Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) kinh nghiệm quốc tế và bài học cho việt nam - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ
HỘI
DƯƠNG VĂN

AN

CHUYỂN GIÁ

TRONG DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
(FDI) KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế

Chính trị Mã số: 62.31.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1. GS.TS. Nguyễn Xuân Tháng
2. TS. Bùi Đại Dũng
HÀ NỘI - 2016


LỜI CÁM ƠN

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 11

APA

Phương pháp thỏa thuận trước giá tính
thuế

Advance Pricing Agreement

BOT

Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao

Build Operate Transfer

Xây dựng - chuyển giao

Build Transfer

BTO

Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh

Build Transfer Operate

CUP

Phương pháp định giá chuyển giao trên cơ
sở giá tự do có thể so sánh được



Multinational Corporations

NSNN

Ngân sách nhà nước

OECD

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Oganization for Economic
Co-operation and
Development

Phương pháp giá bán lại

Resales Price Method

RPM
SXKD

Sản xuất, kinh doanh

TNCs

Công ty xuyên quốc gia

TNDN




MỞ ĐẦU

_
r
r _
rr\r
I_
_A.
____,1
*Ạ,____*? ___-* Ạ i > •
1

_!

• A.

r_ __

. Tính cap thiêt của đê tài nghiên cứu

Sau gần 30 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (có hiệu lực từ năm 1987), nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam tăng đều cả về vốn đăng ký và vốn giải ngân. Tính đến 31/12/2015, Việt Nam có hơn 20 ngàn dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 281,882 tỷ Đô la Mỹ, trong đó vốn thực hiện chiếm gần
50% vốn đăng ký.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam có nguồn gốc xuất xứ và lĩnh vực kinh
doanh khá đa dạng, trong đó có nhiều công ty đa quốc gia lớn trên thế giới. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,

quá trình toàn cầu hóa, khi vai trò của các công ty đa quốc gia ngày càng gia tăng trong hoạt động thương mại và đầu tư
quốc tế, khi sự phân bổ và di chuyển các nguồn lực kinh tế trên phạm vi toàn cầu ngày càng dễ dàng, hoạt động chuyển giá
quốc tế ngày càng có điều kiện phát triển. Điều này gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan thuế ở hầu khắp các nước trong
việc thực thi quyền đánh thuế cũng như đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh chung giữa các loại hình doanh nghiệp.
Trong tình hình đó, việc kiểm soát và ứng phó với hành vi chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (gắn liền với hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia) trở thành một trong những vấn đề thuế quốc tế quan trọng nhất
mà các nước đều phải quan tâm. Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển, những biện pháp chống chuyển giá với
nhiều công cụ thuế và phi thuế quan khác nhau đã được triển khai ngày càng bài bản và thu được những thành quả rất đáng
chú ý.
Do là nước đi sau, vẫn còn đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập vào nền kinh tế
thế giới, Việt Nam gặp nhiều khó khăn và chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc đối phó với hành vi chuyển giá của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các giải pháp chống chuyển giá gần đây mới được triển khai, song còn
thiếu đồng bộ và hiệu lực thực thi thấp. Tình trạng nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khai lỗ liên tục
nhưng vẫn mở rộng quy mô và doanh thu vẫn tăng đều đều là điều khó hiểu và đôi lúc cơ quan chức năng gần như bất lực
trước tình trạng chuyển giá được cho là ngày càng phổ biến. Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm chống
chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ những nước đi trước nhằm “rút tỉa” ra những bài
học hữu ích, phục vụ cho việc thiết kế và thực thi một chiến lược ứng phó với hành vi chuyển giá hữu hiệu hơn là rất cần
thiết. Xuất phát từ thực tế đó, Nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) - kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam ” làm đề tài Luận án của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1.

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là đúc rút kinh nghiệm quốc tế về chống chuyển giá để đề xuất được các giải
pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao khả năng ứng phó với hành vi chuyển giá trong doanh nghiệp FDI, hạn chế những
tác động tiêu cực của hiện tượng này đối với Việt Nam.
Để thực hiện được mục đích trên, các mục tiêu cụ thể của Luận án là:

9

tỏ những điều kiện đặc thù hiện nay đang tác động đến hiện tượng kinh tế phức tạp này.

ii) Phân tích và đánh giá thực trạng chuyển giá trong khu vực FDI ở Việt Nam từ năm 2001 - 2015 (tập trung vào
giai đoạn 2010 - 2015), làm rõ hơn những tác động tiêu cực của chuyển giá đối với Việt Nam.

iii) Phân tích các kinh nghiệm trong việc chống chuyển giá của một số nước tiêu biểu, một số nước có tình hình
kinh tế và cấu trúc chính trị - xã hội có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam để rút ra các bài học có giá trị tham khảo đối
với Việt Nam.

Đánh giá thực trạng khả năng ứng phó với chuyển giá trong doanh nghiệp FDI của Việt Nam hiện nay, những kết quả đạt
được và khó khăn, hạn chế; đề xuất một số giải pháp để nâng cao khả năng ứng phó với hành vi chuyển giá trong doanh
nghiệp FDI ở Việt Nam trong thời gian tới

10
10


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp
FDI và kinh nghiệm ứng phó (kiểm soát, phòng, chống...) với hiện tượng này ở một số quốc
gia; việc áp dụng kinh nghiệm này trong ứng phó với chuyển giá trong các doanh nghiệp
FDI ở Việt Nam.
3.1.

Phạm vi nghiên cứu
về góc độ tiếp cận: Luận án phân tích vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

dưới góc độ kinh tế chính trị. Điều này thể hiện ở chỗ: hiện tượng chuyển giá chủ yếu được

về thời gian: Đối với kinh nghiệm chống chuyển giá của một số quốc gia trên thế
giới, Luận án tập trung nghiên cứu các kinh nghiệm có được từ trước đến nay trong “lịch
sử” chống chuyển giá của các quốc gia để rút ra các bài học hữu ích cho Việt Nam. Đối với
Việt Nam, Luận án nghiên cứu giai đoạn 2001 - 2015, là thời kỳ thu hút FDI có nhiều
chuyển biến mạnh mẽ và Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời
hiện tượng chuyển giá ngày càng rõ nét trong khu vực doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, trong
đó tập trung trọng tâm vào giai đoạn 2010 - 2015.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án
4.1.

12
12

Phương pháp luận


4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng như là phương pháp luận chung. Thông qua cách tiếp cận này, Luận án cố gắng
nhận diện bản chất của hiện tượng chuyển giá cũng như các hình thức biểu hiện của nó, vừa
dưới góc độ chung như một hiện tượng có tính phổ biến trên toàn thế giới, vừa dưới góc độ
đặc thù, gắn với các nền kinh tế đang phát triển như trường hợp Việt Nam. Luận án xem
vấn đề chuyển giá không phải như một sự kiện ngẫu nhiên mà như là một hiện tượng tất
yếu nảy sinh trên cơ sở cơ chế định giá chuyển giao trong nội bộ các tập đoàn đa quốc gia
khi chúng trở thành các thực thể kinh tế xuyên quốc gia. Bằng quan điểm phát triển, lịch sử,
cụ thể, Luận án xem xét tác động của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay đối với vấn đề chuyển
giá và “chống” chuyển giá. Các kinh nghiệm ứng phó với hoạt động chuyển giá được phân
tích và khái quát thành một số bài học có giá trị tham khảo đối với Việt Nam. Trên cơ sở
thực tiễn cụ thể của Việt Nam, Luận án cố gắng “chuyển hóa” các bài học đó thành những

doanh nghiệp. Song, đây là tài liệu cónguồn gốc rõ ràng, có độ tin cậy cao, do các cơ quan
chức năng có thẩm quyền cung cấp, tác giả đã sử dụng và dẫn chứng trung thực trong Luận
án.
Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các quy định trong hệ thống pháp
luật của Việt Nam với các quy định của OECD và một số quốc gia khác về chính sách thuế,
phương pháp định giá chuyển giao, các biện pháp/kinh nghiệm chống chuyển giá và các vấn
đề khác liên quan, từ đó xem xét thực trạng của Việt Nam và nêu đề xuất riêng.
Phương pháp nghiên cứu tình huống/trường hợp (case study) được thực hiện để nhấn
mạnh các trường hợp MNCs, doanh nghiệp FDI điển hình (trên thế giới và ở Việt Nam)
chuyển giá; các quốc gia điển hình trong ứng phó với chuyển giá. Mục đích của phương
pháp này là để làm rõ tình hình chuyển giá hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam, các thủ
thuật thực hiện chuyển giá, rút ra những kinh nghiệm về ứng phó với chuyển giá của một số
nước trên thế giới.
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để phỏng vấn một số chuyên gia, nhà khoa
học, cán bộ quản lý, viên chức ngành thuế, để hỏi ý kiến, nhận xét và hỗ trợ cho tác giả trong
quá trình thu thập tài liệu, nghiên cứu, xử lý thông tin, viết báo cáo Luận án. Đặc biệt, tác giả
Luận án thường xuyên làm việc, tham khảo ý kiến của đội ngũ cán bộ của Ban cải cách và
hiện đại hóa (Tổng cục Thuế). Trong quá trình thực hiện phương pháp chuyên gia, sau khi
hình thành các kết luận nghiên cứu, tác giả coi trọng việc tiếp tục gửi, xin ý kiến nhận xét,
xác thực của chuyên gia thêm một lần nữa.
Phương pháp điều tra thực tiễn: Tác giả Luận án không trực tiếp thực hiện điều tra
thông qua bảng câu hỏi mà sử dụng kết quả điều tra do một số cơ quan chức năng thực hiện
nhằm làm tăng độ thuyết phục, sự tin cậy cho những luận cứ, kết luận đưa ra trong luận án.
Cụ thể, Luận án đã sử dụng: i) Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu về chỉ số năng lực
cạnh tranh quốc gia Việt Nam 2013, năm 2014 của VCCI và USAID về đo lường chuyển giá
trong doanh nghiệp FDI thông qua phương pháp gọi là “Kỹ thuật đếm bất đối xứng” (UCT),
thường được gọi là bảng câu hỏi LIST; ii) Kết quả điều tra liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp FDI hoạt động ở Việt Nam của VCCI công bố trong các báo cáo thường niên;

14

nước xuất khẩu tư bản và nước tiếp nhận đầu tư... Khung lý thuyết mà Luận án bô sung, phát
triển có thể làm cơ sở lý luận để các nghiên cứu khác tham khảo hoặc giúp các nhà quản lý
có góc nhìn toàn diện hơn đối với một hiện tượng kinh tế đang trở nên phô biến trong xu thế
toàn cầu hóa, để thiết kế các giải pháp ứng phó, nhằm hạn chế các tác động tiêu cực do
chuyển giá gây ra.
Về ý nghĩa thực tiễn, Luận án đã làm rõ thực trạng chuyển giá ở trên thế giới và Việt
Nam, đánh giá được tác động của chuyển giá đối với Việt Nam, cung cấp cơ sở thực tiễn để
làm rõ hơn mâu thuẫn về lợi ích giữa thu hút FDI và những thiệt hại do chuyển giá trong

15
15


doanh nghiệp FDI gây ra. Những kinh nghiệm mà một số nước trên thế giới đang thực hiện
để chống lại hành vi chuyển giá của các MNCs mà Luận án đúc rút được, sẽ giúp các cơ
quan chức năng có thêm cơ sở thực tiễn để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Những đề xuất của Luận án về các giải pháp ứng phó với chuyển giá có ý nghĩa bổ sung,
hoàn thiện về chính sách và thực thi chính sách trong ứng phó với chuyển giá ở Việt Nam
thời gian tới.
Luận án có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu,
giảng dạy chuyên đề về chuyển giá hoặc các cơ quan chức năng có thể tham khảo để phục
cho “cuộc chiến” chống chuyển giá trong doanh nghiệp FDI.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm có 4
chương, gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý thuyết về chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Chương 3: Kinh nghiệm thế giới về kiểm soát chuyển giá và một số bài học
rút ra.

phối thu nhập chịu thuế, từ đó tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu nghĩa vụ nộp
thuế. Các nghiên cứu nước ngoài cũng đã cung cấp thực tiễn về việc “chuyển sai giá” (xác
định giá chuyển giao giữa các thành viên có quan hệ liên kết không theo giá thị trường) của
các công ty lớn và hành động của chính phủ trong kiểm soát giá chuyển giao để đảm bảo
quyền đánh thuế, tránh thất thu thuế. Lý thuyết liên quan đến giá chuyển giao và việc định
giá chuyển giao cũng đã được các nghiên cứu nước ngoài đưa ra. Có thể nêu một số tác giả
với các nghiên cứu như: Sanjaya Lall (1973) - “Chuyển giá trong các Công ty đa quốc gia”
(Transfer pricing by multinational firms); Stewart J.C (1977) - “Các công ty đa quốc gia và
chuyển giá” (Multinational companies and tranafer pricing), Lecraw D. (1985) - “Một số
bằng chứng về chuyển giá trong các tập đoàn đa quốc gia” (Some evidence on transfer
pricing Multinational Corporations); Susan C. Borkowski (1997) - “Chuyển giá tại các nước
đã và đang phát triển” (The transfer pricing concerns of Developed and Developing
countries); Pamela L. Kayfetz & Leo B. Helzel (1996) - “Chuyển giá: Công bằng thuế trong
nước đối với giao dịch quốc tế” (Transfer pricing: Achieving fair national taxation of
international transaction); Eric J. Bartelsman & Roel M.W.J. Beetsma (2003) - “Tại sao phải
trả nhiều tiền thuế? Tránh thuế doanh nghiệp bằng hình thức chuyển giá tại các nước thuộc
OECD ” (Why pay more? Corporate tax avoidance through transfer pricing in OECD
countries); Pascalis Raimondos Moller & Kimberley Scharft (2002) - “Quy định về chuyển
giá và sự cạnh tranh với chính phủ” (Trasfer pricing rules and competing governmemt);
Prem Sikka & Hugh Willmott (2010) - “Mặt tối của chuyển giá: Vai trò trong việc tránh
thuế và giữ lại lợi nhuận” (The dark side of transfer pricing: Its role in tax avoidance and

17
17


wealth retentiveness)...
Tổ chức Hợp tác kinh tế OECD và Liên hiệp quốc cũng đã ban hành “Hướng dẫn
chung về phương pháp xác định giá chuyển giao giữa các thành viên liên kết”, như một
“cẩm nang”, một “Luật” chung để làm căn cứ xác định giá thị trường trong các giao dịch của


18
18


- Luận án Tiến sỹ có: “Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính
sách thuế Việt Nam” (2002), của NCS. Phan Hiển Minh; “Các giải pháp hạn chế việc trốn
thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam” (2009),
của NCS. Nguyễn Thị Lan; “Pháp luật về kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam” (2010), của
NCS. Phan Thị Thành Dương; “Kiểm soát nhà nước đối với gian lận chuyển giá tại Việt
Nam ” (2015), của NCS Nguyễn Văn Phượng.

- Các bài báo khoa học khá nhiều, có thể nêu một số nghiên cứu sau: Đoàn Văn
Trường (2005): “Vấn đề chuyển giá của các công ty đa quốc gia”; Phan Thị Thành Dương
(2006): “Chống chuyển giá ở Việt Nam”, “Pháp luật về kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam”
(2010); Dương Thị Nhi (2011): “Chống chuyển giá, bài toán khó giải”; Phạm Tiến Đạt
(2011): “Giảipháp chống chuyển giá trong doanh nghiệp FDI”; Phan Văn Tính (2011):
“Kinh nghiệm chống chuyển giá của một số quốc gia”; Lê Xuân Trường (2012): “Chống
chuyển giá ở Việt Nam: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các điều kiện thực hiện”;
Nguyễn Quang Tiến (2012): “Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá, thực trạng và giải
pháp”; Vũ Đình Ánh (2012): “Chống chuyển giá và một số vấn đề tài chính liên quan đến
FDI”; Nguyễn Đình Tài (2013) “Chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp FDF... Qua
nghiên cứu các tài liệu, có thể thấy những nội dung trọng tâm, cơ bản được nhiều tác giả
ngoài nước và trong nước quan tâm và đã giải quyết được về lý thuyết cũng như thực tiễn về
vấn đề chuyển giá, như sau:

1.1.

Các quan điểm về khái niệm “'giá chuyển giao” trong công ty có quan hệ
liên kết

quốc tế chung phản ánh về cách tính giá trong các giao dịch kinh tế nội bộ giữa các bên
trong một công ty đa quốc gia. Đó là giá mà các công ty đa quốc gia định ra trong các nghiệp
vụ xuất khẩu và nhập khẩu của các công ty thành viên. Tuy nhiên, trong khi các nhà nghiên
cứu nước ngoài nghiên cứu về giá chuyển giao với tư cách là một khái niệm độc lập thì các
nhà nghiên cứu Việt Nam lại đặt khái niệm “giá chuyển giao” trong mối quan hệ cụ thể với
một hành vi giao dịch. Theo đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, “giá chuyển giao”
trong các giao dịch liên kết được tính cao hơn hoặc thấp hơn nhằm phục vụ các chủ đích của
doanh nghiệp, đó là giảm thiểu số thuế phải nộp để gia tăng lợi ích cuối cùng. Chính vì vậy,
việc “định giá chuyển giao” được xem là nguyên do dẫn đến vấn đề chuyển giá và từ đó có
tác động tiêu cực đến các lợi ích kinh tế, xã hội của nước tiếp nhận đầu tư.
1.2.

kết

Các quan điểm về khái niệm “chuyển giá” trong công ty có quan hệ liên

Theo nhiều nghiên cứu nước ngoài (như Sanjaya Lall (1973), Stewart J.C. (1977),
Lecraw, D. (1985), Pamela L. Kayfetz & Leo B. Helzel (1996), Susan C. Borkowski (1997)
[120],..), khi các công ty có quan hệ liên kết thực hiện các giao dịch nội bộ mà áp dụng giá
chuyển giao không theo giá thị trường (giá cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường), nhằm điều
chỉnh lãi - lỗ của các thành viên, từ đó điều chỉnh mức thuế phải nộp sao cho tổng nghĩa vụ
thuế giảm so với khi thực hiện giá giao dịch thị trường, thì hành vi đó gọi là chuyển sai giá
(Transfer mispricing..). (Các nghiên cứu ở Việt Nam thường gọi đây là chuyển giá).
Các nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra rằng, mục đích của các công ty khi thực hiện

20
20


chuyển sai giá là nhằm tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu nghĩa vụ thuế thu

21
21


Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng không phải chỉ các công ty đa quốc gia
và không chỉ các chuyển dịch tài sản, dịch vụ “qua biên giới” mới có hành vi chuyển giá, mà
các công ty trong nước, doanh nghiệp sân sau của các doanh nghiệp nhà nước, các doanh
nghiệp độc lập nhưng chủ của nó có quan hệ thân nhân cũng có thể thực hiện hành vi chuyển
giá [16]. Chẳng hạn theo tác giả Nguyễn Xuân Sơn (2012) và Nguyễn Quang Tiến (2012),
hành vi chuyển giá không chỉ diễn ra tại các công ty đa quốc gia, mà còn diễn ra giữa các
bên liên kết trong nội địa Việt Nam. Đây là trường hợp doanh nghiệp trong nước lợi dụng
những chính sách ưu đãi, thành lập một số công ty con hoạt động trong những lĩnh vực và
địa bàn khác nhau mà ở đó được ưu đãi thuế, từ đó chuyển lợi nhuận giữa các công ty này
sao cho giảm thiểu nghĩa vụ thuế xét về mặt tổng thể [83],[94]. Tương tự, theo tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hoài (2012), do các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong
cùng một quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau, từ đó, chuyển giá không chỉ diễn
ra trong các giao dịch quốc tế mà còn có trong những giao dịch quốc nội [50]. Tác giả Nhữ
Trọng Bách (2013) còn cho rằng, “chuyển giá thậm chí diễn ra ở các công ty là các chủ thể
kinh tế độc lập song chủ sở hữu của chúng lại có quan hệ “thân nhân” với nhau” [9, tr. 11].
Ở góc độ khác, trong khi đa số các nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp cận khái niệm
chuyển giá ở góc độ “giá” thì tác giả Phan Thị Thành Dương (2010) trên góc độ thuế cho
rằng chuyển giá “là hành vi làm thay đổi nghĩa vụ thuế khi thay đổi giá trong giao dịch hình
thành giữa các bên liên kết” [39, tr. 27].
Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam (và cả cơ quan quản lý về kinh tế, tài chính, thuế...)
xem chuyển giá là một hành vi không đúng, có động cơ trốn thuế [1] vi phạm quy luật cạnh
tranh trong kinh tế thị trường [90], cần nghiêm cấm [26] hoặc cần được xử lý. Tuy nhiên,
cũng có một số quan điểm khác, chẳng hạn tác giả Phan Thị Thành Dương (2010) cho rằng
chuyển giá không phải là một hành vi sai phạm, không bị xem là bất hợp pháp, nên chuyển
giá không thể bị xử phạt nếu chưa đến mức bị xem là hành vi vi phạm pháp luật do làm thiệt
hại đến quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể khác [39].

sản vô hình trong quá trình góp vốn liên doanh; (iv) chuyển giá thông qua cơ chế giá nội bộ;
(v) chuyển giá thông qua các hợp đồng độc quyền về nhập khẩu, phân phối hàng hoá hoặc
qua các hợp đồng độc quyền bao tiêu sản phẩm; (vi) chuyển giá thông qua điều chỉnh cơ cấu
trị giá hàng hoá nhập khẩu và dịch vụ đi kèm, theo hướng tăng giá trị tài sản trí tuệ [30, tr
15-16]. Tác giả Phan Duy Minh (2012) chỉ ra 6 thủ thuật chuyển giá mà doanh nghiệp FDI
thường thực hiện là: (i) Chuyển giá thông qua nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu...
(tài sản vô hình); (ii) chuyển giá thông qua nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty mẹ hoặc từ
công ty đối tác với giá cao; (iii) chuyển giá thông qua nâng chi phí các đơn vị hành chính và
quản lý; (iv) chuyển giá thông qua điều tiết giá mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các
công ty trong MNCs; (v) chuyển giá thông qua tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ; (vi)
chuyển giá thông qua các trung tâm tái tạo hóa đơn [69, tr. 24]... Tác giả Ngô Thị Thu Hồng
(2012) thậm chí còn cho rằng doanh nghiệp còn thực hiện chuyển giá thông qua các hình
thức “siêu khuyến mãi”, bán phá giá, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường [56, tr. 77]. Quan

23
23


điểm này ít thấy lặp lại ở những nghiên cứu khác, song chưa thấy nghiên cứu nào phản biện.
(Theo quan điểm của tác giả Luận án, doanh nghiệp FDI thực hiện “siêu khuyến mãi ” hoặc
bán phá giá không phải là thủ thuật chuyển giá mà là một thủ thuật cạnh tranh thị trường.
Trong nhiều trường hợp, nhờ những lợi ích có được từ chuyển giá, doanh nghiệp “mạnh tay
” trong khuyến mãi). Tác giả Trần Thị Vân Anh (2013) thì “gói” các thủ thuật lại thành 4
hình thức chuyển giá là: (i) chuyển giá thông qua nâng giá trị góp vốn; (ii) chuyển giá thông
qua chuyển giao tài sản vô hình; (iii) chuyển giá thông qua vay vốn từ các bên liên kết; (iv)
chuyển giá thông qua việc gia tăng các chi phí liên quan, các dịch vụ được cung cấp bởi
công ty mẹ hoặc các bên liên kết [6, tr. 45]. Tác giả Ngô Thị Ngọc Huyền (2014) có cách
tiếp cận các thủ thuật chuyển giá theo trình tự thời gian, cụ thể: Ở giai đoạn đầu của quá
trình đầu tư (nâng khống tài sản góp vốn); ở giai đoạn triển khai thực hiện dự án (nhập khẩu
nguyên liệu từ công ty mẹ hoặc các công ty thành viên trong cùng tập đoàn ở nước ngoài;

cả các nhà sản xuất khác (do liên quan tới vấn đề về ngoại hối xấu đi sẽ gây ra mất cân bằng
cán cân thương mại). Và hệ quả này ở các nước kém phát triển sẽ nghiêm trọng hơn ở các
nước phát triển [134].
Đồng tình với quan điểm, các nghiên cứu Việt Nam cũng cho rằng chuyển giá có
nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư. Theo tác giả Lê Xuân
Trường (2012) thì có hai tác động cơ bản. Đó là (i) nước nhận đầu tư sẽ bị thất thu ngân sách
và (ii) tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh tế [107]. Theo
tác giả Vũ Đình Ánh (2012), chuyển giá làm thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế
chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thậm chí cả thuế giá trị gia tăng; làm chỉ số ICOR của khối
doanh nghiệp FDI tăng cao, doanh nghiệp FDI không có động lực nâng cao hiệu quả quản
lý, không tăng lương cho người lao động; tạo ra những khó khăn cho việc kiềm chế lạm
phát, hạn chế khả năng cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp Việt Nam với các doanh
nghiệp nước ngoài, trên thị trường trong nước cũng như trên thị trường xuất khẩu [7]. Tác
giả Nguyễn Ngọc Tuyến (2012) cũng cho rằng, ngoài hai ảnh hưởng cơ bản trên, chuyển giá
còn làm “cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc, cản trở quá trình
áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh và đặc biệt là làm thất thu ngân sách
nhà nước” [108, tr. 94]. Tác giả Nguyễn Thị Lan (2012) và một số tác giả khác còn có góc
nhìn “sâu” hơn, khi phát hiện ra việc doanh nghiệp FDI chuyển giá sẽ thu hồi và rút vốn
nhanh ra khỏi Việt Nam, làm ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, đặc biệt là dòng vốn FDI
thực vào và chuyển ra khỏi Việt Nam [61]. Tác giả Trần Thị Vân Anh (2011) nhấn mạnh
thêm, hành vi chuyển giá sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư,
dẫn tới sự phản ánh sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, tạo ra
một bức tranh kinh tế không trung thực [6]. Theo Tác giả Nguyễn Trọng Cơ (2012) ngoài
các tác động trên, chuyển giá còn ảnh hưởng đến chính sách quản lý và điều hành kinh tế của
chính phủ [30], thậm chí tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoài (2012) còn nhận thấy “nguy cơ bất
ổn xã hội” bởi chuyển giá khiến doanh nghiệp FDI thua lỗ không chịu tăng lương, cải thiện
môi trường làm việc cũng như các thực hiện các chính sách an sinh khác đối với công nhân,
dẫn đến các cuộc đình công, bãi công [50, tr 56].

1.5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status