Đề tài nghiên cứu khoa học
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, giáo dục luôn là một trong những vấn đề
được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là giáo dục đại học. Trong bối cảnh
hiện nay, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước vấn đề làm sao để
được công nhận ngang tầm với nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế
giới như Mỹ, Anh, Úc hay với ngay những nước trong cùng khu vực như
Singapore, Malaysia. Chính vì vậy, đổi mới giáo dục đã trở thành một
yêu cầu cấp thiết. Để thực hiện thành công đổi mới giáo dục nói chung
và giáo dục đại học nói riêng thì đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục
cần phải được quan tâm như một trong những ưu tiên hàng đầu.
Sau nhiều năm chiến tranh, Việt Nam tiến lên với một xuất phát
điểm thấp kém, nền giáo dục Việt Nam chịu rất nhiều thiệt thòi. Cơ sở
vật chất cho giáo dục nghèo nàn,lạc hậu, số lượng giảng viên và sinh
viên đều thiếu, giáo dục đại học Việt Nam không thể đứng trên đôi chân
của mình. Trong điều kiện đó, cơ chế bao cấp trong giáo dục là điều cần
thiết.
Nhưng trong giai đoạn hiện nay, khi giáo dục đào tạo nói chung và
giáo dục đại học Việt Nam nói riêng đạt được những thành tựu đáng kể
với yêu cầu nâng cao cả về chất lượng và hiệu quả thì cơ chế bao cấp về
tài chính trong giáo dục đã thể hiện nhiều bất cập:
• Nguồn thu của giáo dục đại học chủ yếu vẫn nhờ ngân sách nhà
nước.
• Chi về lương chiếm tỷ trọng cao trong chi thường xuyên.
• Chi cho đầu tư phát triển còn thấp. Tiêu biểu năm 2002, ngân sách
giáo dục đại học: chiếm 2% GDP, 80% ngân sách cho chi lương và
1
Đề tài nghiên cứu khoa học
Chương III: Đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tự chủ tài chính
trong giáo dục đại học Việt Nam.
3
Đề tài nghiên cứu khoa học
ch¬ng i
GI¸O DôC §¹I HäC vµ c¬ chÕ tù chñ tµi chÝnh
trong GI¸O DôC §¹I HäC
1.1. Giáo dục ĐH:
GD là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến
quyền lợi vµ nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội,
đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm
của một quốc gia.
Bất cứ một quốc gia nào cũng phải được xây dựng và phát triển
trên nền tảng con người, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền
kinh tế tri thức đã trở thành một xu thế thời đại. Nhận thức được vấn đề
đó, Đảng và Chính phủ ta đã luôn coi trọng phát triển GD, coi GD là
quốc sách hàng đầu. Từ khi nước nhà được hoàn toàn thống nhất, Đảng
và nhân dân ta đã góp công, chung sức xây dựng nên hệ thống GD
XHCN.
Sau 20 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, GD
Việt Nam cũng đã có những chuyển biến to lớn. Nó chứng tỏ sự đúng
đắn của Nghị quyết TW 2 Khóa VIII, rồi được phát triển thêm một bước
- GD ĐH là GD sau trung học phổ thông (Xác định của
UNESCO).
- GD ĐH đã mang tính đại trà, không còn giới hạn ở GD tinh hoa
như ĐH truyền thống. GD ĐH luôn gắn với GD dạy nghề, là GD dạy
nghề. Mỗi trường ĐH đều đào tạo những ngành nghề cụ thể nhất định.
Danh mục ngành nghề đào tạo ấy không cố định, khép kín mà luôn thay
đổi, mở rộng theo yêu cầu của đời sống xã hội.
5
Đề tài nghiên cứu khoa học
C¸c trêng §H lµ n¬i đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao cho
đất nước, nơi tiếp cận tri thức ở mức cao nhất, nơi sản sinh ra tri thức
mới, tư duy mới, thúc đẩy một số lĩnh vực đi vào kinh tế tri thức, góp
phần tạo ra những bước nhảy vọt về sản xuất tiến bộ, là cửa ngõ để khoa
học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và thế giới đến với quốc gia. Nó
cũng là nơi đào tạo ra các nhà giáo cho những bậc học thấp hơn. Vì vậy,
GD ĐH có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển xã hội, đặc biệt ở giai
đoạn hiện nay, khi KHCN tiến bộ vượt bậc, kinh tế tri thức đang hình
thành và phát triển.
GD ĐH là sự nghiệp chung không chỉ được hiểu là mọi người có
trách nhiệm tích cực góp phần vào sự nghiệp phát triển GD ĐH, đóng
góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD ĐH mà còn được hiểu là
mọi người được tạo cơ hội tiếp cận với học vấn ĐH. Để cung cấp cho
đất nước một đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ trình độ đa dạng, có
ý chí phấn đấu kiên cường và năng lực giải quyết thành công những vấn
đề do thực tiễn phát triển đất nước đặt ra, các trường ĐH cần bồi dưỡng
cho sinh viên niềm say mê học tập suốt đời, tìm tòi phát hiện những điều
liên doanh liên kết theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích
luỹ; đối với hoạt động thu phí, lệ phí và sản phẩm Nhà nớc đặt hàng, đơn
vị thực hiện theo mức thu hoặc khung mức thu do Nhà nớc quy định.
Thc hin t ch ti chớnh thỡ giao khoỏn thu cho cỏc trng l cn
thit. Cỏc trng cn phi t thu, a dng húa cỏc ngun thu thỡ mi cú
ngun ti chớnh hot ng. Cỏc khon thu ca nh trng bao gm:
i) Cỏc loi phớ, l phớ hin hnh:
7
Đề tài nghiên cứu khoa học
- Học phí của người học thuộc các cấp đào tạo (trung học, cao
đẳng, ĐH và sau ĐH), các loại hình đào tạo (chính quy, không chính
quy: vừa học vừa làm ở Trường và địa phương, ĐH bằng thứ hai,
hoàn thiện kiến thức...);
- Phí dịch vụ đào tạo (các loại hình đào tạo cấp chứng chỉ);
- Lệ phí tuyển sinh ĐH (chính quy, vừa học vừa làm ở Trường và
địa phương);
- Thu về chi phí làm thủ tục nhập học, cấp văn bằng, chứng chỉ,
ôn thi tuyển sinh ĐH hệ vừa học vừa làm tại trường (nếu thí sinh có
nhu cầu); tiền thuê phòng ở nhà khách, ký túc xá; khai thác internet
hoặc intranet; thuê giáo trình, trông giữ xe đạp, xe máy...
ii) Các khoản thu từ các hoạt động KHCN, sản xuất, cung ứng
dịch vụ:
- Thu từ các hợp đồng nghiên cứu, dịch vụ KHCN, liên kết khoa
học sản xuất của các đơn vị và cá nhân;
- Thu từ các dự án KHCN với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước;
và có hiệu quả nhất. Đồng thời với quyền hạn đợc giao cần phải gắn cho
họ những trách nhiệm cụ thể thì Ngân sách phân bổ cho đơn vị mới đợc
sử dụng hợp lý, hiệu quả. Các đơn vị chỉ có thể thành công trong việc
chịu trách nhiệm đối với việc sử dụng các nguồn lực khi họ đợc thực sự
quản lý, linh hoạt sử dụng các nguồn lực đó. Cân bằng giữa quyền quản
lý và trách nhiệm là một thử thách quan trọng trong việc quản lý mối liên
hệ giữa các chức năng tài chính và các đơn vị sự nghiệp.
Cơ chế tự chủ tài chính đặt ra một số vấn đề xuất phát từ việc
chuyển từ chế độ dự toán sang chế độ tự hạch toán hay hạch toán độc
lập. Những năm đầu, có thể có ba mức hạch toán: một số đơn vị cha có
khả năng thu vẫn tiếp tục thực hiện chế độ dự toán; một số đơn vị có điều
9
ti nghiờn cu khoa hc
kiện tự hạch toán, có thể cân đối thu chi thì thực hiện cơ chế hạch toán
độc lập đầy đủ. Còn lại số đơn vị nằm ở khoảng giữa, có thu nhng không
đủ chi thì áp dụng cơ chế tự hạch toán một phần, lấy thu bù chi và nhận
một phần nguồn tài chính từ Ngân sách trong một thời gian nhất định.
Trong quá trình cải cách từng bớc, những đơn vị dự toán sẽ chuyển thể
dần thành đơn vị hạch toán một phần; những đơn vị hạch toán một phần
sẽ chuyển thể dần thành đơn vị tự hạch toán đầy đủ.
Giao khoỏn chi cho cỏc trng l vic cn phi lm cú t ch ti
chớnh trong GD H. Cỏc trng phi t hch toỏn cỏc khon chi trong
khuụn kh cho phộp, ch ng ti chớnh trong cỏc khon chi ny va
cú hiu qu trong o to li va thu thờm li nhun, tng thu cho
trng. Bc u NSNN cú th bự p cho cỏc khon chi vt quỏ, sau
ú dn tin ti cỏc trng t chi m khụng ph thuc vo Nh nc.
biên chế để tạo nguồn tài chính, nâng cao thu nhập cho cán bộ viên chức.
Tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, các trờng đợc xác định
tổng mức chi trả thu nhập trong năm của trờng tối đa không quá ba lần
quỹ tiền lơng, cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nớc quy định. Nhà trờng tạo điều kiện tăng thu nhập cho những giáo viên và công nhân viên
nhà trờng trên cơ sở ngời nào có hiệu suất lao động cao, đóng góp nhiều
cho việc tăng thu, tiết kiệm chi đợc trả nhiều hơn. Hiệu trởng, giám đốc
các trờng lập phơng án chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của
đơn vị. S thu lớn hơn chi đợc sử dụng để tăng thu nhập cho cán bộ viên
chức và mức tăng sẽ do hiệu trởng các trờng quyết định.
Các trờng đợc tự chủ sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong
năm để trích lập các quỹ: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen
thởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
11
ti nghiờn cu khoa hc
1.2.3. Các vấn đề đi kèm cơ chế tự chủ tài chính
Nếu hiểu tự chủ là các trờng muốn làm gì cũng đợc thì vô hình
chung hoạt động của Nhà trờng sẽ trở thành vô Chính phủ. Các trờng đợc
tự chủ về tài chính nhng phải nằm trong khuôn khổ quy định của pháp
luật. Nhà nớc giao cho các trờng quyền chủ động trong vấn đề tài chính
nhng bên cạnh đó vẫn có các văn bản luật hớng dẫn, quy định thực hiện.
Bộ quản lý Nhà nớc về GD cũng không phải là Bộ chủ quản của các trờng mà thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nớc là tạo môi trờng
thuận lợi cho GD phát triển, thiết kế chính sách, huy động nguồn lực của
xã hội, tổ chức thực hiện, điều tiết, kiểm tra, giám sát và đánh giá.
Tự chủ là một mặt của vấn đề, mặt thứ hai là nhà tròng phải tự chịu
trách nhiệm với xã hội - nơi cung cấp nhân lực và với Bộ GD&ĐT. Do
đó cần thiết phải xây dựng cơ chế tự chịu trách nhiệm và phải xây dựng
tiết kiệm chi. Thứ nữa, tự chủ tài chính sẽ làm giảm chi phí thanh tra,
giám sát. Trớc đây, khi mọi việc đều do Bộ chủ quản quyết định thì phải
duy trì hệ thống thanh tra, kiểm tra cồng kềnh để quản lý việc sử dụng
tài chính theo quy định. Cơ chế quản lý nh vậy gây ra tâm lý ỷ lại, thiếu
trách nhiệm bởi nếu có vấn đề gì thì cơ quan cấp trên sẽ đứng ra giải
quyết, dẫn đến tình trạng làm qua loa, đại khái, không hiệu quả. Nhng
khi các trờng phải chủ động hơn về tài chính, mọi hoạt động đều gắn liền
với trách nhiệm thì nhà trờng sẽ làm việc có hiệu quả hơn, năng suất hơn
và làm giảm chi phí thanh tra, giám sát.
Thứ hai, tự chủ về tài chính sẽ tiến tới tự chủ về nội dung, nâng cao
chất lợng Giáo dục - đào tạo, tăng quyền lợi cho sinh viên. Bởi khi thực
hiện tự chủ thì các trờng phải tự hạch toán thu - chi sao cho có lãi nên
13
ti nghiờn cu khoa hc
nhà trờng sẽ phải đổi mới nội dung GD theo kịp với xu thế phát triển trên
thế giới nhằm thu hút thêm nhiều sinh viên. Với động lực mạnh mẽ
khuyến khích tạo nguồn thu, các trờng đã nhanh chóng đa ra các chơng
trình đào tạo phong phú nh học chính quy, học bán thời gian, học từ xa
nhằm đáp ứng nhu cầu ngời học. Do cơ chế tự chủ, các trờng sẽ tích cực
hơn trong việc tìm kiếm những hợp đồng GD, đặc biệt là tìm kiếm những
cơ hội liên kết với các trờng ĐH nớc ngoài, tạo thuận lợi cho sinh viên đợc tiếp cận với những nền GD tiên tiến trên thế giới. Chất lợng GD ngày
càng tăng, nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội có trình độ ngày càng
cao góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc. Đặc
biệt trong tình hình hiện nay, khi mà nền kinh tế thế giới đang dần
chuyển sang kinh tế tri thức thì nâng cao trình độ ngời lao động là yếu tố
quan trọng để phát triển.
Th ba, tự chủ tài chính theo khuynh hớng tăng thu tiết kiệm chi đã
trả. Lấy ví dụ một trong những biện pháp tăng thu mà các trờng dễ áp
dụng là tăng học phí. Nếu học phí quá cao sẽ làm mất đi cơ hội học tập
của nhiều ngời nghèo. Lúc này thì những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ học
sinh, sinh viên nghèo của Nhà nớc và các tổ chức xã hội là rất cần thiết
để đảm bảo GD bình đẳng cho mọi ngời dân.
Th hai, xuất hiện s cnh tranh thiu lnh mnh gia cỏc trng
H cú cựng mt ni dung o to. thu hỳt hc viờn, cỏc trng cú
th a ra nhng u ói hp dn nh s cnh tranh v hc phớ... Vỡ phi
bự ắp s thiu ht v ngun thu do h hc phớ cỏc trng ct gim thi
gian o to, o to nhi nhột trong thi gian ngn ng thi ct gim
15
ti nghiờn cu khoa hc
nhng dch v i kốm o to dn ti gim cht lng o to v sinh
viờn hc viờn l nhng ngi chu thit thũi nhiu nht.
Th ba, tự chủ tài chính cng s gõy khú khn cho cỏc trng nh,
cú b dy hot ng cha nhiu. ú l nhng khú khn v thu hỳt hc
sinh, sinh viờn, khú khn do CSVC nh, uy tớn cha c khng nh
mnh, to lũng tin vi cỏc i tỏc nc ngoi. Tuy nhiờn, nhng
khú khn ny li l mt ng lc thỳc y cỏc trng chỳ trng hn na
vo cht lng GD&ĐT, h s mt nhiu thi gian hn lc cnh
tranh bỡnh ng vi cỏc trng ln, nhng nhng bc tin ca h l
nhng bc tin vng chc.
Th t, tự chủ tài chính cũn cú mt tỏc ng tiờu cc na l cú th
lm xut hin xu th chy theo li nhun, dn ti vi phm nhng quy
nh, quy ch trong GD H. Vỡ li nhun, mt s trng ĐH s m rng
quy mụ o to tc l tng s hc viờn, sinh viờn, tng s gi dy v cỏc
sách đợc kiểm soát đã giảm từ 9 mục xuống còn 4 nhóm mục trong đó
có 3 nhóm mục chi thờng xuyên là chi cho con ngời, chi hoạt động và
bảo dỡng và chi khác. Hơn thế nữa, hệ thống định mức phân bổ ngân
sách đã đợc thay đổi theo hớng ngành nào, lĩnh vực nào cần nhiều thì cấp
nhiều. Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung và với các trờng ĐH Công lập nói riêng thì sự sửa đổi của Luật NSNN năm 2002 đã
giúp giảm bớt sự phụ thuộc tài chính theo sự chỉ đạo từ ngân sách. Tuy
nhiên, quyền tự chủ chi ngân sách ở Luật này vẫn hẹp hơn so với Nghị
định 10/NĐ-CP. Nghị định này hớng tới mục tiêu giao quyền và khuyến
khích hoạt động có hiệu quả và thúc đẩy sự tích cực hơn nữa của các đơn
vị sự nghiệp. Nó làm thay đổi cơ bản cơ chế cấp kinh phí cho các đơn vị
sự nghiệp có thu và giảm mức lệ thuộc của các đơn vị này vào NSNN.
17
ti nghiờn cu khoa hc
1.4.2. Nghị định 10/NĐ-CP
Nghị định 10/NĐ-CP qui định việc áp dụng dự toán ngân sách theo
hình thức khoán chi đối với tất cả các đơn vị hành chính sự nghiệp. Trên
thực tế thì tất cả các trờng ĐH công lập ở nớc ta đều là các đơn vị hành
chính sự nghiệp nên Nghị định 10/NĐ-CP cũng là một văn bản pháp quy
phải tuân theo trong quá trình triển khai tự chủ tài chính.
Nghị định 10/NĐ-CP hớng tới mục tiêu giao quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm cho các đơn vị hành chính sự nghiệp để hoàn thành nhiệm
vụ đợc giao, phát huy có hiệu quả mọi khả năng của đơn vị để cung cấp
nhiều hàng hoá, dịch vụ với chất lợng ngày càng cao cho xã hội. Nghị
định quy định việc chuyển từ cấp NSNN cho đơn vị thụ hởng ngân sách
sang hình thức khoán chi với mức khoán giao ổn định trong 3 năm. Thực
hiện Nghị định 10/NĐ-CP sẽ làm tăng thêm quyền tự quyết của thủ trởng
các đơn vị: họ đợc quyền chủ động phân bổ ngân sách, đợc khuyến khích
dụng tài chính tại các đơn vị sự nghiệp. Các quy định trong Nghị định
10/NĐ-CP trao quyền kiểm soát đáng kể việc phân bổ ngân sách cho nhà
trờng. Bằng cách khuyến khích nhà trờng tăng thu, tiết kiệm chi, chủ
động trong các khoản thu - chi, Nghị định 10/NĐ-CP sẽ góp phần làm
hoàn thiện hơn nữa hệ thống GD ĐH nớc ta.
1.4.3. Thông t liờn tch s 21/2003/TTLT-BTC-BGD&TBNV ngy 24/3/2003
Liên Bộ Tài chính, Giáo dục - Đào tạo và Nội vụ đã ban hành
thông t 21 hớng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các cơ sở GD & ĐT
công lập hoạt động có thu.
Theo đó, các cơ sở GD & ĐT công lập đợc chủ động trong nhiều
khoản chi trả tài chính. Các cơ sở này có 11 khoản thu sự nghiệp và 11
19
ti nghiờn cu khoa hc
khoản chi thờng xuyên. Cơ sở GD & ĐT công lập hoạt động có thu tự
đảm bảo đợc toàn bộ chi phí hoạt động thờng xuyên thì đợc giao dự toán
ổn định trong 3 năm. Cơ quan chủ quản không giao số thu sản xuất cung
ứng dịch vụ cho cơ sở GD & ĐT công lập hoạt động có thu. Trờng hợp
đơn vị tiết kiệm chi kinh phí thờng xuyên hoặc tăng thu phần phí, lệ phí
đợc để lại so với dự toán đợc giao thì đơn vị đợc sử dụng toàn bộ nguồn
kinh phí tiết kiệm đợc và số tăng thu để bổ sung quỹ tiền lơng và kinh
phí hoạt động của đơn vị. Trờng hợp hụt thu so với dự toán đợc giao thì
đơn vị phải có biện pháp giảm chi tơng ứng để bù đắp lại.
Đối với những đơn vị sự nghiệp đợc cơ quan có thẩm quyền giao
thu về sản xuất, cung ứng dịch vụ, khi thu vợt chi thì đơn vị đợc sử dụng
toàn bộ số d ra để tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên, đầu t vào cở sở
vật chất và khi giảm thu đơn vị phải giảm chi tơng ứng.
Cũng theo Thông t 21, thủ trởng của các cơ sở GD & ĐT công lập
ti nghiờn cu khoa hc
Chơng ii
Cơ chế tài chính trong GIáO DụC ĐạI HọC việt nam
2.1. Tình hình phát triển GD đào tạo ĐH Việt Nam trong giai
đoạn gần đây
Nền kinh tế Việt Nam sau 20 năm đổi mới đã thu đợc những thành
tựu to lớn: góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo ra sự chuyển biến mạnh
mẽ, khắc phục về căn bản khủng hoảng kinh tế xã hội, đẩy nền kinh tế
tăng trởng và phát triển nhanh, cải thiện đời sống nhân dân. Về cơ bản đã
xoá bỏ mô hình phát triển kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung và
chuyển sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc theo định
hớng XHCN.
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, đào tạo ĐH ở Việt
Nam trong gần 10 năm qua đã đạt đợc những thành tựu to lớn về các
mặt: nâng cao dân trí, mở rộng mạng lới, phát triển quy mô, tăng cờng
CSVC nhà trờng, xây dựng đội ngũ giáo viên, đào tạo nhân lực và đã có
những thay đổi về mặt cơ cấu, cơ chế và chính sách.
Mạng lới các trờng ĐH trong cả nớc đang đợc bố trí, sắp xếp, điều
chỉnh lại theo Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tớng Chính phủ phê duyệt: Quy hoạch mạng lới các trờng ĐH và cao
đẳng giai đoạn 2001-2010 và Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày
28/12/2001 của Thủ tớng Chính phủ phê duyệt: Chiến lợc phát triển GD
2001-2010.
Tính đến tháng 3/2006, cả nớc có 110 trờng ĐH, học viện, trong đó
có 89 trờng ĐH công lập. Các trờng đợc phân bổ trong cả nớc nhng tập
22
ti nghiờn cu khoa hc
đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng tăng về lợng giảng viên ĐH, trong khi
thực tế với mức lơng hiện nay cán bộ giảng viên hầu hết chỉ muốn tham
gia giảng dạy, quản lý điều hành các trung tâm dịch vụ hoặc các hoạt
động đào tạo khác để tăng thu nhập. Các hoạt động này chiếm phần lớn
thời gian của cán bộ giảng viên, chính vì vậy thời gian đầu t cho NCKH
và tiếp tục nâng cao trình độ bị hạn chế, điều này làm cho số lợng thạc sĩ
luôn nhiều hơn tiến sĩ.
24
ti nghiờn cu khoa hc
Bảng 1. Trình độ giảng viên ở đào tạo ĐH
Đơn vị tính: ngời, %
Năm
2000-2001
2001-2002
2002-2003
2003-2004
2004-2005
Tuyệt Tơng
24362 100
25546 100
27393 100
28434 100
33969 10
Tiến s
4454
18,28
4812
18,84
5286
19,3
5179
18,21
5977
529
1,86
507
17
1,5
khoa I
và II
ĐH và 12422 50,99
12361 48,39
12893 47,07
13288 46,73
15613 45
204
348
228
412