VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG VĂN AN
CHUYỂN GIÁ TRONG DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 62.31.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS.TS. Nguyễn Xuân Tháng
2. TS. Bùi Đại Dũng
HÀ NỘI – 2016
LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cám ơn GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng,
TS. Bùi Đại Dũng đã tận tình hướng dẫn khoa học, định hướng
và giúp đỡ em hoàn thành Luận án này.
Xin trân trọng cám ơn những tập thể và cá nhân đã giúp đỡ
về tài liệu nghiên cứu.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
3.2. Kinh nghiệm ứng phó với chuyển giá trong doanh nghiệp FDI của OECD và một số
nước phát triển ....................................................................................................................... 69
3.4. Một số bài học về kiểm soát chuyển giá rút ra từ kinh nghiệm các nước trên thế giới .. 89
Chương 4: CHUYỂN GIÁ TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM, GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI CHUYỂN GIÁ94
4.1. Thực trạng chuyển giá trong doanh nghiệp FDI ở Việt Nam ......................................... 94
4.2. Ứng phó với chuyển giá trong doanh nghiệp FDI ở Việt Nam: thực trạng và vấn đề đặt ra ... 123
4.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng ứng phó với chuyển giá trong doanh
nghiệp FDI ở Việt Nam ....................................................................................................... 133
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊN CỨU SINH ...................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 152
PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 166
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APA
Phương pháp thỏa thuận trước giá tính
thuế
Advance Pricing
Agreement
BOT
Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
Foreign Direct Investment
FTA
Hiệp định thương mại tự do
Free trade agreement
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Gross Domestic Products
MNCs
Tập đoàn đa quốc gia
Multinational Corporations
NSNN
Ngân sách nhà nước
OECD
RPM
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Oganization for Economic
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam
Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
VND
Việt Nam đồng
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG:
Bảng 2.1: Mô tả hoạt động giao dịch bình thường theo giá thị trường ..................... 30
Bảng 2.2: Mô tả hành vi chuyển giá thông qua việc nâng giá đầu vào, hạ giá đầu ra
khi giao dịch với bên liên kết .................................................................................... 30
Bảng 3.1: Giá nhập khẩu hàng hóa “siêu” đắt .......................................................... 64
Bảng 3.2: Giá xuất khẩu “siêu” rẻ ............................................................................. 65
Bảng 4.1: Các hình thức đầu tư FDI vào Việt Nam (tính đến 31/12/2015) .............. 96
Bảng 4.2: 12 nước đối tác có vốn đầu tư FDI vào Việt Nam nhiều nhất .................. 97
Bảng 4.3: Tỷ lệ ước tính doanh nghiệp chuyển giá theo lợi nhuận ........................ 101
Bảng 4.4: Ước tính tỉ lệ doanh nghiệp chuyển giá theo nước, khu vực .................. 102
Bảng 4.5: Tỉ lệ ước tính doanh nghiệp thực hiện chuyển giá theo ngành............... 103
Bảng 4.6: Thống kê một số trường hợp khai tăng giá trị tài sản góp vốn............... 105
Bảng 4.7: Cơ cấu chi phí của công ty TOWA ........................................................ 108
Bảng 4.8. Thống kê chi phí của Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam ........... 111
Bảng 4.9: So sánh doanh thu và chi phí của HL ..................................................... 115
nhiều vấn đề kinh tế phức tạp, trong đó có vấn đề chuyển giá nhằm trốn, tránh nghĩa
vụ thuế của nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việc chuyển giá
của các doanh nghiệp này có thể tạo ra hiện tượng “lỗ giả, lãi thật” (thực tế thường
xuyên có khoảng 50% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động
tại Việt Nam báo lỗ, trong đó có những doanh nghiệp như công ty TNHHMTV
Keangnam Vina, công ty Coca-Cola Việt Nam, Công ty Hualon Corporation… báo
lỗ nhiều năm liên tục, số lỗ lũy kế lên đến gần ngàn tỷ đồng/doanh nghiệp). Hệ quả
của hiện tượng trên làm cho Việt Nam thất thu một khoản lớn ngân sách đáng lẽ có
được từ nguồn thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài; làm nảy sinh cạnh tranh bất bình đẳng mà lợi thế thường nghiêng
về phía doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khiến doanh nghiệp “nội
1
địa” mất thị phần, thậm chí có những doanh nghiệp liên doanh bị thôn tính và trở
thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; môi trường đầu tư của Việt Nam bị phản
ánh sai lệch; một số vấn đề chính trị, xã hội nảy sinh… Những nghi án chuyển giá
ngày càng nhiều với quy mô trốn, tránh nghĩa vụ thuế lớn (tính riêng trong hai năm
2014, 2015 qua thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp có nguy cơ chuyển giá cao,
ngành thuế đã giảm lỗ trên 15.400 tỷ đồng, truy thu, truy hoàn và phạt hơn 2.600 tỷ
đồng), gây ra những bức xúc không nhỏ trong xã hội và tạo ra những nghi ngại có
cơ sở về hiệu quả đích thực của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
mà Việt Nam đang tiến hành.
Chuyển giá không phải là hiện tượng mới trong đời sống kinh tế thế giới. Bắt
nguồn từ cơ chế định giá chuyển giao nội bộ trong một doanh nghiệp, chuyển giá từ
lâu đã được các tập đoàn đa quốc gia sử dụng rộng rãi trong các giao dịch xuyên
quốc gia giữa các công ty thành viên hay giữa chúng với công ty mẹ vì những mục
tiêu được tính toán từ trước. Khi đối diện với các chính sách và thủ tục thuế khác
nhau, nhất là sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc
chiến lược ứng phó với hành vi chuyển giá hữu hiệu hơn là rất cần thiết. Xuất phát
từ thực tế đó, Nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) – kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”
làm đề tài Luận án của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là đúc rút kinh nghiệm quốc tế về chống
chuyển giá để đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao khả
năng ứng phó với hành vi chuyển giá trong doanh nghiệp FDI, hạn chế những tác
động tiêu cực của hiện tượng này đối với Việt Nam.
Để thực hiện được mục đích trên, các mục tiêu cụ thể của Luận án là:
i) Xây dựng khung lý thuyết về phân tích chuyển giá trong doanh nghiệp
FDI, làm rõ bản chất của chuyển giá, động cơ thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển
giá, các thủ thuật chuyển giá thường được thực hiện và tác động chuyển giá đối với
nước tiếp nhận đầu tư.
ii) Làm rõ những tác động tiêu cực mà hành vi chuyển giá trong doanh
nghiệp FDI có thể gây ra cho Việt Nam.
iii) Đúc rút được những kinh nghiệm quốc tế về chống chuyển giá qua đó rút
ra những bài học hữu ích có thể vận dụng được vào thực tiễn Việt Nam.
iv) Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học để ứng phó với chuyển giá trong
doanh nghiệp FDI ở Việt Nam có hiệu quả hơn.
3
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án sẽ tìm câu trả lời cho
các câu hỏi nghiên cứu sau:
i) Bản chất của chuyển giá là gì? Trong điều kiện nền kinh tế thế giới hiện
đại, tại sao hiện tượng chuyển giá lại mang tính phổ biến và chống chuyển giá lại là
một nhiệm vụ không dễ dàng với cơ quan thuế các quốc gia?
trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về góc độ tiếp cận: Luận án phân tích vấn đề chuyển giá của các doanh
nghiệp FDI dưới góc độ kinh tế chính trị. Điều này thể hiện ở chỗ: hiện tượng
chuyển giá chủ yếu được xem xét, cắt nghĩa như một hiện tượng kinh tế - xã hội,
hàm chứa các mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế (các tập đoàn đa quốc
gia, các công ty thành viên, nhà nước sở tại) có liên quan chứ không phải như một
vấn đề kinh tế - kỹ thuật; việc luận giải vấn đề chuyển giá đương đại được gắn với
bối cảnh kinh tế chính trị của quá trình toàn cầu hóa và vai trò của các tập đoàn kinh
tế đa quốc gia trong nền kinh tế thế giới hiện nay; việc phân tích kinh nghiệm quốc
tế, đề xuất giải pháp ứng phó với vấn đề chuyển giá đứng từ góc nhìn của một nước
tiếp nhận đầu tư, chịu ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động chuyển giá, nghiêng về và
gắn với những khía cạnh thuộc môi trường thể chế, chính sách và vai trò kinh tế của
nhà nước hơn là những khía cạnh quản lý tác nghiệp.
Về không gian: Luận án nghiên cứu thực trạng chuyển giá trên thế giới qua
các trường hợp điển hình ở Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga; nghiên cứu kinh
nghiệm chống chuyển giá của OECD, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, một số
nước Asean là Thái Lan, Malaysia, Indonesia và nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến chuyển giá ở Việt Nam.
Việc chọn đồng thời các nước phát triển và mới nổi để nghiên cứu giúp thấy
rõ hơn vấn đề chuyển giá đã trở thành hiện tượng phổ biến, là vấn đề quốc tế, ngay
cả các nước có nhiều kinh nghiệm cũng phải đối mặt với chuyển giá của các MNCs.
Đồng thời, qua đó học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển như một hình thức
“đi tắt” – lợi thế của nước đi sau. Việc lựa chọn Trung Quốc để nghiên cứu là bởi
Trung Quốc vừa là nước có nhu cầu thu hút đầu tư FDI như Việt Nam đồng thời
5
vừa có văn hóa, thể chế chính trị tương tự Việt Nam, do đó, những kinh nghiệm của
6
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tác giả Luận án đã thu thập được
tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp, bao gồm các báo cáo tài chính của một số doanh
nghiệp FDI, báo cáo kết quả thanh tra doanh nghiệp FDI chuyển giá của Tổng cục
Thuế và Cục thuế một số địa phương, Kết luận thanh tra một số doanh nghiệp FDI
của Thanh tra Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật; các báo cáo, đề án của
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, Tổng cục Thuế và cơ quan thuế của một số địa phương; các
Đề án, công trình nghiên cứu cấp Bộ, cấp tỉnh/thành phố; Luận án Tiến sỹ, các bài
báo khoa học, các bài báo thời sự trong nước và nước ngoài... có liên quan đến vấn
đề chuyển giá. Các tài liệu này đã được tác giả Luận án xử lý thông tin để:
+ Hệ thống hóa được những kết quả đã được nghiên cứu trước đây, phát hiện
được những vấn đề đã được đồng thuận, những điểm còn có ý kiến khác nhau,
khoảng trống cần nghiên cứu để đi sâu nghiên cứu, tìm ra điểm mới của vấn đề.
+ Tìm kiếm các căn cứ khoa học và số liệu minh chứng làm cơ sở cho việc
hình thành các luận điểm, luận cứ, luận chứng cả về mặt lý thuyết và thực tiễn;
+ Đưa ra kết luận theo cách tiếp cận riêng.
Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích các số liệu liên quan đến
hoạt động mua bán hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ… của các trường hợp doanh
nghiệp FDI có hành vi chuyển giá được nêu trong Luận án, để làm rõ các thủ thuật
chuyển giá của các doanh nghiệp này; phân tích một số tình hình liên quan đến kinh
tế, xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 để thấy được những tác động của chuyển
giá trong doanh nghiệp FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư.
Do chuyển giá là vấn đề nhạy cảm, một số tài liệu mà cơ quan chức năng
cung cấp là tài liệu nội bộ, tài liệu chưa công bố, tài liệu mà thông tin trong đó được
xem như tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp có giới hạn đối tượng sử dụng, tài
nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam 2013, năm 2014 của
VCCI và USAID về đo lường chuyển giá trong doanh nghiệp FDI thông qua
phương pháp gọi là “Kỹ thuật đếm bất đối xứng” (UCT), thường được gọi là bảng
câu hỏi LIST; ii) Kết quả điều tra liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp FDI
8
hoạt động ở Việt Nam của VCCI công bố trong các báo cáo thường niên; iii) Kết
quả điều tra của Tổng cục Thuế.
5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Với mục đích và nhiệm vụ đặt ra, đề tài dự kiến có những đóng góp sau:
i) Góp phần bổ sung, phát triển, hoàn thiện lý thuyết về chuyển giá trong
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
ii) Tổng hợp, cung cấp nguồn tư liệu có độ tin cậy về thực trạng chuyển giá ở
một số nước trên thế giới và ở Việt Nam.
iii) Làm rõ những tác động tiêu cực mà hành vi chuyển giá trong doanh
nghiệp FDI có thể gây ra cho Việt Nam.
iv) Đánh giá được hiện trạng chính sách, pháp luật và sự ứng phó của Việt
Nam đối với hành vi chuyển giá trong doanh nghiệp FDI.
v) Hệ thống hóa kinh nghiệm của một số quốc gia về ứng phó với chuyển
giá theo từng nhóm vấn đề và rút ra một số kết luận có ý nghĩa đúc kết thực tiễn.
vi) Đề xuất các giải pháp dựa trên cơ sở khoa học nhằm tăng cường khả năng
ứng phó của Việt Nam đối với hành vi chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Về mặt lý luận, Luận án góp phần bổ sung, phát triển khung lý thuyết về vấn
đề chuyển giá nói chung và chuyển giá trong doanh nghiệp FDI nói riêng. Những
đóng góp về lý luận này tiếp tục củng cố thêm những kết luận của các nhà khoa học
trước đây về bản chất của chuyển giá, động cơ thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển
giá, các hình thức chuyển giá trong doanh nghiệp FDI, những tác động của chuyển
Chương 4: Thực trạng chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam, giải pháp ứng phó với chuyển giá.
10
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp và hoạt động chống chuyển giá
của chính phủ các nước là mâu thuẫn luôn luôn tồn tại, bởi khi một chính phủ có
biện pháp kiểm soát chuyển giá có hiệu quả thì doanh nghiệp nghĩ ra các thủ thuật
khác để tiếp tục chuyển giá, vì mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận.
Hành vi chuyển giá sẽ gây ra nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư như gây thất thu
ngân sách, tăng nhập siêu, làm méo mó môi trường đầu tư, cạnh tranh không bình
đẳng đối với các doanh nghiệp không thực hiện chuyển giá, bất bình đẳng giữa các
doanh nghiệp về thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước… Do đó, từ góc độ
quản lý nhà nước cũng như kinh tế chính trị, chuyển giá đang là vấn đề nóng, được
nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực quan tâm. Chính vì vậy, vấn đề chuyển giá
cũng được nhiều tác giả quan tâm.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu
liên quan đến vấn đề chuyển giá với nhiều cách tiếp cận, mục tiêu, phương pháp
nghiên cứu khác nhau, bao gồm các vấn đề về lý luận và thực tiễn, nhằm làm rõ
khái niệm, bản chất, đặc điểm, phương thức chuyển giá; những tác động của chuyển
giá; các giải pháp (của nước tiếp nhận đầu tư) kiểm soát hành vi chuyển giá…
Những nghiên cứu nước ngoài xoay quanh câu chuyện các công ty đa quốc
gia đã dựa trên các điều kiện của công ty có quan hệ liên kết và các quyền của công
ty mẹ đối với công ty con hay giữa các thành viên trong cùng một công ty mẹ, để
xác định giá chuyển giao sản phẩm hàng hóa, dịch vụ… một cách có chủ đích,
như một “cẩm nang”, một “Luật” chung để làm căn cứ xác định giá thị trường trong
các giao dịch của các bên liên kết, hạn chế chuyển giá để trốn thuế trong các công ty
đa quốc gia, đảm bảo sự công bằng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu có giá trị đầu tiên về giá chuyển giao và vấn
đề chuyển giá được thực hiện vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Từ năm
2010 đến nay, tình trạng doanh nghiệp FDI báo lỗ ở diện rộng, đặt ra nghi vấn “lỗ
giả, lãi thật”, chuyển giá để tránh thuế, đã thu hút sự chú ý của xã hội, do vậy
nghiên cứu về chuyển giá được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu ở cấp
độ Tiến sỹ, đề tài khoa học cấp Bộ (và tương đương) rất ít. Cấp độ Thạc sỹ, có một
số học viên cao học đã chọn vấn đề này làm luận văn tốt nghiệp. Phần nhiều trong
nghiên cứu về chuyển giá là các bài báo khoa học, bài nghiên cứu tham gia hội thảo
khoa học. Có thể nêu một số nghiên cứu sau:
12
- Sách chuyên khảo có: “Định giá chuyển giao và chuyển giá tại các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh” (2000) của TS. Nguyễn
Ngọc Thanh (Chủ biên) và tập thể tác giả Viện nghiên cứu Tài chính; “Định giá
chuyển giao và thủ thuật chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam” (2001)
của TS. Nguyễn Ngọc Thanh, Ths. Nguyễn Hoàng Dũng; “Các phương pháp định
giá công nghệ và giá chuyển giao bên trong các công ty đa quốc gia” (2008) của TS.
Đoàn Văn Trường; “Tăng cường kiểm soát nhà nước đối với hoạt động chuyển giá
trong doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam” (2014) của PGS.TS
Nguyễn Thị Phương Hoa (Chủ biên) và các tác giả TS. Phạm Đức Bình, PGS.TS
Nguyễn Thanh Hà, TS. Bùi Thị Minh Hải, TS. Nguyễn Thị Thu Liên.
- Đề tài nghiên cứu khoa học có: “Giải pháp hạn chế các thủ thuật chuyển
giá trong điều kiện hiện nay của các công ty đa quốc gia đang hoạt động ở Việt
Nam” (2012), đề tài cấp Bộ do PGS.TS Ngô Thế Chi làm chủ nhiệm; “Chống
chuyển giá đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh xuất khẩu
liên kết
Phát hiện đầu tiên đặt nền móng cho nghiên cứu về chuyển giá được Ronald
Harry Coase nêu ra trong nghiên cứu “The nature of the firm” (Bản chất của Hãng)
năm 1937. Tác giả cho rằng, việc hình thành các công ty có lợi hơn so với việc tạo
ra một sản phẩm hoàn toàn thông qua các giao dịch trên thị trường, thậm chí trong
những điều kiện cạnh tranh hoàn hảo. Theo Coase, các công ty có thể định giá nội
bộ (giá chuyển giao) cho các sản phẩm và dịch vụ vì mục đích kế toán cũng như
giảm thời gian và công sức để có được thông tin và đàm phán khi giao dịch ngoài
thị trường mở. Đây là một hoạt động căn bản trong kinh doanh và kế toán [127].
Sau này, Sanjaya Lall (1973) [134], J.C. Stewart (1977) [147], Lecraw, D. (1985)
[135] và nhiều tác giả khác đều chỉ ra rằng, các công ty đa quốc gia khi thực hiện
giao dịch hàng hóa, dịch vụ và tài sản (bao gồm cả hàng hóa hữu hình và các dịch
vụ vô hình) giữa các thành viên trong tập đoàn hoặc là giữa các công ty (con) với
công ty mẹ, đều thực hiện một mức giá nội bộ.
Các nghiên cứu nước ngoài cho rằng việc định giá nội bộ cho sản phẩm
không thông qua các giao dịch “mua bán ngoài” như vậy không có gì là bất hợp
pháp, thiếu đạo đức hay vô nguyên tắc nếu nó được thực hiện theo đúng quy định của
pháp luật nước sở tại. Hoạt động này được coi là một phương thức phân chia lợi
nhuận được sử dụng để tính toán và phân bố lãi (hoặc lỗ) thuần trước thuế của các
MNC tại các nước mà họ đang hoạt động.
Về nguyên tắc, “giá chuyển giao” nội bộ này phải tương xứng với giá người
bán tính cho khách hàng độc lập bên ngoài hoặc với giá người mua trả cho nhà cung
cấp độc lập bên ngoài. Nghĩa là các bên liên kết trao đổi với nhau như các công ty
độc lập, với các điều kiện về thương mại và tài chính được xác định như thị trường
cạnh tranh. Theo đó, việc xác định “giá chuyển giao” không có gì là tiêu cực và các
14
giao dịch này là các giao dịch hoàn toàn hợp pháp trong hoạt động bình thường của
15
Kim Berly A. Clausing (1998) thống nhất với quan điểm của Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: "Bằng cách thay đổi giá chuyển giao giữa
các loại giao dịch khác nhau, một công ty đa quốc gia sẽ thể hiện thu nhập của nó
dưới nhiều dạng tại một quốc gia cụ thể nhằm tối thiểu hóa nghĩa vụ nộp thuế tại
quốc gia này; và bằng cách thay đổi giá chuyển giao trong các giao dịch nội bộ, các
công ty đa quốc gia có thể chuyển giao lợi nhuận trước thuế từ một quốc gia này
sang một quốc gia khác nhằm tối đa hóa tổng lợi nhuận sau thuế của nó" [125, tr.4].
Từ các lý luận trên, hầu hết các nghiên cứu nước ngoài thống nhất: Chuyển
giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được
chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá trị
trường nhằm tối thiểu hóa số tiền thuế phải nộp trên toàn cầu. Điều này cho thấy các
nghiên cứu nước ngoài có cùng quan điểm rằng, chuyển giá chủ yếu được thực hiện
thông qua các giao dịch “qua biên giới”, bởi có sự chênh lệch thuế giữa các quốc
gia. Còn giữa các công ty hoạt động ở cùng một quốc gia thì việc chuyển giá không
có hiệu quả gì, bởi chính sách thuế trong cùng một nước thì đồng nhất.
Tuy nhiên, cũng có một số tác giả khác mở rộng phạm vi khái niệm chuyển
giá. Trên cơ sở phân tích thực tiễn định giá chuyển giao của các tập đoàn đa quốc
gia, Pamela L. Kayfetz & Leo B. Helzel (1996), Susan C. BorKowski (1997) đã
cho rằng hành vi chuyển giá không chỉ diễn ra trong các công ty đa quốc gia có giao
dịch qua biên giới mà còn có trong các công ty trong cùng một nước, các công ty có
quan hệ liên kết khác [120],[140]. Song, các tác giả trên cũng nhận định hành vi
chuyển giá của các công ty này không phổ biến.
Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý của Việt Nam không có nhiều bổ
sung mới hoặc khác so với các quan điểm của các nhà nghiên cứu quốc tế về khái
niệm chuyển giá. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng không phải
chỉ các công ty đa quốc gia và không chỉ các chuyển dịch tài sản, dịch vụ “qua biên
giới” mới có hành vi chuyển giá, mà các công ty trong nước, doanh nghiệp sân sau
Về cơ sở để thực hiện chuyển giá, các tác giả nước ngoài cũng như tác giả
Việt Nam đều cho rằng, sở dĩ các công ty đa quốc gia có thể xác định giá cả trong
những giao dịch như vậy là do: (i) xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh
doanh của các công ty đa quốc gia, họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa,
dịch vụ với giá họ mong muốn; (ii) xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi
ích giữa công ty mẹ và công ty con.
17
Như vậy, giữa các nghiên cứu trong nước và quốc tế, có một số quan điểm
khác nhau về khái niệm chuyển giá và giá chuyển giao, song đều có điểm chung cho
rằng bản chất của chuyển giá nhằm di chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp cao sang nơi thấp, nhằm mục tiêu tối thiểu hóa số tiền thuế phải
nộp trên phạm vi tổng thể, thông qua giao dịch thương mại nội bộ giữa các công ty
có quan hệ liên kết, từ đó tối đa hóa lợi nhuận tổng thể của doanh nghiệp.
1.3. Những thảo luận về các hình thức (thủ thuật) chuyển giá của các doanh
nghiệp FDI ở Việt Nam
Từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu cho thấy có nhiều thủ
thuật chuyển giá trong doanh nghiệp FDI. Tiếp cận ở góc độ loại hình sản phẩm
hàng hóa tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoài (2012) cho rằng có 4 hình thức chuyển
giá là: (i) chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình; (ii) chuyển giá thông
qua chuyển giao tài sản vô hình; (iii) chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ nội bộ
tập đoàn; (iv) chuyển giá thông qua hoạt động vay vốn giữa các công ty thành viên
trong một tập đoàn [50, tr. 54-55]. Tác giả Nguyễn Trọng Cơ (2012) tiếp cận ở góc
độ “giá” “chi phí”, “hợp đồng” thì cho rằng có 6 hình thức chuyển giá là: (i)
Chuyển giá thông qua tăng chi phí đầu vào; (ii) chuyển giá thông qua hạ thấp giá
bán sản phẩm; (iii) chuyển giá thông qua nâng khống giá trị tài sản hữu hình và tài
sản vô hình trong quá trình góp vốn liên doanh; (iv) chuyển giá thông qua cơ chế
giá nội bộ; (v) chuyển giá thông qua các hợp đồng độc quyền về nhập khẩu, phân
nước ngoài với chi phí cao; nâng chi phí hành chính và quản lý; điều tiết giá mua
bán, hàng hóa; tài trợ qua nghiệp vụ vay từ công ty mẹ; lập nhiều công ty ở nước
tiếp nhận đầu tư để điều tiết chi phí giữa các công ty thành viên; hoạt động tài trợ)
và các hình thức khác, như thông qua trung tâm tái tạo hóa đơn, thông qua sử dụng
chứng khoán hỗn hợp [58].
Có thể thấy, mỗi tác giả nêu ra cách tiếp cận khác nhau về các hình thức
chuyển giá, song, tựu chung lại, thủ thuật của các doanh nghiệp FDI vẫn là tính giá
cao hoặc thấp tùy vào từng trường hợp cụ thể đối với hàng hóa, dịch vụ để doanh
nghiệp đạt được mục tiêu về giảm thiểu số thuế phải nộp.
1.4. Những nghiên cứu về tác động của chuyển giá đối với nước tiếp nhận đầu tư
Nhìn chung, đa số các nghiên cứu đều cho rằng nước nhận đầu tư sẽ chịu
nhiều thiệt hại khi các doanh nghiệp thực hiện chuyển giá, mức độ thiệt hại càng
nhiều khi quy mô chuyển giá của doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên, phân tích về
tác động của chuyển giá được đề cập theo nhiều góc độ khác nhau. Sanjaya Lall
(1973), J.C. Stewart (1977), Susan C. BorKowski (1997) cho rằng nếu không có
biện pháp hiệu quả chống chuyển giá thì nước nhận đầu tư (nước chủ nhà - host
country) phải gánh chịu nhiều hậu quả rất lớn về kinh tế [120], thậm chí còn chịu
19