Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRUNG DIỆU
CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ VIỆT NAM
ĐỐI VỚI TỈNH THÁI NGUYÊN
(Từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX) LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ Thái Nguyên 8/2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Bảng viết tắt ........................................................................................
4
MỞ ĐẦU .............................................................................................
5
1. Lý do chọn đề tài ...........................................................................
5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................
6
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài ..............
8
3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................... 8
3.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 8
3.3. Nhiệm vụ của đề tài ...................................................................... 9
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ...................................
9
4.1. Nguồn tư liệu ................................................................................. 9
4.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 10
5. Đóng góp của luận văn ..................................................................
10
6. Bố cục của luận văn .......................................................................
10
NỘI DUNG ........................................................................................
11
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN
CƢ- XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH
CHÍNH CỦA TINH THÁI NGUYÊN ..............................................
67
2.3 Tác động của chính sách chính trị, quốc phòng ........................
77
2.4. Tiểu kết .......................................................................................
79
CHƢƠNG 3: CHÍNH SÁCH VỀ KINH TẾ, VĂN HOÁ ................
81
3.1. Chính sách về kinh tế .................................................................
81
3.2. Chính sách về văn hóa ................................................................
96
3.2.1. Chính sách về giáo dục ............................................................. 96
3.2.2. Chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng ........................................... 107
3.3. Tác động của chính sách kinh tế, văn hoá .................................
110
3.4. Tiểu kết.......................................................................................... 114
KẾT LUẬN......................................................................................... 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................
121 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
4
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta có truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu
đời, lãnh thổ lại chia thành nhiều địa hình khác nhau như: miền núi, trung du
và đồng bằng ven biển. giữa các vùng, miền từ Bắc và Nam lại có sự khác
nhau về thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng và cũng do đó dẫn đến sự khác nhau về
phong tục tập quán, lối sống. Do điều kiện tự nhiên, xã hội và con người ở
mỗi vùng miền có những điểm khác nhau nên trong mỗi giai đoạn lịch sử đòi
hỏi nhà nước phải có chính sách thích hợp với từng vùng lãnh thổ, chính sách
đoàn kết các dân tộc phù hợp mới đảm bảo giữ gìn nền độc lập và thống nhất
lãnh thổ.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ khi giành được quyền độc lập tự chủ,
các nhà nước quân chủ Việt Nam đã có chính sách quan tâm đến những vùng
dân tộc khác nhau, đặc biệt là những vùng biên cương của tổ quốc. Ở những
mức độ khác nhau các triều đại đều có những chính sách đối với các vùng,
các dân tộc, nhằm duy trì và khẳng định quyền lực của nhà nước đối với các
dân tộc, hướng tới mục đích củng cố và tăng cường nền thống nhất quốc gia.
Trong các tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, Thái Nguyên là vùng
đất đã và đang giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Là
trung tâm chiến lược phía Bắc sông Hồng, nên trong lịch sử Thái Nguyên
thường xuyên phải đối mặt với các thế lực ngoại bang và cả các thế lực phản
nghịch trong nước. Từ xa xưa ông cha ta đã coi Thái Nguyên là “phên dậu”
phía Bắc của Kinh thành Thăng Long – Đông Đô, là điểm xuất phát triển khai
lực lượng chống giặc ngoại xâm ở vùng biên giới phía Bắc. Nơi đây nhiều lần
được chọn làm “thủ đô kháng chiến” trong các cuộc chiến đấu chống quân
xâm lược, có địa thế hiểm yếu với núi cao, rừng rậm, sông sâu suối dài, thực
sự có vai trò chiến lược về nhiều mặt kinh tế, chính trị, quốc phòng. Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
Nguyên, vùng đất đã ghi dấu ấn lịch sử với nhiều trận đánh, nhiều chiến công
Nguyễn Minh Tường; “Chính sách giáo dục đối với các dân tộc ít người dưới
triều Minh Mạng (1820 - 1840)” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5, 2000) của
tác giả Phạm Ái Phương. Trong đó có phần đề cập đến tỉnh Thái Nguyên.
Một trong những công trình nghiên cứu khá đầy đủ về tình hình chính
trị, kinh tế, văn hoá của các dân tộc ít người trên đất nước ta cũng như những
chính sách của các triều đại phong kiến đối với các dân tộc, đó là cuốn: Chính
sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XI - đến giữa
thế kỷ XIX), Nxb Văn hoá dân tộc, 1998, của tác giả Đàm Thị Uyên.
Các công trình nghiên cứu ở Thái Nguyên đáng chú ý là cuốn Thái
Nguyên Đất và Người của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Lịch sử Đảng bộ Thái
Nguyên năm 2003; Bắc Thái 40 năm đấu tranh và xây dựng, Sở Văn Hoá và
Thông tin Bắc Thái, năm 1985.
Đặc biệt, năm 2009 cuốn Địa chí Thái Nguyên do Nxb Chính trị Quốc
gia ấn hành đã nêu lên tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Thái Nguyên trong
thời kì quân chủ. Mặc dù các nội dung đó mới chỉ khái quát, nhưng cũng đã
giúp cho tác giả luận văn có những nhận thức quan trọng về tác động của các
chính sách mà các triều đại quân chủ Việt Nam đã áp dụng ở Thái Nguyên.
Ngoài ra, còn có những cuộc Hội thảo khoa học về Thái Nguyên như:
Hội thảo khoa học về danh nhân lịch sử Đỗ Cận, năm 1997; Hội thảo khoa
học về danh nhân lịch sử Lưu Nhân Chú, năm 2001; Hội thảo khoa học về
danh nhân lịch sử Dương Tự Minh, năm 2003. Trong các Hội thảo đã có
những báo cáo khoa học nghiên cứu về lịch sử địa phương với nhiều nội dung
phong phú. Các báo cáo khoa học trên, dưới những góc độ khác nhau đã nêu
lên một số chính sách của các triều đại quân chủ đối với tỉnh Thái Nguyên,
đồng thời rút ra những kiến giải, đánh giá khoa học về vị trí chiến lược cũng
như tình hình chính trị , kinh tế, xã hội của Thái Nguyên trong lịch sử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
Như vậy, liên quan đến nội dung đề tài cũng đã có một số sách và báo
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu:
4.1. Nguồn tư liệu
Để tìm hiểu những chính sách của các nhà nước quân chủ Việt Nam đối
với tỉnh Thái Nguyên thời trung đại (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX),
nguồn tư liệu gốc mà luận văn sử dụng là các bộ sử do các sử gia phong kiến
biên soạn như: Đại Việt sử kí toàn thư; Đại Nam nhất thống chí; Khâm định
Việt sử thông giám cương mục; Đại Nam thực lục, Dư địa chí … Bên cạnh đó
còn có các tài liệu gốc về lịch sử Thái Nguyên như các văn bia, gia phả, thần
phả, câu đối.
Luận văn còn có sự tham khảo và kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên
cứu của các tác giả đi trước, trong đó đáng chú ý nhất là tác phẩm “Chính
sách dân tộc của các triều đại phong kiến ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến thế kỉ
XIX)” của tác giả Đàm Thị Uyên; Tác phẩm “Văn hoá Tày Nùng” của tác giả
Hà Văn Thư và Lã Văn Lô, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1984… và
nhiều tài liệu khác như các bài viết trên các tạp chí, các báo cáo khoa học có
liên quan đến chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam đối với tỉnh
Thái Nguyên như tuyển tập “Con người và sự tích Bắc Thái” của các tác giả
Hà Đức Toàn, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Giảng.
Ngoài những nguồn tư liệu thành văn, trong quá trình thực hiện đề tài,
người viết còn tiến hành khảo sát, điền dã các di tích lịch sử còn tồn tại hoặc
chỉ còn dấu vết như thành quách, đền chùa, bia đá; tiến hành thẩm vấn dân tộc
học ...và sẽ cố gắng sử dụng các tư liệu thu thập được để khai thác vào trong
đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
10
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử là chính: tập hợp tư liệu, trình
bày, phân tích, nhận định, đánh giá theo quan điểm lịch sử. Đồng thời Luận
TRÌNH THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên.
1.1.1.Vị trí địa lí.
Tỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp
với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng
Sơn và Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý
là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng,
của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ
giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng
bằng Bắc Bộ, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, nơi “Tiến khả dĩ công,
thoái khả dĩ thủ” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định.
Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, đời các Vua Hùng, nước Văn
Lang chia làm 15 bộ. “Thái Nguyên thuộc đất bộ Vũ Định, Đông và Bắc giáp
Cao, Lạng; Tây và Nam giáp Kinh - Bắc; có 2 lộ phủ, 9 huyện, 2 châu và 336
làng xã. Đây là nơi phên dậu thứ 2 về phương Bắc” [84;238]. Thái Nguyên
lúc đó nằm dưới sự cai quản của chế độ lạc tướng. Khoảng đầu Công nguyên,
chế độ lạc tướng chấm dứt, bộ chuyển thành huyện, Vũ Định vẫn giữ tên cũ.
Dưới thời đô hộ của nhà Triệu, Thái Nguyên nằm trong quận Giao Chỉ. Đời
nhà Hán, Thái Nguyên nằm trong huyện Long Biên, sau là huyện Tây Vu
thuộc quận Giao Chỉ. Đến đời nhà Đường, Thái Nguyên là đất Châu Long,
châu Vũ Nga, thuộc An Nam đô hộ phủ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
12
1.1.2. Điều kiện tự nhiên.
Địa hình: Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam
và thấp dần xuống phía Nam. Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong
hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ.
Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo
lớn như Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Trại Cau (Đồng Hỷ), Thần Sa (Võ
Nhai)…Khoáng sản ở Thái Nguyên có thể chia ra làm 4 nhóm: nhóm nguyên
liệu cháy, bao gồm: than mỡ (trên 15 triệu tấn), than đá (trên 90 triệu tấn);
nhóm khoáng sản kim loại, bao gồm kim loại đen (sắt có 47 mỏ và điểm
quặng; titan có 18 mỏ và điểm quặng), kim loại màu (thiếc, vonfram, chì,
kẽm, vàng, đồng,…); nhóm khoáng sản phi kim loại, bao gồm pyrits, barit,
phốtphorit…tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn; nhóm khoáng sản để sản xuất
vật liệu xây dựng bao gồm đá xây dựng, đất sét, đá sỏi… với trữ lượng lớn,
khoảng 84,6 triệu tấn. Sự phong phú về tài nguyên khoáng sản trong đó gồm
nhiều loại có ý nghĩa trong cả nước như sắt, than (đặc biệt là than mỡ) đã tạo
cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển ngành công
nghiệp luyện kim, khai khoáng. Đây là thế mạnh đưa Thái Nguyên trở thành
trung tâm công nghiệp luyện kim lớn của cả nước. Ngoài khoáng sản còn có
những tài nguyên khác với trữ lượng cao, như nguyên vật liệu xây dựng có ở
khắp nơi. Đá vôi có trữ lượng lớn phân bố nhiều ở phía Bắc và phía Đông của
tỉnh. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất xi măng phục vụ cho
công nghiệp xây dựng. Ngoài ra còn có các mỏ nước khoáng, các nguồn nước
ngầm ở dưới các dãy núi đá vôi, các sông suối.
Có thể nói, Thái Nguyên có khá đầy đủ các loại khoáng sản và tài
nguyên tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành thủ công nghiệp, công nghiệp
địa phương và dịch vụ du lịch phát triển.
Khí hậu Thái Nguyên mang những đặc điểm chung của khí hậu miền
Bắc đó là nhiệt đới gió mùa, song vì nằm khá sâu trong lục địa nên khí hậu
còn mang tính chất lục địa. Vì vậy sự chuyển tiếp giữa mùa Hè và mùa Thu,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
14
giữa mùa Đông và mùa Xuân không rõ rệt, tạo thành nét độc đáo cho khí hậu
địa phương. Trong Đại Nam nhất thống chí đã miêu tả về khí hậu của Thái
Nguyên như sau: “Hằng năm, cuối mùa Xuân mới hơi nóng, đến mùa Hè
Thái Nguyên có nhiều sông, suối phân bố tương đối đều trên địa bàn
tỉnh, trong đó lớn nhất là sông Cầu và sông Công.
Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, có
vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như
về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh nằm trong lưu vực của nó.
Sông Cầu chảy vào mạn Tây của tỉnh Bắc Giang phân chia ranh giới với tỉnh
Thái Nguyên và Bắc Ninh được gọi là sông Như Nguyệt.
Sông Cầu là một dòng sông lịch sử của nhân dân Đại Việt chống ngoại
xâm, bảo vệ tổ quốc, đồng thời cũng là con sông có giá trị kinh tế lớn nhất
tỉnh Thái Nguyên.
Sông Công bắt nguồn từ xã Điềm Mặc (Định Hoá) chảy theo hướng bắc
nam qua huyện Đại từ, một phần thành phố Thái Nguyên xuống huyện Phổ
Yên, hợp lưu với sông Cầu ở xã Thuận Thành (Phổ Yên), dài 96km, Ngoài ra
Thái Nguyên còn có nhiều sông nhỏ và ngắn như sông Du, sông Nghinh
Tường, sông Chu, sông Khe Mo, Huống Thượng và nhiều suối nhỏ khác. Các
sông, suối Thái Nguyên hàng năm cung cấp cho đồng ruộng ven sông một
khối lượng phù sa rất lớn, làm cho đất đai thêm phì nhiêu, màu mỡ, giữ được
độ ẩm quanh năm, thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây lương thực và
hoa màu.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không
phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, có thể nói đây là một
thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông - lâm nghiệp và phát triển kinh
tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác.
Với diện tích rừng núi lớn nên hệ thực vật và động vật ở Thái Nguyên
hết sức phong phú và đa dạng.
Do điều kiện đất đai khác nhau mà rừng có thể chia làm hai loại:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
16
Các loại cây rừng núi đá (chủ yếu là núi đá vôi) với nhiều loại gỗ quý
1.2.1. Đặc điểm kinh tế.
Kinh tế Thái Nguyên chủ yếu có hai hình thái:
Kinh tế khai thác: Là một tỉnh miền núi trung du nên từ xưa Thái
Nguyên có nhiều núi cao, rừng rậm, sông ngòi, hồ đầm xen kẽ với những
đồng bằng nhỏ hẹp. Rừng chiếm diện tích lớn, phủ kín khắp các vùng núi, các
giống chim, thú sinh trưởng phong phú. Trong khung cảnh đó, cư dân Thái
Nguyên sống trong các núi đá, trước mặt có những thung lũng và đồng bằng
nhỏ hẹp thuận lợi cho các hình thức như săn bắt, hái lượm, con người sống
chủ yếu dựa vào những nguồn thức ăn sẵn có của tự nhiên.
Kinh tế sản xuất:
Trồng lúa nước là tập quán lâu đời của người dân Thái Nguyên sinh sống
trong các làng xã vùng trung du ở Tư Nông, Phổ Yên, Đồng Hỷ và trong
những thung lũng vùng núi thuộc các huyện, châu phía bắc của tỉnh. Ở Thần
Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu
tích của con người sống cách ngày nay khoảng 40.000 năm với hang vạn công
cụ bằng đá thô sơ như rìu đá, nạo đá và xương thú, tro than. Tại Thái Nguyên
còn phát hiện được nhiều di chỉ khảo cổ thuộc các nền văn hoá Sơn Vi, Hoà
Bình, Bắc Sơn có niên đại cách đây khoảng từ 12.000 đến 25.000 năm. Người
tối cổ tại Thái Nguyên dùng đá đẽo đá để sản xuất công cụ thô sơ khai thác
những sản vật thiên nhiên: trái cây, thú rừng, củ cây, rau quả, bắt cá... Vì điều
kiện kỹ thuật còn thấp kém nên con người khi đó dựa vào những hang động,
mái đá để cư trú.
Tại Thái Nguyên cũng đã phát hiện hàng loạt di chỉ thời kỳ đồ đá giữa
thuộc văn hoá Hoà Bình, cách đây khoảng 10.000 năm tại các hang Nà Ngùn,
mái đá Ngườm, hang Hạ Sơn. Ngoài những dụng cụ bằng đá có phần trau
chuốt hơn, còn phát hiện dấu tích của những bàn nghiền, hạt cây, được đoán
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
18
định là những bàn xát dùng để xát lúa hoang thu lượm được từ tự nhiên.
Đồng bào cũng đã chú ý đến việc bón phân cho lúa thành nhiều đợt như bón
lót, bón thúc, bón đón đòng, làm cỏ lúa, xây dựng hệ thống tưới tiêu nước như
mương, phai, máng dẫn nước, đập, cọn nước…
Bên cạnh nghề trồng lúa, người dân còn trồng các loại cây ăn quả, cây
công nghiệp. Nhiều loại quả nổi tiếng thơm ngon ở địa phương như cam,
quýt, mận, lê, mít, dứa… Cây công nghiệp có bông, chè, gai, đay, thầu dầu,
trẩu,…các loại cây họ Đậu như lạc, đỗ tương vừa cung cấp đạm cho con
người vừa giữ độ phì nhiêu cho đất.
Chăn nuôi được duy trì như một nghề phụ bên nghề trồng trọt. Người
dân thường nuôi nhiều gà, vịt, ngan, ngỗng để tận dụng những loại thức ăn
sẵn có. Việc chăn nuôi lợn cũng phát triển nhờ có nhiều loại hoa màu phụ như
ngô, khoai, sắn, đỗ tương… Đồng bào ở đây còn nuôi rất nhiều trâu, bò, ngựa
chủ yếu dùng vào việc kéo xe, cày bừa. Một số gia đình nuôi ngựa để cưỡi và
chuyên chở hàng hóa nông phẩm.
Thủ công nghiệp sớm xuất hiện ở Thái Nguyên. Khảo cổ học đã tìm thấy
tại Thái Nguyên những vết nan hằn trên đồ gốm, đủ biết nghề đan lát đã xuất
hiện. Ngoài ra các nhà khảo cổ còn tìm thấy các công cụ bằng đồng: “trống
đồng Đông Sơn ở xóm Đồng Cẩu, xã Hoà Bình, huyện Đồng Hỷ và xã Đào
Xá, huyện Phú Bình; liềm, mũi tên, giáo, rìu, lưỡi câu đồng... Vốn là vùng đất
giàu mỏ kim loại nên rất có thể Thái Nguyên cũng là một trong những trung
tâm sản xuất đồ đồng thời Hùng Vương” [23;325] . Về sau này các triều đại
phong kiến đều có chính sách khai mỏ khá tích cực đối với Thái Nguyên
nhằm tận thu nguồn lợi do thiên nhiên mang lại.
Trong giai đoạn hiện nay, Thái Nguyên có tiềm năng kinh tế đa dạng.
Tài nguyên đất, khoáng sản phong phú, đã và đang được khai thác có hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
20
quả, là trung tâm kinh tế của vùng Đông Bắc với nhiều nhà máy, xí nghiệp
được xây dựng mới. Năm 1959, khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên
hiện được một loạt các di tích khảo cổ có niên đại từ gần 40.000 năm đến
10.000 năm cách ngày nay.
Hang Phiêng Tung (hang miệng Hổ) nằm giữa sườn Đông Nam núi Mèo
thuộc bản Trung Sơn, có độ cao khoảng 50m so với chân núi. Hang rộng và
thoáng có hai tầng. Tầng trên nhỏ không có địa tầng văn hóa, tầng dưới cao
10m, rộng 10m, sâu 20m thuận tiện cho người nguyên thủy cư trú. Qua các
đợt khai quật vào các năm 1972; 1973; 1980 (hai đợt) các nhà khảo cổ đã thu
thập được 659 công cụ hòn cuội công cụ mũi nhọn, công cụ mảnh cuội, công
cụ mảnh tước tại hang Phiêng Tung
Mái đá Ngườm di chỉ quan trọng nhất của Khu di tích khảo cổ học Thần
Sa nằm trên sườn núi phía Bắc dãy núi Ngườm thuộc bản Trung Sơn, cách
Phiêng Tung 1km về phía Nam. Đây là một mái đá khổng lồ, rộng chừng
60m, cao 30 nằm ở độ cao 30m so với mặt sông Nghinh Tường chảy ngang
trước mặt. Hố khai quật ở di chỉ Ngườm có 4 địa tầng văn hóa khảo cổ.
Những di vật đá đặc trưng của nền văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Sơn Vi nằm ở
địa tầng 1 và địa tầng 2. Ở địa tầng 3 thuần các công cụ đặc trưng của
Ngườm. Ở tầng văn hóa thứ 4 là hàng vạn công cụ đá kiểu Phiêng Tung.
Những phát hiện khảo cổ học ở Phiêng Tung và Ngườm đã giúp các nhà
khảo cổ học xác định: Ở Thần Sa có một nền văn hóa khảo cổ học thời đại đồ
đá cũ - văn hóa Thần Sa, chủ nhân của nền văn hóa này là là người Homo
Sapiens (người khôn ngoan).
Với những tư liệu đã phát hiện tại vùng đất này đã cho phép chúng ta
khẳng định rằng: Thái Nguyên là một vùng đất cổ, dân cư xuất hiện từ sớm.
Ngày nay, ở Thái Nguyên có 8 dân tộc anh em cùng chung sống như: Kinh,
Tày, Nùng, Mông, Dao, Sán Dìu, Sán Chí, Hoa, trong đó dân tộc ít người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
22
chiếm 24,49% dân số toàn tỉnh. Người dân bản địa ở Thái Nguyên so với các
tỉnh khác không nhiều, qua các thời kì lịch sử, thành phần dân tộc và dân số
ở vùng biên giới nước ta. Họ là những cư dân sớm có mặt trong thành phần
cư dân nước Văn Lang xưa và là một trong những thành phần dân cư sáng lập
nên Nhà nước Âu Lạc, đồng thời có một nền văn minh rất gần gũi với người
Việt Mường cổ. Nơi cư trú của người Tày là những thung lũng lớn, những
mảnh đất thuận lợi gần sông, suối cho phép khai phá thành những đám ruộng
trồng lúa nước. Người Tày có mặt ở tất cả các địa phương trong tỉnh, từ vùng
lòng máng Thái Nguyên cho đến những cánh đồng và thung lũng bằng phẳng
của các huyện miền Đông và miền Tây, trong đó tập trung nhiều nhất ở các
huyện Định Hoá, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ và rải rác ở các huyện thị khác.
Cũng như người Tày ở vùng Việt Bắc, người Tày ở Thái Nguyên lấy nông
nghiệp trồng trọt với phương thức canh tác ruộng nước, kết hợp gieo trồng
trên đất dốc và sườn đồi làm nguồn sống chính. Các hoạt động mưu sinh khác
như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán, săn bắt hái lượm đều là
những hoạt động kinh tế mang tính hỗ trợ.
Dân tộc Nùng có nhiều nhóm, có hiện tượng là nhiều nhóm Nùng đến
sớm đã bị Tày hoá, còn những nhóm Nùng hiện nay mà ta biết thì tới Việt
Nam chỉ khoảng vài trăm năm nay. Dấu vết này còn để lại là nhiều nhóm
Nùng nói không hiểu nhau, ăn mặc, nhà cửa cũng có nhiều nét khác biệt; hoặc
nhiều nhóm Nùng vẫn còn nhớ được nơi cư trú phía bên kia biên giới
nhưNùng Phàn Slình quê ở Vạn Thành Châu, Nùng Cháo ở Long Châu, Nùng
Tùng Slìn ở Sùng Thiện, Nùng Lòi ở Hạ Lôi, Nùng Quý Rỉn ở Quy Thuận.
Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn nhận định như sau: “Giống
người Nùng đều là người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Qui Thuận, Long
Châu, Điền Châu, Phú Châu, Thái Bình, Lôi Tứ Thành và Hường Vũ, thuộc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
24
Trung Quốc. Giống người này phiêu lưu ở bản quốc, làm nghề cày cấy trồng
trọt, cùng chịu thuế khoá lao dịch, mặc áo vải xanh, cắt tóc, trắng răng, có
người trú ngụ đến vài ba đời, đổi theo tập quán người Nam, quan bản thổ