(tương đương 13,98 tỷ USD). Từ tháng 5/2010 và 6/2011, Ngân hàng Trung ương Châu
Âu đã mua khoảng 45 tỷ EUR trái phiếu chính phủ Hy Lạp. Ngoài ra, các khoản hỗ trợ
thanh khoản mà ECB dành cho các ngân hàng Hy Lạp đã tăng từ mức 47 tỷ EUR vào

4
185.265,60 4,4 98,6 -7,4
200
5
193.049,70 2,3 100 -5,6
200
6
208.621,80 5,5 106,1 -6
200
7
223.160,10 3,5 107,4 -6,8
200
8
233.197,70 -0,2 112,9 -9,9
200
9
231.081,20 -3,1 129,7 -15,6
201
0
222.151,50 -4,9 148,3 -10,9
2011 208.531,70 -7,1 170,3 -9,6
201
2
193.347,00 -7 157,2 -8,9
201
3
182.054,20 -3,9 175,1 -12,7
Bảng 1: Số liệu GDP theo giá hiện hành (triệu Euro), tốc độ tăng trưởng (%), tỷ lệ nợ công/GDP
(%), thâm hụt ngân sách (%) từ 2004-2013 của Hy Lạp (theo thống kê của Eurostat – số liệu
2014)

6 177.573,5 5,5 24,6 2,9
200
7 189.654,7 5 24,9 0,2
200
8 180.249,5 -2,2 44,2 -7,4
200
9 162.283,5 -6,4 64,4 -13,7
201
0 158.096,7 -1,1 91,2 -30,6
2011 162.599,7 2,2 104,1 -13,1
201
2 163.938,7 0,2 117,4 -8,2
201
3 164.049,8 0,3 123,7 -7,2
Bảng 2: Số liệu GDP theo giá hiện hành (triệu Euro), tốc độ tăng trưởng (%), tỷ lệ nợ công/GDP
(%), thâm hụt ngân sách (%) từ 2004-2013 của Ireland (theo thống kê của Eurostat – số liệu 2014)
Chính phủ Ireland đã phải cần đến sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Sau nhiều
vòng đàm phán, ngày 28-11-2010, Ireland đã nhận được gói hỗ trợ tài chính của “bộ ba”
(gồm Liên hiệp châu Âu – EU, Ngân hàng Trung ương châu Âu - ECB, Quỹ tiền tệ quốc
tế - IMF) lên tới 85 tỷ euro (117 tỷ USD), trong đó 35 tỷ euro được dành cho khu vực
ngân hàng.
Tiếp sau Hy Lạp và Ireland, đến lượt Bồ Đào Nha lâm vào khủng hoảng. Bồ Đào
Nha là nền kinh tế có sức cạnh tranh yếu nhất trong Eurozone. Tăng trưởng của Bồ Đào
Nha chỉ đạt mức trung bình 1,3% trong giai đoạn 2000 - 2008 (so với mức 4 - 5% của Hy
Lạp và Ireland) nhưng lại phải chi trả phúc lợi cho người dân tương đương với mức của
các nước châu Âu giàu có, tăng trưởng cao. Năm 2011, tổng nợ của Bồ Đào Nha tương
đương 170% GDP (bao gồm cả nợ tư nhân), cao hơn cả Hy Lạp, gây áp lực lên hệ thống
ngân hàng. Bên cạnh đó, bất ổn chính trị lại xảy ra khi ngày 24-3-2011, Chính phủ Bồ
Đào Nha sụp đổ khi Thủ tướng Jose Socrates quyết định từ chức ngay sau khi kế hoạch
“thắt lưng buộc bụng” mới của ông bị Quốc hội bác bỏ. Năm ngoái, ông Socrates đã

200
7 169.319,2 2,4 68,4 -3,1
200
8 171.983,1 0 71,7 -3,6
200
9 168.529,2 -2,9 83,7 -10,2
201
0 172.859,5 1,9 94 -9,8
2011 171.126,2 -1,3 108,2 -4,3
201
2 165.107,4 -3,2 124,1 -6,4
201
3 165.666,3 -1,4 129 -4,9
Bảng 3: Số liệu GDP theo giá hiện hành (triệu Euro), tốc độ tăng trưởng (%), tỷ lệ nợ công/GDP
(%), thâm hụt ngân sách (%) từ 2004-2013 của Bồ Đào Nha (theo thống kê của Eurostat – số liệu
2014)
Quy mô nợ công của các nước châu Âu cuối năm 2011 (Nguồn Eurostat, Moody’s)
Không chỉ có các quốc gia có nền kinh tế nhỏ và vừa rơi vào vòng xoáy của khủng
hoảng nợ, Tây Ban Nhau và Italy, những nền kinh tế lớn của khu vực Eurozone cũng là
những quốc gia tiếp theo có nguy cơ rơi vào khủng hoảng nợ.
Tây Ban Nha – nền kinh tế lớn thứ 4 châu Âu bắt đầu có những dấu hiệu khủng
hoảng khi thâm hụt ngân sách nước ngày liên tục tăng từ năm 2008 đến nay. Cũng như
Ireland, khủng hoảng tài chính 2008 đã tác động mạnh đến hệ thống ngân hàng của nước
này. Ngành ngân hàng Tây Ban Nha chịu thua lỗ nặng do các khoản cho vay mua nhà đất
khi “bong bóng BĐS” bùng vỡ. Theo ước tính của Chính phủ Tây Ban Nha, số tiền dành
đầu tư cho các thành phố “ma” có giá trị lên tới 175 tỷ Euro và tháng 7 đến tháng 9 năm
2012, gần 30% doanh nghiệp phá sản thuộc ngành xây dựng. Nợ xấu của hệ thống ngân
hàng Tây Ban Nha theo đó đến tháng 9 năm 2012 đã lên đến 182,3 tỷ Euro, tương đương
10,7% dư nợ. Để cứu cánh cho giới ngân hàng, Chính phủ đã ra tay giải cứu các ngân
hàng có vấn đề trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.Việc Chính phủ ra tay cứu trợ

200
9 1.046.894,0 -3,8 54 -11,1
201
0 1.045.620,0 -0,2 61,7 -9,6
2011 1.046.327,0 0,1 70,5 -9,6
201
2 1.029.002,0 -1,6 86 -10,6
201
3 1.022.988,0 -1,2 93,9 -7,1
Bảng 4: Số liệu GDP theo giá hiện hành (triệu Euro), tốc độ tăng trưởng (%), tỷ lệ nợ công/GDP
(%), thâm hụt ngân sách (%) từ 2004-2013 của Tây Ban Nha (theo thống kê của Eurostat – số
liệu 2014)
Italy – nền kinh tế lớn thứ 3 châu Âu cũng đang đắm chìm trong tình trạng nợ nần
từ nhiều năm nay. Khoản nợ mà nền kinh tế Italy phải gánh chịu là khoảng 1900 nghìn tỷ
(năm 2011). Trung bình hàng năm Italy phải trả 75 tỉ euro tiền lãi cho các chủ nợ, và phải
đi vay tín dụng với mức lãi suất rất cao, với mức vốn vay 10 năm, lãi suất lên tới 6,18%
(năm 2011). Bên cạnh những bất ổn về kinh tế, tình hình chính trị Italy cũng đang rơi vào
khủng hoảng khi chính trường Italy thay đổi đến 3 thủ tướng chỉ trong năm 2011. Chính
phủ Italy cũng buộc phải áp dụng các biện pháp thắt chặt chi tiêu, tăng thuế nhằm giảm
thâm hụt ngân sách.
Italy
Năm
GDP giá
thực tế
Tốc độ
tăng
trưởng
GDP
Nợ công/GDP
Thâm

kinh tế Ireland đang từng bước phục hồi và tăng trưởng dương năm thứ 3 liên tiếp, tuy
chỉ khoảng 0,3% năm 2013 nhưng cũng là tín hiệu tích cực.
Bên cạnh các tín hiệu tích cực từ Ireland, nền kinh tế châu Âu nói chung vẫn đang
phải chịu những thiệt hại do các chính sách cắt giảm chi tiêu công gây ra, tỷ lệ thất
nghiệp vẫn ở mức cao (năm 2013 trong khu vực Eurozone là 12%, riêng Hy Lạp là
27,3% và Tây Ban Nha là 26,1%), chính sách kinh tế khắc khổ cũng chính là thủ phạm
chính tạo ra làn sóng phẫn nộ và làm khuynh đảo chính trường nhiều nước đang vay nợ
trong Eurozone hiện nay. Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Italy, Tây Ban Nha vẫn tiếp tục chìm
trong suy thoái. Nợ công của Hy Lạp đã vượt lên mức 175,1% GDP trong năm 2013 với
thâm hụt ngân sách 12,7% GDP mặc dù trước đó 2 năm, Chính phủ Hy Lạp đã hy vọng
cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 4,9% vào năm 2013. Italy mặc dù đã cắt giảm
được thâm hụt ngân sách về mức 3% nhưng mức nợ công đã lên một tầm cao mới với
132,9%. Đứng thứ 3 trong khu vực Eurozone về nợ công là Bồ Đào Nha cũng có những
thành công khi cắt giảm thâm hụt ngân sách, tuy nhiên nợ công vẫn tăng cao đến 129%
và những bất ổn chính trị ở nước này xoay quanh vấn đề tiếp tục các chính sách thắt lưng
buộc bụng để nhận cứu trợ vẫn tiềm ẩn khả năng đẩy Bồ Đào Nha rơi vào vòng xoáy luẩn
quẩn của khủng hoảng tài chính - chính trị - nợ công. Tây Ban Nha cũng có một số thành
công với chính sách thắt lưng buộc bụng khi cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn
7,1% trong năm 2013, nhưng khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở nước này tăng lên rất cao, đặc
biệt là giới trẻ đã làm cho người dân hết sức bất mãn.
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng của một số nước châu Âu
Biểu đồ 2: Thâm hụt ngân sách của một số nước châu Âu
Biểu đồ 3: Nợ công của một số nước châu Âu
Điểm sáng hiếm hoi trong bức tranh kinh tế châu Âu, chính là hai quốc gia đầu tàu
là Đức và Pháp, mặc dù mức nợ công cũng vượt ngưỡng tiêu chuẩn châu Âu nhưng nền
kinh tế của Đức và Pháp vẫn duy trì tăng trưởng dương trong 4 năm qua, đồng thời cũng
giảm dần mức thâm hụt ngân sách xuống ngưỡng an toàn. Tuy nhiên nội bộ châu Âu vẫn
đang chia rẽ và tiềm ẩn nhiều bất đồng giữa các quốc gia xoay quanh vấn đề vay nợ và
các biện pháp thắt chặt chi tiêu công.
3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu:

ngân sách và nợ công, sự vượt rào tập thể đối với các tiêu chuẩn châu Âu về thâm hụt
ngân sách và mức trần nợ công. Ngoài ra, một số quốc gia có sự quản lý yếu kém, báo
cáo không trung thực về tình hình tài chính công của nước mình, gây mất lòng tin của các
nhà đầu tư.
- Sự hạn chế trong cơ chế phối hợp điều hành trong khu vực sử dụng đồng tiền
chung (Eurozone), nhất là giữa tiền tệ và tài khóa. Liên minh Châu Âu gồm nhiều quốc
gia có trình độ phát triển kinh tế và quản lý khác nhau, nhưng các quốc gia trong khu vực
lại chủ yếu hợp tác trong các chính sách tiền tệ, nhằm bảo đảm duy trì giá trị đồng Euro,
trong khi các chính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài hòa tương
ứng. Bên cạnh đó, mặc dù đã có những quy định cụ thể về mức thâm hụt ngân sách cũng
như nợ công, nhưng lại không có một cơ chế giám sát và quản lý hiệu quả đối với từng
quốc gia thành viên. Chính vì vậy, sự kiện khủng hoảng nợ tại một quốc gia là Hy Lạp đã
kéo theo khủng hoảng niềm tin lan sang các quốc gia có chính sách tài khóa lỏng lẻo
khác.
- Một nguyên nhân khác khiến cuộc khủng hoảng lan rộng và có nguy cơ trầm
trọng hơn chính là việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực.
Hầu hết các quốc gia đều cố gắng thực hiện những chính sách của riêng mình và khi
không thể giải cứu được nền kinh tế mới nhờ đến sự viện trợ của EU và IMF, mà không
hề có những cảnh báo sớm với một chiến lược xử lý về dài hạn được đưa ra.
Bên cạnh những nguyên nhân xuất phát từ nội tại của khu vực này, còn có sự tác
động từ các tổ chức đánh giá tín dụng, các quỹ đầu cơ… làm trầm trọng hóa tình hình
khủng hoảng nợ công tại châu Âu, tuy nhiên trong nội dung bài tiểu luận, chúng ta không
đi sâu về vấn đề này.
Phần III: Bài học cho Việt Nam từ khủng hoảng nợ công châu Âu
1. Tình hình nợ công Việt Nam hiện nay:
Ở Việt Nam hiện nay, luật Quản lý nợ công được Quốc hội thông qua năm 2009 là
cơ sở pháp lý cho việc quản lý và tính toán nợ công. Cách tính nợ công của Việt Nam đã
được trình bày ở phần I.
Chỉ tiêu 2010 2011 2012
Nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân

Số liệu của 2003
200
4 2005
200
6 2007
200
8 2009
201
0
2
0
1
1
MoF (bao gồm chi
trả nợ gốc) -4,9 -4,9 -4,9 -5 -5,7 -4,6 -6,9 -5,5
-
4
,
4
MoF (không bao
gồm chi trả nợ
gốc) -1,8 -1,1 -0,9 -0,9 -1,8 -1,8 -3,7 -2,4
-
2
,
1
IMF -4,8 -1,2 -3,3 -0,2 -2,5 -0,5 -7,2 -5,3
-
2
,

hiện hiệu quả hơn, qua đó giảm áp lực đối với nợ công.
2.2. Quản lý chi tiêu công và đầu tư công có hiệu quả để cắt giảm thâm hụt ngân
sách
Hiện nay, hoạt động chi tiêu công và đầu tư công của Việt Nam bị xem dàn trải,
lãng phí, kém hiệu quả. Trong khi chi tiêu công đang chịu gánh nặng bởi hệ thống hành
chính nặng nề thì số các đầu tư công kém hiệu quả, nạn tham nhũng, các dự án chậm tiến
độ làm tăng gánh nặng ngân sách cũng cũng là một vấn đề bức thiết. Siết chặt kỷ luật đầu
tư công và chi tiêu công sẽ làm giảm quy mô chi ngân sách cần thiết để đạt các mục tiêu
phát triển, qua đó giúp thâm hụt ngân sách và nợ công trở nên bền vững hơn. Nếu không
kiểm soát, ngay cả các nước phát triển ở khu vực đồng Euro còn rơi vào khủng hoảng, kể
cả khi được cứu trợ dưới nhiều hình thức. Trong điều kiện của Việt Nam, các biện pháp
cứu trợ như vậy sẽ không có nhiều và định hướng tốt là phải đề ra các biện pháp kiểm
soát chi ngân sách có hiệu quả thay vì tiếp tục duy trì cung cách chi tiêu công và đầu tư
công như hiện nay. Việc quản lý tốt hoạt động tài chính công sẽ làm tăng hiệu quả sử
dụng của đồng vốn ngân sách, từ đó mà vấn đề thâm hụt ngân sách cũng dần được cải
thiện.
2.3. Quản lý nợ công, thâm hụt ngân sách dựa theo theo tiêu chuẩn quốc tế
Như đã trình bày ở phần I, cách tính nợ công của Việt Nam vẫn còn hẹp hơn so
với quốc tế, đặc biệt là các khoản nợ của DNNN. Với một quốc gia có khu vực DNNN
lớn như của Việt Nam, nhưng hoạt động của khối này lại chưa thực sự hiệu quả thì khoản
nợ của khối DNNN cũng là một nguy cơ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân sách Nhà nước.
Chỉ nói riêng trường hợp Vinashin cuối năm 2009 tổng số nợ đã là 86 ngàn tỉ đồng và khả
năng trả nợ là không có khi liên tiếp làm ăn thua lỗ, buộc Vinashin phải xin gia hạn nợ
trong năm 2010. Điều này khiến cho Việt Nam bị Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm
xuống còn BB- (ngày 26/12/2010), tín nhiệm quốc gia giảm nghĩa là việc huy động vốn
trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế của Việt Nam sẽ tốn kém hơn, các nhà đầu tư
đòi hỏi mức lãi suất cao hơn. Bên cạnh đó, các chủ nợ quốc tế còn gây áp lực buộc chính
phủ Việt Nam phải trả nợ thay Vinashin.
Ngoài ra, Việt Nam hiện có những cách hạch toán chưa theo thông lệ quốc tế.
Nhiều khoản chi ngân sách từ nguồn trái phiếu Chính phủ cho các dự án giáo dục, thủy

,
1
IMF -4,8 -1,2 -3,3 -0,2 -2,5 -0,5 -7,2 -5,3
-
2
,
5
ADB -2,2 0,2 -1,1 1,3 -1 0,7 -3,9 -4,5
-
2
,
5
Thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ 2003-2011
Việc xây dựng hệ thống tính toán nợ công, thâm hụt ngân sách và cách quản lý nợ
công còn kém hiệu quả, chưa sát với các tiêu chuẩn quốc tế nhưng chúng ta lại đang dựa
vào các tiêu chuẩn quốc tế để so sánh với các số liệu tính toán ở trong nước để tỏ ra lạc
quan là thiếu cơ sở và cần phải dũng cảm nhìn nhận những thực tế này. Do đó Nhà nước
cần có những thay đổi quan trọng trong vấn đề tính toán nợ công, thâm hụt ngân sách,
công khai minh bạch các số liệu về tình hình tài chính công để tạo điều kiện cho nhân dân
tham gia giám sát và góp ý việc sử dụng nguồn tài chính của đất nước.
2.4. Về quản lý kinh tế:
Đối với khu vực kinh tế nhà nước: như số liệu ở phần tình hình nợ công của Việt
Nam cho thấy tổng số nợ của khu vực này đã lên đến trên 50% GDP. Nếu không có biện
pháp quản lý, giám sát chặt chẽ các hoạt động kinh tế của khu vực này, khối nợ kia sẽ có
thể là quả bom hẹn giờ cho nền kinh tế. Các tập đoàn lớn của Việt Nam như Vinashin,
EVN nhiều năm liền thua lỗ và dù cho họ có bao biện như thế nào, việc được hưởng rất
nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi của Chính phủ nhưng vẫn kinh doanh thua lỗ đang thể
hiện sự thiếu trách nhiệm của các cấp quản lý từ Nhà nước cho đến các Doanh nghiệp.
Khả năng đe dọa nợ công của khu vực DNNN còn nằm ở chỗ khu vực này luôn nhận
được ngân sách “mềm” từ Chính phủ. Khi các DNNN lâm vào khó khăn, các khoản nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status