NGUỒN VỐN CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN - KINH NGHIỆM CHÍNH
SÁCH CỦA ÚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
NGUỒN VỐN CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN - KINH NGHIỆM
CHÍNH SÁCH CỦA ÚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
TS Đào Thị Thu Giang,ThS Trần Đức Duy
Tóm tắt
Bài viếttập trung nghiên cứu các chính sách của Úc trong việc phát triển
nguồn vốn cả ở trong nước và từ thu hút nguồn vốn nước ngoài cho khu vực
kinh tế tư nhân. Thông qua các quy định pháp luật và tổ chức bộ máy chính
quyền, chính phủ Úc đã tạo ra một thị trường tài chính phát triển nhanh mà
vẫn ổn định. Một số chương trình, chính sách quan trọng của chính phủ Úc đã
giúp hỗ trợ và huy độngnguồn vốn với mục tiêu dẫn dắt nền kinh tế nói chung
và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng phát triển theo đúng hướng chiến
lược.Bài viết cũngđánh giá thực trạng tiếp cận và sử dụng nguồn vốn của khu
vực kinh tế tư nhân Úc, trên cơ sở đó rút ra các bài học cho Việt Nam.
Từ khóa:Chính sách hỗ trợ nguồn vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh tế
tư nhân
Abstract
This paper focuses on studying Australia’s policies in developing the domestic
capital sources as well as mobilizing foreign invested capital for the nation’s
private economic sector. By means of legal regulations and governmental
bodies’ organization, Australian government has created a fast and stably
growing financial market. Several important programs and policies of
Australia have supported and mobilized necessary funds, aiming at guiding
the development of the economy in general and the private sector in
particular towards government’s strategic orientation. The paper also
analyzes the situation of Australian private sector in accessing and utilizing
capital, and then points out relevant lessons for Vietnam.
Key words: Capital supporting policies, foreign invested capital, private
economic sector
đánh giá cao vai trò của thị trường tài chính đến toàn bộ nền kinh tế.ASIC
đóng vai trò củng cố và điều chỉnh luật doanh nghiệp và luật tài chính để bảo
vệ người tiêu dùng, nhà đầu tư cũng như những bên cho vay. Được thành lập
ngày 1/1/1991 với tên gọi ban đầu là ASC (Ủy ban Chứng khoán Úc) với mục
tiêu là tập hợp các tổ chức điều phối doanh nghiệp trên toàn nước Úc. Đến
nay, ASIC đã mở rộng hơn rất nhiều so với lúc mới thành lập cả về phạm vi
lẫn trách nhiệm, đóng góp lớn vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Úc.
Cụ thể, tổ chức này cùng với chính phủ đã đề ra luật về Ủy ban Chứng khoán
và Đầu tư Úc đồng thời đóng góp vào việc xây dựng, điều chỉnh các điều
khoản có liên quan đến thị trường tài chính như sau:
Trong đạo luật công ty Corporation Act 2001 (Luật qui định về các tập đoàn
kinh doanh và các hoạt động, dịch vụ tài chính) có chương thứ 7 quy định
riêng về các dịch vụ tài chính và thị trường tài chính. Trong chương có những
quy định về việc cấp phép hoạt động cũng như giới hạn của các thị trường tài
chính, vai trò của chính phủ và ASIC trong việc quản lý chúng, quy định về các
phương thức bù trừ và thanh toán, các chính sách đền bù, việc cấp phép các
đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính, tính minh bạch của các dịch vụ tài chính,
các sản phẩm tài chính và các điều khoản có liên quan khác. Đồng thời nó còn
quy định rõ những sai phạm và những điều nghiêm cấm trong hoạt động tài
chính. Nhờ đó mà đảm bảo hành lang pháp lý để thị trường tài chính hoạt
động thông suốt, ổn định, tạo nên một nguồn cung an toàn về vốn cho các
doanh nghiệp.
Cùng với đó là Luật về ủy ban chứng khoán và đầu tư Úc(Australian
Securities and Investments Commission Act 2001) đề cập không chỉ đến cách
thức tổ chức của ủy ban ASIC mà còn đề ra những quy định để đảm bảo
quyền lợi cho khách hàng khi tham gia vào hoạt động tài chính, đồng thời đề
ra những chuẩn mực của báo cáo tài chính, chuẩn mực có liên quan đến hoạt
động kiểm toán như quyền hạn, trách nhiệm của các công ty kiểm toán,
chuẩn mực kế toán, kiểm toán và các hoạt động có liên quan đến thị trường
chứng khoán và hoạt động đầu tư khác
ngân hàng dự trữ 1959 (Reserve Bank Act 1959). Vì hoạt động như một ngân
hàng trung ương nên Ngân hàng dự trữ Úc phải đảm bảo các chính sách cả
về hệ thống tiền tệ, tài chính lẫn hệ thống thanh toán cho nên Ngân hàng dự
trữ chia làm 2 bộ phận chính là Ủy ban Ngân hàng dự trữ (Reserve Bank
Board) đảm bảo cho hệ thống tiền tệ và ổn định tài chính và Ủy ban thanh
toán (Payments System Board) chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến hệ
thống thanh toán. Một số điểm chính trong các chính sách của Ngân hàng dự
trữ có liên quan trực tiếp đến thị trường tài chính và hoạt động luân chuyển
vốn như sau:
Ø Thứ nhất là về chính sách tiền tệ: các chính sách tiền tệ là do Ủy ban Ngân
hàng dự trữ quy định và thực hiện.Ngân hàng dự trữ sử dụng chính sách lạm
phát mục tiêu để kiềm chế lạm phát cụ thể là mức trung bình trong trung hạn
từ 2% đến 3%theo đó ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh lãi suất cơ bản (ở
Úc có tên gọi là Cash Rate) chính là lãi suất cho vay qua đêm của thị trường
liên ngân hàng chứ không can thiệp trực tiếp vào lãi suất huy động và cho
vay thông thường.Chính phủ Úc xác định kiểm soát lạm phát sẽ đảm bảo cho
giá trị của đồng tiền nhờ đó khuyến khích kinh tế phát triển mạnh về dài hạn.
Vì không có tác động trực tiếp nênlãi suất huy động và cho vay tự điều chỉnh
theo thị trường.
Ø Ngân hàng dự trữ Úc cũng xác định rõ ràng việc ổn định cả hệ thống tài
chính của nền kinh tế là hết sức cần thiết nên đã đặt ra chức năng riêng là
“Ổn định tài chính” (Financial Stability). Cụ thể, chức năng này chính là việc
đảm bảo cho các trung gian tài chính, các thị trường tài chính dễ dàng luân
chuyển dòng vốn giữa những người tiết kiệm và nhà đầu tư giúp đóng góp sự
phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh. Để làm được điều này, ngân
hàng dự trữ đã phải phối hợp với ASIC, kho bạc Úc, và APRA - Cơ quan giám
sát Cơ sở tài chính và Bảo hiểm Úc (Australian Prudential Regulation
Authority) để hình thành CFR – Hội đồng điều tiết tài chính (Council
Financial Regulators) để thực hiện việc phân loại, kiểm soát các định chế tài
chính. Việc đăng ký và các quy định về quyền hạn và chức năng của các định
hướng được sự phát triển của cả nền kinh tế. Mỗi chương trình sẽ hướng tới
một hoặc một vài mục tiêu cụ thể nhưng nhìn chung đều là hỗ trợ khởi
nghiệp kinh doanh, hoặc hỗ trợ những mặt hàng mới nhưng có ý nghĩa lâu
dài trong tương lai.
* Chương trình Commercialisation Australia
Chương trình Commercialisation Australia là chương trình hỗ trợ đáng tin
cậy và có tính cạnh tranh cao nhằm mục đích cấp vốn và các tài nguyên
thông tin, tri thức khác cho việc thúc đẩy tiến trình xây dựng một hoạt động
kinh doanh một sản phẩm tri thức. Chương trình đem đến cho các công ty,
những cá nhân kinh doanh, các nhà nghiên cứu, những nhà phát minh, sáng
chế để nhằm mục đích thương mại hóa những tài sản tri thức, những phát
minh, sáng kiến mới.
Chương trình có nhiều mức cấp vốn đa dạng cùng với một hệ thống thông tin
các cơ hội để giúp đạt được thành công trong kinh doanh. Vì những sản
phẩm về tri thức mới thường khó được chấp nhận trong thời gian đầu vì nó
có tính mạo hiểm cao nên ít được đầu tư và do vậy cũng khó tiếp cận với thực
tiễn. Như vậy chương trình có tính chất như một quỹ đầu tư mạo hiểm, chính
phủ Úc thông qua chương trình này sẽ đem những sản phẩm nghiên cứu,
những phát minh của những nhà nghiên cứu, những doanh nghiệp đổi mới
thành sản phẩm kinh doanh thành công.
Tùy theo nhu cầu được hỗ trợ mà chương trình chia làm 4 loại hỗ trợ:
Ø Hỗ trợ kỹ năng và kiến thức (Skills and Knowledge support): hỗ trợ đến
50.000 AUD để trả cho dịch vụ và chuyên gia tư vấn. Việc hỗ trợ này giúp xây
dựng các kỹ năng và kiến thức cần thiết để thương mại hóa những sản phẩm
tri thức.
Ø Nhà điều hành có kinh nghiệm (Experienced Executives) : hỗ trợ đến
350.000 AUD trong 2 năm để giúp cho việc tuyển dụng một giám đốc điều
hành hay một nhà điều hành khác.
Ø Tài trợ cho minh chứng tồn tại (Proof of Concept grants): hỗ trợ từ 50.000
đến 250.000 AUD để thử kiểm chứng khả năngtồn tại của một sản phẩm mới,
dụng công nghệ kỹ thuật cải tiến vào sản xuất). Những ngành này đều là
những ngành có tiềm năng và luôn đổi mới trong tương lai, hạn chế tác động
tiêu cực đến môi trường cho nên sẽ đảm bảo cho sự phát triển lâu dài bền
vững.
* Chương trình AusIndustry
Đây là chương trình rất lớn của chính phủ nhằm hỗ trợ vốn cho các doanh
nghiệp đang tồn tại và những doanh nghiệp mới thành lập có thể đổi mới
thường xuyên để phát triển và thành công. AusIndustry là chương trình đặc
biệt trực thuộc bộ Công nghiệp, Đổi mới, Khoa học, Nghiên cứu và Giáo dục
đại học (Department of Industry, Innovation, Science, Research and Tertiary
Education) nhằm thực hiện nhiều chương trình phạm vi rộng lớn hỗ trợ kinh
doanh với bất cứ quy mô nào và thuộc mọi lĩnh vực. Chương trình hoạt động
xuyên suốt qua mọi cấp chính phủ và tác động đến cả những vùng đất xa xôi
nhất của nước Úc. Nhiệm vụ của chương trình chính là hỗ trợ các đơn vị kinh
doanh tiếp cận và thích nghi với những điều kiện của nền kinh tế hiện tại và
giữ vững khả năng cạnh tranh để phát triển trong tương lai. AusIndustry
thực hiện nhiều chương trình nhỏ, hàng năm cấp khoảng 2 tỉ đô la Úc tiền
vốn thông qua các chương trình này cho nền kinh tế, một số chương trình có
thể kể đến như sau:
Ø Chương trình hỗ trợ cho Công nghệ sạch: Chương trình bắt đầu từ tháng
07/2011 nhằm cung cấp sự hỗ trợ cho việc quá độ lên sử dụng những công
nghệ sạch cho ngành công, thương nghiệp. Cụ thể chương trình hỗ trợ vốn
khuyến khích các cơ sở kinh doanh kiềm chế lượng các bon thải ra mà đảm
bảo cho sản phẩm vẫn không bị giảm sút đi tính cạnh tranh trong nền kinh tế.
Đồng thời cũng hỗ trợ vốn để cho việc nghiên cứu và phát triển tiếp tục các
công nghệ sạch mới. Đây có thể được coi là chương trình cốt lõi và được đầu
tư nhiều,chỉ tính riêng lượng vốn cấp cho các cơ sở kinh doanh để khuyến
khích giảm chất thải và đầu tư vào công nghệ sạch đã là 1,2 tỉ AUD.
Ø Chương trình hỗ trợ cho Đổi mới và Nghiên cứu phát triển: Đây cũng là
chương trình chính của AusIndustry, chương trình này hướng đến việc miễn
tiết tạo điều kiện và hành lang pháp lý rộng để các doanh nghiệp tái cơ cấu,
tái đầu tư sau khủng hoảng nên đã có thể nâng mức đầu tư lên đến 18,5% so
với tổng GDP vào năm 2012. Điều đó đảm bảo cho sự phục hồi nhanh chóng
của cả nền kinh tế.
* Tiếp cận nguồn vốn thông qua vay vốn ngân hàng
Nhờ có nhiều chính sách hợp lý đảm bảo cho sự ổn định của thị trường tài
chính là tiền đề cho việc tiếp cận nguồn vốn dễ dàng cho các doanh nghiệp tư
nhân. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng dự trữ và của Tổng cục thống kê
Úc thì mức độ tăng trưởng tín dụng cũng như nguồn cung về tiền nhìn chung
đều đạt mức tăng ổn định từ năm 2010 đến nay. Đặc biệt như trong hình 3,
chúng ta có thể thấy được mức tăng trưởng rất mạnh trong hoạt động kinh
doanh, cho thấy nhu cầu sử dụng vốn của các doanh nghiệp tư nhân là rất
lớn. Rõ ràng việc nhanh chóng đổi mới và ổn định thị trường tài chính, chính
là tiền đề quan trọng để các doanh nghiệp thích ứng và tự vượt qua khó khăn
của khủng hoảng.
Hình 2: Tăng trưởng tín dụng và lượng tiền tệ trong lưu thông qua các
năm
Tín dụng
Nguồn: Ngân hàng dự trữ Úc, 2013
Hình 3: Tăng trưởng tín dụng trong từng lĩnh vực
Kinh doanh
Cá nhân
Bất động
sản
Nguồn: Ngân hàng dự trữ Úc, 2013
Tính đến tháng 1 năm 2013 thì tổng tăng trưởng tín dụng trong khu vực tư
nhân là 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tín dụng cho hoạt động
cấu
Hợp đồng
chênh
lệch
Hợp
đồng
tương
lai
02/
2013
11.693.04
2
01/
2013
13.697.44
0
25.563 11.785.11623.483 9.407.049 3.348
12/
2012
10.722.70
7
22.041 12.900.59517.310 8.432.198 30.882
11/
2012
12.752.02
6
28.397 12.531.30623.266 8.690.812 29.572
10/
2
7.931
04/
2012
11.100.82
1
21.729 11.346.90021.215 4.309.578 3.686
Nguồn: Ủy ban giao dịch chứng khoán Úc, 2013
Nhìn chung, thị trường chứng khoán ở Úc phát triển đồng đều và đa dạng với
nhiều loại sản phẩm tài chính khác nhau đảm bảo giảm thiểu rủi ro. Thị
trường tài chính phát triển ổn định là tiền đề cho sự phát triển cả nền kinh tế.
Ngoài ra, chỉ số niêm yết ASX200 của Úc cũng hồi phục nhanh sau khủng
hoảng đến nayđã vượt qua mức 250 điểm so với mức 220 vào năm 2011 và
vẫn đang có xu hướng tăng tiếp trong tương lai.
Hình 4: Chỉ số giá cố phiếu Úc và của một số nước khác trên thế giới
Nguồn: Ngân hàng dự trữ Úc
Việc phát hành trái phiếu cũng là hình thức khá hiệu quả để thu hút vốn đầu
tư, chỉ xét trong phạm vi các tổ chức tư nhân thì hoạt động phát hành trái
phiếu vẫn tăng trưởng từ trước khi khủng hoảng và đến nay thì vẫn được giữ
vững ở mức khá cao là 450 tỉ AUD.
Hình 5: Lượng trái phiếu phát hành ở ÚcChính phủ các
bang
Chính phủ Úc*
Ngoài chính phủ**
*Không tính đến trái phiếu mua bởi Chính phủ Úc
** Ngoại trừ việc tựchứng khoán hóabởicác định chế tài chính
Nguồn: Ngân hàng dự trữ Úc và Ủy ban thống kê Úc, năm 2013
tiếp nước ngoài
– FDI (triệu đô
la Úc)
Tỉ lệ vốn
đầu tư
trực tiếp
(%)
Hoa Kỳ 555.868 27,4 122.379 24,1
Vương quốc Anh 470.846 23,2 69.747 13,7
Nhật Bản 123.410 6,1 52.334 10,3
Singapore 48.709 2,4 19.966 3,9
Hà Lan 43.706 2,2 32.870 6,5
Thụy sỹ 42.281 2,1 23.005 4,5
Hồng Kông 39.416 1,9 6.714 1,3
New Zealand 29.707 1,5 5.980 1,2
Canada 25.048 1,2 17.326 3,4
Lúc-xăm-bua 23.542 1,2 2.344 0,5
Đức 22.491 1,1 14.333 2,8
Pháp 20.036 1,0 6.777 1,3
Trung Quốc(lục địa) 19.047 0,9 13.354 2,6
Thị trường vốn quốc
tế
46.355 2,3 0 0,0
Vốn đầu tư không xác
định
322.874 15,9 31.296 6,2
Nguồn khác 196.696 9,7 88.935 17,5
Tổng cộng 2.030.032 100,0 507.360 100,0
APEC 891.925 43,9 249.764 49,2
ASEAN 79.263 3,9 27.724 5,5
Kinh tế
Nhà nước
Kinh tế ngoài
nhà nước
Khu vực có vốn
đầu tư nước
ngoài
Giá thực tế Tỷ đồng
2005 343135 161635 130398 51102
2006 404712 185102 154006 65604
2007 532093 197989 204705 129399
2008 616735 209031 217034 190670
2009 708826 287534 240109 181183
2010 830278 316285 299487 214506
2011 877850 341555 309390 226905
Cơ cấu(%)
2005 100,0 47,1 38,0 14,9
2006 100,0 45,7 38,1 16,2
2007 100,0 37,2 38,5 24,3
2008 100,0 33,9 35,2 30,9
2009 100,0 40,5 33,9 25,6
2010 100,0 38,1 36,1 25,8
2011 100,0 38,9 35,2 25,9
Nguồn: Tổng cục thống kê,Niên giám thống kê, 2011
Về cơ cấu nguồn vốn đầu tư không có sự biến động lớn chỉ có sự chuyển dịch
một phần nhỏ nguồn vốn từ kinh tế nhà nước sang các thành phần kinh tế tư
Tháng 10 100,4 100,2 100,7 99,8 100,4 101,1 100,4
Tháng 11 100,4 100,6 101,2 99,2 100,6 101,9 100,4
Tháng 12 100,8 100,5 102,9 99,3 101,4 102,0 100,5
Bình quân tháng 100,7 100,5 101,0 101,5 100,5 100,9 101,4
Tháng 12 năm
báo cáo so với
tháng 12 năm
trước
108,4 106,6 112,6 119,9 106,5 111,8 118,1
Năm trước =100 108,3 107,5 108,3 123,0 106,9 109,2 118,6
Năm 2005 = 100 100,0 105,7 114,5 140,8 150,5 164,3 194,8
Nguồn: Tổng cục thống kê,Niên giám thống kê, 2011
Lạm phát vẫn còn cao nên lãi suất cho vay vẫn không thể hạ thấp quá nên các
doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn vẫn khó có thể tiếp cận. Theo bảng 4,
chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 tăng gần gấp đôi so với chỉ số giá tiêu dùng
năm 2005 gây khó khăn cho các chính sách của chính phủ cũng như giảm
hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Ngoài ra,việc quản lý hành chính thông qua trần
lãi suất, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc của nhà nước nhiều khi còn gây khó khăn cho
các ngân hàng. Nhiều ngân hàng tiềm lực còn yếu kém, gặp nhiều khó khăn
trong việc giải quyết nợ xấu, trong việc thiếu thanh khoản nên chưa tạo được
nguồn vốn ổn định.
Ø Thứ hai là việc kiểm soát các nguồn vốn của nhà nước cấp ra và nguồn vốn
từ nước ngoài còn yếu kém:
Việc quản lý vốn chưa hiệu quả, gây thất thoát lớn do tham nhũng, một số
trường hợp điển hình như PMU18 và gần đây là dự án Đại lộ Đông Tây; chi
phí và quy trình để chuyển vốn đến nơi có nhu cầu còn tốn kém và phức tạp;
công tác theo dõi đánh giá tình hình đầu tư chưa đầy đủ, sát sao và còn nhiều
hạn chế.
Đến năm 2009, với mức GDP bình quân đầu người là 1.109 đôla Mỹ, Việt Nam
đã được xếp vào hàngcác nước có mức thu nhập trung bình thấp theo cách
cực thúc đẩy các hình thức thanh toán, phát triển mạng lưới thanh toán cũng
như các loại dịch vụ thanh toán thông qua séc, các loại thẻ, qua giao dịch
trực tuyến,… để việc thanh toán được dễ dàng, kịp thời nhưng vẫn an toàn
đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Ø Chúng ta cần chủ động thu hút những nguồn vốn từ bên ngoài vào nước ta
bằng cách đưa ra những chính sách hấp dẫn với nhà đầu tư từ bên ngoài. Đổi
mới và sủa chữa cách quản lý để tránh thất thoát và tiêu cực. Tiếp tục sửa
đổi và bổ sung những quy định liên quan đến việc tạo điều kiện pháp lý cho
các tổ chức nước ngoài đồng thời giảm các thủ tục hành chính để giải ngân
vốn nhanh chóng. Chủ độngthúc đẩy phát triển trình độ kỹ năng cho người
lao động cũng như những ngành công nghiệp phụ trợ để chứng minh năng
lực,đảm bảo sự phát triển bền vững thì sẽ thu hút được các nhà đầu tư từ bên
ngoài.
Ø Việt Nam cũng có thể tạo điều kiện cho những doanh nghiệp nhỏ, những
doanh nghiệp mới thành lập có thể tiếp cận được nguồn vốn vay thông qua
việc đánh giá cẩn thận tình hình, khả năng kinh doanh và từ đó có thể hướng
dẫn cụ thể quy trình thủ tục vay vốn và quy trình thủ tục giải ngân. Và đồng
thời, chính sách giúp đỡ những doanh nghiệp mới thành lập kết hợp đồng bộ
việc theo dõi và kiểm soát chặt chẽ sẽ giúp nhà nước quản lý tốt hơn nguồn
vốn và đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn.
Ø Cuối cùng, cần phát triển thêm những chương trình, những quỹ tài trợ hỗ
trợ cung cấp vốn cho những ngành nghề mà nhà nước có định hướng phát
triển. Ở Úc, chính phủ chú trọng đến những ngành công nghiệp sạch, hướng
tới phát triển thông qua đổi mới không ngừng, ứng dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ mới vào thực tế sản xuất kinh doanh. Nước ta vốn là nước nông
nghiệp, có thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp và trồng cây công nghiệp thì
có thể tập trung đẩy mạnh thêm một số chương trình hỗ trợ vốn để áp dụng
kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi. Ngoài ra, chúng ta cũng nên tạo động lực hỗ
trợ vốn cho các doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật mới, ứng dụng công nghệ
sạch… những chương trình như vậy sẽ rất có lợi cho tương lai, đảm bảo đem