Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN THỊ HƢƠNG GIANG
TĂNG CƢỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
1.1. Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1. Khái niệm Dịch vụ phòng cháy chữa cháy - một hàng hoá
công cộng. 6
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về phòng cháy chữa cháy 16
1.1.3. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 19
1.2. Vai trò quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ phòng cháy chữa cháy
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 20
1.2.1. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ phòng cháy
chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài 20
1.2.2. Tầm quan trọng của quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ
phòng cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở nƣớc ta 24
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ phòng
cháy chữa cháy trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài 26
1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Nga 26
1.3.2. Những bài học rút ra cho Việt Nam 30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
DỊCH VỤ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 32
2.1. Thực trạng cầu về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt Nam 32
2.1.1. Tổng quan về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài ở nƣớc ta 32
2.1.2. Cầu về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam 36
2.2. Cung về dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt Nam 49
2.2.1. Quản lý Nhà nƣớc đối với cung dịch vụ phòng cháy chữa

dịch vụ phòng cháy chữa cháy 76
3.3. Một số kiến nghị cơ bản đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài nhằm tăng cƣờng hiệu quả cho các nhóm giải
pháp trên 82
3.3.1. Nâng cao trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ sở của các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 82
3.3.2. Tăng cƣờng hoạt động tuyên truyền giáo dục về phòng
cháy chữa cháy 84
3.3.3. Trang bị đầy đủ, đồng bộ và sử dụng có hiệu quả phƣơng
tiện, dụng cụ phòng cháy chữa cháy tại chỗ 85
3.3.4. Tăng cƣờng hoạt động tự kiểm tra an toàn phòng cháy
chữa cháy trong cơ sở có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 86
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 92

BẢNG QUY ƢỚC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DN: Doanh nghiệp
KCN: Khu công nghiệp
NXB: Nhà xuất bản
PCCC: Phòng cháy chữa cháy
XHCN: Xã hội chủ nghĩa

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

trường ở Việt Nam. Thực trạng đó có nhiều nguyên nhân song nguyên nhân
cơ bản nhất là vai trò quản lý nhà nước về dịch vụ PCCC còn nhiều bất cập.
Từ thực tiễn trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường vai trò
quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiêp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” là một yêu cầu có tính cấp thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn đối với nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC đã được đề cập trong nhiều đề
tài nghiên cứu khoa học các cấp cũng như một số giáo trình chuyên ngành,
một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Sau đây có thể nêu một số ví dụ cụ
thể:
- Luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Thứ, Hà Nội, 2004
với đề tài "Dịch vụ phòng cháy chữa cháy - Một loại hàng hoá công cộng
trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nứớc ta". Luận án nghiên cứu lý luận
và thực tiễn về dịch vụ PCCC với tư cách là một loại hàng hoá công cộng
trong nền kinh tế thị trường, từ đó xác định phương hướng và giải pháp chủ
yếu nhằm phát triển dịch vụ PCCC trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
- Đề tài khoa học cấp bộ Công an của các tác giả: Đào Quốc Hợp, Bùi
Xuân Hoà, Đặng Trung Khánh: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định
nhu cầu nhân lực và tổ chức đào tạo cán bộ PCCC cho các ngành, đoàn thể và
các tổ chức kinh tế - xã hội", Hà Nội, 2006. Đề tài phân tích những nhiệm vụ
cơ bản của lực lượng dân phòng, lực lượng phòng cháy và chữa cháy trên cơ
sở phân tích kết quả điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng lực lượng PCCC
đề tài đã xác định nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực PCCC và đề xuất một số

3
giải pháp phù hợp cho công tác tổ chức đào tạo cán bộ PCCC trình độ đại
học, trung học cho các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội.
- Đề tài khoa học cấp Bộ Công an của các tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn,

cộng, trong đó có dịch vụ PCCC cũng đã được nhận thức và thực hiện ngày
càng có hiệu quả hơn. Các công trình trên đã nghiên cứu nhiều về công tác
PCCC của lực lượng Cảnh sát PCCC ở nước ta hiện nay. Song chưa có đề tài
nào đi sâu phân tích vấn đề quản lý nhà nước về PCCC như một đối tượng
nghiên cứu hoàn chỉnh.
Vì vậy, với cách tiếp cận riêng của mình, đề tài luận văn "Tăng cường
vai trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam" là công trình đầu tiên nghiên cứu
một cách toàn diện về quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam dưới góc nhìn của
chuyên ngành kinh tế chính trị.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động
quản lý nhà nước về dịch vụ PCCC trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò
quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã giải
quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ dịch vụ PCCC là một hàng hoá công cộng và cơ sở lý luận của
hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hoá dịch vụ PCCC.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động PCCC trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò quản lý nhà nước đối với
dịch vụ PCCC trong DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

5
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà
nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Dựa vào lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin, quan điểm của Đảng,
Nhà nước và tiếp thu có chọn lọc lý luận của kinh tế học hiện đại cùng một số
đề tài khoa học về lĩnh vực PCCC.
- Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, nhất là phương pháp trừu
tượng hoá của Kinh tế - chính trị, coi trọng phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp mô hình hoá…để rút ra
những kết luận và giải pháp thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về
PCCC ở nước ta.
6. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn chỉ rõ dịch vụ PCCC là một hàng hoá công cộng cũng như
vai trò quản lý nhà nước đối với hàng hoá dịch vụ này.
- Luận văn phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ PCCC
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ các số liệu thu
thập thông qua nguồn của Cục Cảnh sát PCCC (C23) để từ đó đưa ra những
giải pháp khả thi tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm hạn chế tới mức
tối thiểu số lượng và mức độ thiệt hại do cháy, nổ gây ra tạo môi trường tốt
thu hút đầu tư nước ngoài thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường vai trò quản lý nhà
nước đối với dịch vụ PCCC trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam.
Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với dịch vụ
PCCC trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
Chương 3. Phướng hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai
trò quản lý nhà nước đối với dịch vụ PCCC trong doanh nghiệp đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam.


động mang tính xã hội cao, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại
dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống của
con người một cách kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn [29, tr.12].
Mặc dù vậy, có thể hiểu dịch vụ bằng cách xem xét các đặc điểm nổi
bật và khác biệt của dịch vụ so với hàng hoá. Có ba đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, dịch vụ mang tính vô hình. Tính vô hình của dịch vụ thể hiện
ở chỗ sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật
phẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng
dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa.
Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy
ra đồng thời. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu
thông và tiêu dùng. Do đó hàng hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận
chuyển đi nơi khác theo nhu cầu của thị trường. Khác với hàng hóa, quá trình
cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Thí dụ với dịch vụ tư vấn
đầu tư, khi chuyên gia về đầu tư tư vấn khách hàng cũng là lúc khách hàng
tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tư vấn do người chuyên gia này cung
ứng.
Thứ ba, không thể lưu trữ được dịch vụ. Sự khác biệt này là do sản xuất
và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng
loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.
Như vậy, dịch vụ là một lĩnh vực mở, thay đổi và phát triển tuỳ thuộc
vào sự phát triển sâu rộng của phân công lao động xã hội, của tiến bộ khoa
học công nghệ và của kinh tế thị trường hiện đại. Dịch vụ là phương tiện hữu
hiệu để thực hiện mục tiêu “vì con người”, tạo khả năng cho con người phát
triển toàn diện.
Hai là, khái niệm Phòng cháy chữa cháy: Để hiểu được khái niệm về
Phòng cháy chữa cháy (PCCC) trước hết phải hiểu thế nào là cháy. Theo luật

9
PCCC: Cháy là: “trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát đựơc có thể gây

Là những hoạt động lao động mang tính xã hội cao, tạo ra các sản
phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể bao gồm các biện pháp,
giải pháp về tổ chức, chiến thuật và kỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế
nguyên nhân, điều kiện gây cháy; tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động
cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan và chữa cháy kịp thời, có hiệu quả
nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống của con người một cách kịp
thời, thuận lợi và hiệu quả.
1.1.1.2. Khái niệm hàng hoá công cộng.
Trong nền kinh tế thị trường, người ta thường chia các loại hàng hoá
thành hai nhóm là hàng hoá cá nhân và hàng hoá tập thể hay hàng hoá công
cộng. Hàng hoá cá nhân là loại hàng hoá mà nếu một người đã sử dụng và tiêu
dùng nó thì người khác không thể tiêu dùng nó được nữa. Người này nếu
muốn tiêu dùng hàng hoá cá nhân thuộc quyền sở hữu của người kia thì phải
mua, thuê, mượn.
Khác với hàng hoá cá nhân, hàng hoá công cộng mang những đặc trưng
khác biệt và có rất nhiều quan niệm khác nhau về hàng hoá công cộng:
- Từ điển kinh tế học hiện đại (1999) do D.Pearce cho rằng: hàng hoá
công cộng là hàng hoá hoặc dịch vụ mà nếu đã sản xuất và cung ứng cho một
người nào đó thì đối với những người khác cũng được cung cấp như vậy mà
không phải chịu bất cứ chi phí nào thêm.
- P. Samuelson định nghĩa: Hàng hoá công cộng là những hàng hoá mà
lợi ích của nó có thể phân chia trong toàn bộ cộng đồng mà không phân biệt
một cá nhân nào đó mong muốn mua hàng hoá đó hay không.
- D.Begg cho rằng: Hàng hoá công cộng là một loại hàng hoá mà ngay
cả khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được [8].

11
Như vậy, chúng ta thấy rằng có nhiều quan niệm khác nhau về hàng
hoá công cộng, nhưng theo tôi quan niệm của D.Begg là hợp lý hơn cả. Với
định nghĩa này ta thấy được sự khác biệt rất lớn giữa hàng hoá cá nhân và

hàng hoá dịch vụ việc sản xuất và cung ứng thường thuộc về nhà nước.
* Đặc trưng mang tính đặc thù của hàng hoá dịch vụ phòng cháy chữa cháy
Trên cơ sở nghiên cứu và kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây,
ta có thể rút ra các đặc trưng đặc thù của hàng hoá dịch vụ PCCC với tư cách
là hàng hoá công cộng như sau:
Thứ nhất, Dịch vụ PCCC là dịch vụ công ích mang tính xã hội cao, gắn
với an toàn và an ninh cuộc sống của mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi cơ
quan.
Như chúng ta biết, việc sử dụng dịch vụ PCCC đem lại nhiều lợi ích
cho người sử dụng. Mỗi một người dân khi sử dụng dịch vụ PCCC không
những được hưởng những lợi ích nhất định (hay đúng hơn là tránh được thiệt
hại) mà còn là chủ thể tham gia vào dịch vụ này. Chỉ cần một sơ suất của
người dân trong việc dùng lửa, dùng điện, một sự sơ suất của công nhân trong
việc sắp xếp, vận chuyển hàng hoá, nhất là những hàng hoá dễ cháy, nổ hoặc
là một sự thiếu thận trọng trong thiết kế xây dựng, như tính toán không đúng
giới hạn chịu lửa, chịu nhiệt của cấu điện, dùng vật liệu dễ cháy ở vách, trần
nhà…là có thể gây hoả hoạn làm thiệt hại tài sản và sinh mệnh của nhân dân.
Nếu mọi người dân có ý thức cảnh giác phát hiện và báo kịp thời các vụ
hoả hoạn cho lực lượng PCCC thì sẽ làm tốt được dịch vụ PCCC, hạn chế,
ngăn ngừa được thiệt hại và tổn thất không nhỏ do cháy, nổ gây ra.
Như vậy, dịch vụ PCCC mang tính xã hội cao, bởi vậy việc tổ chức và
thực hiện dịch vụ này phải dựa trên cơ sở huy động các nguồn lực của nhân
dân, mỗi người dân đều có thể trở thành chủ thể tham gia công tác PCCC, mọi
đơn vị kinh tế, mọi cơ quan phải chủ động chuẩn bị các phương tiện PCCC.
Dịch vụ PCCC thực hiện trên nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm.

13
Thứ hai, Phát triển dịch vụ phòng cháy chữa cháy rất cần vai trò quản
lý của nhà nước.
Như phân tích ở phần trước, Dịch vụ PCCC là hàng hoá công cộng có

Trong các nguyên nhân gây cháy nổ có không ít trường hợp do âm mưu
phá hoại, gây rối trật tự, như các thế lực phản động trong nước hoặc ngoài
nước thâm nhập vào để phá kho xăng, nhà máy điện; hoặc kẻ phạm pháp gây
cháy để phi tang tài liệu, chứng cớ nhằm che dấu tội ác… Trong những
trường hợp này không thể tách riêng dịch vụ PCCC mà phải gắn nó với các cơ
quan hữu quan trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh mới thực hiện tốt dịch vụ
này được.
Thứ năm, Hoạt động dịch vụ PCCC có thể phân thành tám nhóm với
các đặc điểm mang tính chất đặc thù.
Ở nước ta hiện nay có rất nhiều loại hình dịch vụ hoạt động thông qua
các nghề có liện quan đến công tác đảm bảo an toàn PCCC. Mỗi loại hình có
một đặc thù riêng và do vậy công tác quản lý đối với mỗi loại hình dịch vụ
này cũng khác nhau. Dựa trên những nhóm nghề hoạt động có cùng tính chất,
đặc điểm cùng những yêu cầu cơ bản trong công tác quản lý nhà nước có thể
phân loại hoạt động dịch vụ PCCC thành tám nhóm sau:
+ Xuất nhập khẩu phương tiện PCCC: Là hoạt động mua bán, tạm nhập
tái xuất, tạm xuất tái nhập hoặc chuyển khẩu của thương nhân Việt Nam với
thương nhân nước ngoài qua biên giới, qua lãnh thổ hoặc khu chế xuất bằng
con đường chính ngạch, tiểu ngạch các loại phương tiện PCCC.
+ Làm mới phương tiện PCCC: Hoạt động này bao gồm sản xuất mới,
gia công, cải hoán, sửa chữa, san nạp, bảo dưỡng, bảo trì, các loại phương
tiện, hệ thống PCCC. Dịch vụ này còn mang tính tự phát, chưa có sự quản lý
của cơ qua nhà nước, nhiều dịch vụ không có chuyên môn, nghiệp vụ PCCC
mà chủ yếu làm kinh tế là chính.

15
+ Kinh doanh phương tiện PCCC: Theo Điều 3 - Luật doanh nghiệp thì
kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trinh đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.

kiện khắc phục hậu quả của hoả hoạn, khôi phục kinh doanh và cuộc sống,
đảm bảo anh ninh xã hội.
+ Huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phòng cháy chữa
cháy. Theo chức năng, nhiệm vụ, theo quy định của pháp luật hiện nay chỉ có
trung tâm của Cục cảnh sát PCCC và trường Đại học PCCC có đầy đủ chức
năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy nhằm trang bị kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ PCCC cho các đối tượng có nhu cầu.
Từ sự phân tích các đặc điểm đặc thù của dịch vụ PCCC rút ra mấy
nhận xét sau đây:
+ Dịch vụ PCCC là hàng hoá công cộng gắn với đặc trưng có thể loại
trừ nhưng không muốn loại trừ.
+ Ngành dịch vụ PCCC là ngành dịch vụ có thu, thực hiện theo quan
niệm dịch vụ PCCC là HHCC và phương châm Nhà nước và nhân dân cùng
làm, nên đòi hỏi phải tổ chức lại bộ máy ngành PCCC có tính chất của ngành
dịch vụ mà sản phẩm của nó là HHCC, phải có một cơ chế thu chi tài chính
mới phù hợp
Như vậy, dịch vụ PCCC vừa mang tính chất dịch vụ và hàng hoá công
cộng nói chung vừa có tính chất riêng của một loại dịch vụ công ích có tính
xã hội hoá cao, liên quan đến mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi ngành, bảo
đảm an toàn cho sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy
PCCC là một lĩnh vực hoạt động có liên quan trực tiếp đến trật tự an
toàn xã hội cho nên rất cần có sự quản lý, điều chỉnh và tác động của nhà

17
nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó, năm 1961 Nhà nước ta đã ban hành
Pháp lệnh quy định việc quản lý nhà nước về PCCC. Luật PCCC đã được
Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua một lần nữa xác định trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước về PCCC. Là một bộ phận

Cầu được chia làm hai loại là cầu của cá nhân và cầu thị trường. Nếu
như cầu của cá nhân phản ánh cầu của từng người tiêu dùng đối với một loại
hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó thì cầu của thị trường là cái mà ta có thể quan
sát được vì nó là tổng tất cả các cầu cá nhân của hàng hóa và dịch vụ đó.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cầu như: thu nhập của người tiêu dùng,
giá cả của các loại hàng hóa liên quan, sở thích hay thị hiếu của người tiêu
dùng, các chính sách của Chính phủ…
- Nếu sản phẩm, dịch vụ mà người mua có nhu cầu là hàng hóa thiết
yếu hoặc hàng hóa xa xỉ hay hàng hóa cao cấp, thì khi thu nhập tăng, lượng
cầu sản phẩm, dịch vụ này cũng tăng.
- Nếu là sản phẩm, dịch vụ thứ cấp, thì khi thu nhập tăng, lượng cầu
mặt hàng lại giảm vì sở thích của khách hàng thay đổi.
Vì vậy, trong phạm vi đề tài này chúng ta tập trung nghiên cứu cầu thị
trường về dịch vụ PCCC tức là tổng tất cả cầu cá nhân của hàng hóa dịch vụ
PCCC và xem xét dịch vụ PCCC như là một hàng hóa thiết yếu.
Khác với cầu, cung là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà nhà cung cấp
có khả năng và sẵn sàng cung ứng ở các mức giá khác nhau trong một thời
gian nhất định với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Với dịch vụ
PCCC, đây là một hàng hóa cộng cộng nên nhà cung cấp chủ yếu ở đây là
Nhà nước, có những dịch vụ chỉ có thể là Nhà nước cung cấp như: tạo môi
trường pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng PCCC thanh tra, kiểm tra xử lý vi
phạm… nhưng cũng có những khâu dịch vụ có thể xã hội hóa: cung cấp thiết
bị PCCC, tư vấn, thiết kế an toàn PCCC…

19
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cung như chính sách và quy định của
chính phủ, công nghệ, giá của các yếu tố sản xuất, số lượng nhà cung ứng…
Với cách tiếp cận như trên, có thể hiểu quản lý Nhà nước đối với cung
dịch vụ PCCC trên 02 nội dung:
- Quản lý Nhà nước đối với cung dịch vụ PCCC về mặt vĩ mô: cung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status