TRƯỜNG
KHOA…………………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
TÀI:ĐỀ
Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Ấn Độ, Trung Quốc,Ma-Lai-
xia, Thái Lan và bài học cho Việt Nam
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Chương 1. Những lý luận chung 4
Khái niệm 4
Chương 2 6
Chính sách thu hút FDI của Ấn Độ, Trung Quốc,Thái Lan và Ma-
lai-xia 6
I - Ấn Độ 6
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Ấn Độ 6
1.1.1 Tổng quan về FDI vào Ấn Độ từ 1997-2005 7
II – Thái Lan 23
III- Trung Quốc 29
1. Từng bước mở rộng địa bàn thu hút FDI 29
II. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TRUNG QUỐC
QUA CÁC GIAI ĐOẠN: 37
1. Giai đoạn thăm dò (1979-1985) 37
1.1 M t tích c c trong chính sách thu hút FDI ặ ự 48
* Chính sách thu hút FDI c a Malaixia v c b n l t ng i ngủ ề ơ ả à ươ đố đồ
b v nh t quán i v i các nh u t n c ngo i. ộ à ấ đố ớ à đầ ư ướ à 48
2
* Chính sách thu hút FDI c a Malaixia luôn có s i u ch nh phù h pủ ự đ ề ỉ ợ
v i tình hình trong n c v qu c t . ớ ướ à ố ế 49
* Chính sách thu hút FDI ã h ng v o m t s l nh v c u tiên đ ướ à ộ ố ĩ ự ư
20 năm thu hút vốn FDI (từ năm 1988 đến 2006) VN đạt được 78,248 tỷ
USD (là vốn đăng ký, vốn thực hiện chỉ đạt 37,271 tỷ USD), chỉ riêng năm
2007 vốn FDI đăng ký đã vọt lên 21,3 tỷ USD (vốn thực hiện đạt hơn 8 tỷ
USD – tất cả số liệu trên của Bộ KH - ĐT).
Để làm rõ hơn vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “ Chính sách
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Ấn Độ, Trung Quốc,Ma-Lai-
xia, Thái Lan và bài học cho Việt Nam”
Đây có thể không phải là vấn đề mới nhưng nó khá là sâu rộng nên có thể
trong bài viết chủ yếu đề cập đến các chính sách chủ yếu của các nước và
một số bài học điển hình được nhóm cho là quan trọng với Việt Nam.
Chương 1. Những lý luận chung
Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng
cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.Cá nhân hay công ty nước ngoài đó
sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
4
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu
tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân
biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà
đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty
mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Tuy có các khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất ở điểm sau:
- FDI- là hình thức đầu tư quốc tế
- Cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu tư ở nước
tiếp nhận đầu tư tuỳ theo tỷ lệ góp vốn.
- Quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng tài sản đầu tư,nhà đầu tư có thể
Chính sách thu hút FDI của Ấn Độ, Trung Quốc,Thái Lan và
Ma-lai-xia
I - Ấn Độ.
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Ấn Độ
6
1.1.1 Tổng quan về FDI vào Ấn Độ từ 1997-2005
Với ưu thế là những thị trường lớn, lại đang nổi lên, Ấn Độ rất hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Và chính nhờ thu hút được khối lượng
vốn đầu tư nước ngoài lớn đã góp phần tạo nên sức sống mới, làm nên
những thành công của Ấn Độ.
Trong thời kỳ 1997-2005, tổng FDI thực tế vào Ấn Độ là khoảng 34 tỷ
USD. FDI đã đem lại sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là các
ngành công nghiệp chế tạo ở Ấn Độ và các ngành như: nhiên liệu, thông tin
viễn thông, công nghiệp vận tải, dịch vụ
Trong vòng 7 năm trở lại đây (từ 1998), Ấn Độ được liệt vào danh sách
các thị trường thu hút FDI hấp dẫn nhất thế giới. Từ năm 2002 đến năm
2004, các nhà đầu tư thế giới liên tục coi Ấn Độ là địa điểm đầu tư của họ;
xét về tiêu chí thị trường hấp dẫn nhất. Trong đó, vị trí của Ấn Độ được
nâng lên từ số 15 năm 2002 lên thứ 6 năm 2003 và thứ 3 năm 2004.
Bảng 1: FDI thực tế vào Ấn Độ, 1997-2001, tỷ USD
Năm 1997 98 99 2000 2001 2002 2003 200
4
2005
Ấn Độ 3,619 2,633 2,168 2,319 3,403 3,7 4,3 5,3 6,0
Nguồn: Economic Survey 2004-2005; UNCTAD, Investment Brief, No.
1/2006; UNCTAD 2002, Aaditya Mattoo, India and the WTO, WB and
Oxford University Prees 2003, tr. 150.
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục đi liền với mức tăng tiêu dùng
nội địa mạnh - làm tăng tổng dung lượng thị trường. Điều này đi liền với các
yếu tố khác như: tỷ lệ lao động có kỹ năng gia tăng, giá lao động rẻ hơn, các
Đa số ĐTTNN ở Ấn Độ là các ngành công nghệ thông tin và dịch vụ.
Theo đánh giá, có đến 39% trong đầu tư nước ngoài vào Ấn Độ có khả năng
hướng tới ngành kỹ thuật tin học. Đầu tư nước ngoài vào Ấn Độ vào ngành
chế tạo chỉ có 3%. Đây cũng là một nhân tố dẫn đến sự khác nhau lớn về cơ
8
cấu kinh tế. Trong đó dịch vụ lại chiếm vai trò chính. Trong xu thế vận động
của thế giới hiện nay (chủ nghĩa khủng bố, xung đột khu vực, đặc biệt những
diễn biến liên quan đến tình hình bất ổn ở một số nước xuất khẩu dầu mỏ lớn
như Iran, Irắc, Nigiêria, Veleduêla…) - khi mà giá nhiều loại nguyên vật liệu,
năng lượng có chiều hướng gia tăng nhanh thì cơ cấu kinh tế dựa nhiều vào
dịch vụ như của Ấn Độ tỏ ra có ưu thế .
Trong những năm gần đây, khi mà các hoạt động kinh doanh nguồn
ngoài (BPO) đang trở nên sôi động, với nhiều ưu thế như: sự phát triển và
ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin, sự phát triển mạnh của ngành
chế tạo, nhiều trung tâm nghiên cứu và phát triển được thành lập, các hoạt
động phân phối, mạng lưới văn phòng hỗ trợ kinh doanh, quản lý tri thức…
các nhà đầu tư đều coi Ấn Độ là một trong những thị trường nguồn ngoài
hàng đầu thế giới. Hai thị trường này theo ước tính sẽ nắm giữ khoảng hơn
1/2 tổng các hoạt động kinh doanh nguồn ngoài toàn cầu giai đoạn 2005-
2007.
Bảng 3: Tổng FDI vào 10 nước nhận lớn nhất thế giới, 1997-2001,
tỷ USD
Xếp hạng Nước Khối lượng thu hút
FDI
1 Mỹ 986,555
2 Anh 365,877
3 Trung Quốc 215,925
4 Brazin 131,663
5 Mehico 77,948
6 Nhật 33,628
10
đang có ưu thế lớn tiến tới đạt đẳng cấp thế giới. Các thành phố Bangalore,
Bombay của Ấn Độ là trụ cột của công nghệ phần mềm đang được quốc tế
hoá.
Tuy nhiên, các nhà đầu tư toàn cầu vẫn có thiên hướng không coi Ấn
Độ là công xưởng của thế giới - là thị trường tiêu thụ đang gia tăng thuộc
loại nhanh nhất. Ấn Độ được coi là nhà cung cấp các hàng gia công và dịch
vụ IT của thế giới. Chính vì vậy, các dự án đầu tư nước ngoài vào Ấn Độ lại
hướng vào hoạt động gia công và IT và Ấn Độ cũng thu được lợi nhiều từ
các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính và dịch vụ.
Các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao lực lượng lao động được đào
tạo tốt của Ấn Độ, cũng như khả năng quản lý, tính minh bạch và môi
trường luật pháp thuận lợi .
Sự gia tăng FDI có liên quan đến tiếp nhận công nghệ và làm tăng khả
năng xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao ở Ấn Độ. Từ năm
1992 đến nay, tổng mức xuất khẩu sản phẩm dịch vụ thông tin và phầm
mềm của Ấn Độ tăng từ mức 500 triệu USD lên 17,2 tỷ USD. Bên cạnh mức
tăng trưởng kinh tế cao, chuyển giao công nghệ theo chiều sâu được đẩy
nhanh cũng đã và đang giúp Ấn Độ đang trên đường trở thành những cường
quốc thương mại.
1.1.2 Tình hình thu hút FDI của Ấn Độ năm 2008- 2009.
Theo nguồn tin của Bộ công thương, tình hình khủng hoảng tài chính
thế giới tiếp tục tác động đối với dòng vốn FDI vào Ấn Độ do lượng vốn
FDI đã giảm trong tháng 2 năm 2009. Lượng FDI đã giảm mạnh trong tháng
2/2009 tới 73%, chỉ còn 1,49 tỷ USD so với 5,67 tỷ USD cùng kỳ năm
trước. Tổng FDI tài khoá 2008-2009 có thể chỉ đạt 25,38 tỷ USD. Tức là, Ấn
Độ sẽ không đạt mục tiêu 35 tỷ USD đã đề ra trước đây cho tài khóa 2008-
2009 cũng như ngay cả mục tiêu FDI đã điều chỉnh là 30 tỷ USD. Tuy
nhiên, tổng FDI từ tháng 4/2008 đến tháng 2/2009 đã vượt mức 24,57 tỷ
USD, mức mà Ấn Độ đã nhận được tài khoá trước. Tài khoá 06-07, lượng
định nền kinh tế đang tiến bước còn giới doanh nghiệp cũng vững tin hơn.
12
Tuy nhiên, những mối lo vẫn còn. Các doanh nghiệp lo ngại rằng
Chính phủ có thể tăng lãi suất để chặn đà lạm phát và kiểm soát giá lương
thực. Nạn hạn hán tại phần lớn đất nước và nạn lụt tại những nơi khác trong
nước đã gây tác hại cho mức tăng trưởng nông nghiệp và gây tai hại cho nền
kinh tế nông thôn. Chưa kể đến sự phục hồi kinh tế diễn ra chậm chạp tại
nhiều nước phương Tây có thể ngăn cản đà tiến tại Ấn Độ. Các chuyên gia
kinh tế còn cảnh báo, kinh tế Ấn Độ có cải thiện đi nữa cũng khó đạt tới mức
tăng trưởng như trước cuộc khủng hoảng.
Nền kinh tế Ấn Độ đang phục hồi nhanh, dẫn đến việc thu hút nguồn
vốn FID tăng trở lại sau khung khoảng kinh tế chung toàn cầu.
Thứ nhất, Ấn Độ vẫn là một nước có nền kinh tế hướng nội với gần
1,2 tỷ dân. Tỷ lệ xuất khẩu hiện chỉ chiếm 15% GDP của Ấn Độ. Cả xuất
khẩu và nhập khẩu (kể cả nguồn thu từ khách du lịch, tiền gửi của lao động
ở nước ngoài và xuất khẩu dịch vụ) chiếm xấp xỉ một nửa GDP của Ấn Độ.
Thứ hai, những tài năng công nghệ gốc Ấn đã rời Thung lũng Silicon
của Mỹ về nước tiếp thêm sức mạnh cho cuộc cách mạng công nghệ cao của
nước này. Theo chân họ là nguồn vốn. Số liệu của WB cho thấy, cả thập
niên qua, lượng kiều hối của Ấn Độ là 154 tỷ USD. Hiện có khoảng 20 triệu
Ấn kiều sinh sống ngoài Ấn Độ, trong đó có 200.000 triệu phú ở Mỹ. Ngân
hàng JP Morgan cho rằng cộng đồng Ấn kiều là đòn bẩy hùng mạnh giúp Ấn
Độ thậm chí vượt qua mức tăng trưởng dự báo là 10%/năm.
Ấn Độ "có vẻ sẵn sàng đón nhận nhiều FDI hơn trong những năm tới
so với hiện tại", một phần nhờ chính sách thân thiện với Ấn kiều. Giờ đây,
với thảm đỏ trải ra để chào đón vốn đầu tư của kiều dân, New Dehli sẽ
chứng kiến dòng chảy vào không chỉ bằng tiền, mà cả chất xám quý giá của
những người trí thức gốc Ấn.
Ngoài ra, Ấn Độ còn có nền khoa học công nghệ phát triển sớm với
các lĩnh vực có thế mạnh như hạt nhân, nghiên cứu vũ trụ, công nghệ thông
này Chính phủ đã chấp thuận Ngân hàng dự trữ Ấn Độ (RBI) chính thức
14
được quyền phê chuẩn tự động Đầu tư nước ngoài trong các ngành công
nghiệp. Sau năm 1991, tỷ lệ cổ phần của người nước ngoài được nâng lên
51% trong 34 ngành thuộc lĩnh vực ưu tiên cao, các ngành tập trung nhiều
vốn và các ngành tập trung công nghệ cao. Đến tháng 12 năm 1996 tỷ lệ này
được Chính phủ tăng lên 74% trong một số ngành công nghiệp được ưu tiên
trong lĩnh vực xây dựng đường sá, cầu cống, hải cảng, năng lượng, sản xuất
ga, dịch vụ khai thác than; Năm 1997 các doanh nghiệp nước ngoài được sở
hữu 100% vốn trong các dự án hướng vào xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
phục vụ xuất khẩu, y tế, cơ sở hạ tầng. Nhưng các nhà Đầu tư nước ngoài,
muốn đầu tư vào Ấn Độ với tỷ lệ sở hữu từ 51% đến 100% phải qua nhiều
thủ rục hành chính rườm rà từ phía Chính phủ.
Đến năm 1999 đạo luật ngoại hối (FEMA) đã ra đời thay thế luật điều
tiết ngoại hối (FERA), huỷ bỏ những hạn chế đối với các công ty nước
ngoài.Thủ tục cấp giấy phép cũng được tự do hơn. Sau nhiều lần sửa đổi,
đến năm 2007, Chính phủ Ấn Độ quy định về tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu
tư nước ngoài trong các ngành như sau:
- Sở hưũ 0% ( ngăn cấm đầu tư): Ngành Thương mại bán lẻ, năng
lượng nguyên tử, cờ bạc và cá cược, kinh doanh nhà ở và bất động sản và
một số lĩnh vực nông nghiệp.
- Sở hữu tối đa 26%: Ngành Nông nghiệp, công nghiệp quốc phòng,
in ấn, bảo hiểm.
- Sở hữu tối đa 49%: Ngành Phát thanh, hàng không nội địa, cơ sở hạ
tầng và dịch vụ, khai thác khoáng sản (trừ vàng bạc, đá quý), sản xuất dây
dẫn.
- Sở hữu tối đa 74%: Ngành Xây dựng và vận hành các vệ tinh nhân
tạo, các nguyên liệu nguyên tử, khai thác than, ngân hàng và một số lĩnh vực
trong ngành công nghiệp viễn thông.
- Sở hữu 100%: Ngành hàng không, lọcdầu, hoá dầu, năng lượng phi
16
Năm 1993, FERA được tự do hoá, thuế nhập khẩu giảm từ 150%
xuống 100%. Năm 1994-1995, thuế nhập khẩu được giảm hơn nữa để thấp
hơn chi phí vốn và khuyến khích đầu tư. Đến năm 1993, thuế nhập khẩu
hàng hoá, vốn trong các dự án FDI hầu như được miến hoàn toàn, đồng thời
danh mục các hàng hoá được miễn thuế nhập khẩu đã tăng lên 78 hạng mục
và tiếp tục tăng ở những năm sau đó. Những thay đổi vể thuế nhập khẩu
được thực hiện thông qua chương trình như Giấy phép Nhập khẩu đặc biệt
(SIL) và Giấy phép Nhập khẩu chung mở (OGL), áp dụng miễn thuế cho cả
nhập khẩu hàng hoá sản xuất và tiêu dùng.
Bên cạnh đó, thuế công ty áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
cũng được giảm mạnh, từ 65% năm 1991 xuống 55% năm 1995. Chính phủ
áp dụng chế độ miễn giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp ĐTNN trong
thời hạn 3-5 năm tuỳ từng ngành ưu tiên.
- Điều chỉnh chính sách liên quan đến chuyển giao công nghệ:
Chính sách viễn thông quốc gia năm 1994 đã cho phép khu vực tư nhân
được tham gian phát triển công nghệ viễn thông của đất nước. Tỷ lệ sở hữu
của nhà ĐTNN được nâng lên tối đa 51% vào năm 1994 và ở một số lĩnh
vực viễn thông công nghệ thấp, tỷ lệ này duy trì ở mức 49%. Năm 1995,
Chính phủ sửa đổi Cơ chế Công viên công nghệ phần mềm (STP) và Cơ chế
Công viên công nghệ phần cứng điện tử (EHTP), trong đó có những khuyến
khích về thuế VAT và thuế doanh thu, thuế nhập khẩu. Những hàng hoá
nhập khẩu liên quan đến sản xuất hàng điện tử và phần mềm trong thời gian
này được miễn thuế hoàn toàn. Tháng 7 năm 1998, Nhóm Đặc nhiệm quốc
gia về công nghệ thông tin và phần mềm đã đề xuất một kế hoạch hành động
108 điểm, trong đó có những biện pháp ưu đãi hơn cho ĐTNN vào lĩnh vực
này. Trong những năm 2000-2007, những khuyến khích đặc biệt của Chính
phủ đều thuộc về các ngành năng lượng, viễn thông, phần mềm,
hydrocacbon, R&D và xuất khẩu.
- Điều chỉnh vùng đầu tư:
được xây dựng các dịch vụ viễn thông cơ bản; Đạo luật Đường cao tốc quốc
18
gia cho phép nhà ĐTNN được đầu tư dưới hình thức BOT. Việc nới lỏng sở
hữu cổ phần của các nhà ĐTNN trong ngành viễn thông, đường xá, cầu
cống, sân bay…trong những năm sau đó đã khiến cơ sở hạ tầng quốc gia
được nâng cấp và hiện đại hoá. Năm 2004, Dự án Golden Quadrilateral trị
giá 5,5 tỷ USD đã liên kết bốn tuyến tàu ngầm giữa Delhi, Mumbai. Chennai
và Kolkata với các tuyến đường sắt hiện đại, dài 5.850 km, đã được hoàn
thành. Các tuyến đường sắt Bắc – Nam, Đông – Tây dài 7.000 km cũng
được hoàn thành trong năm 2004. Ngoài ra, các dự án cơ sỏ hạ tầng khác nối
liền các thành phố chủ yếu với chiều dài 10.000 km cũng bắt đầu được tiến
hành từ năm 2004.
Đầu năm nay, để thúc đẩy thu hút FDI, ngày 30.1, chính phủ Ấn Độ
công bố nới lỏng luật lệ đối với các tiêu chuẩn về thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Việc nới lỏng chủ yếu thuộc về các lĩnh vực thông tin
tài chính, chứng khoán, hàng không dân dụng và tăng mức trần đầu tư cho
lĩnh vực dầu khí.
Theo quyết định mới, vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 49% lên 100%
đối với những hoạt động về hàng không như bảo trì, sửa chữa, sản xuất các
thiết bị cũng như đào tạo trong ngành hàng không. Khai thác quặng và
khoáng sản titan cũng được phép đầu tư tối đa 100%. Tuy nhiên, vốn đầu tư
trong các công ty thông tin tín dụng được phép lên đến 49% dưới sự cho
phép của ngân hàng dự trữ Ấn Độ. Mức trần của đầu tư nước ngoài trong
những công ty lọc dầu cũng được điều chỉnh. Uỷ ban chính phủ về hoạt
động kinh tế (CCEA) nhấn mạnh: “Ấn cho phép các công ty nước ngoài sở
hữu tối đa 49% trong các liên doanh lọc dầu và những công ty dầu cổ phần
so với mức trước đây là 26%”.
Cho đến nay, Ấn Độ là nước duy nhất tiến hành các thủ tục phê chuẩn
vốn đầu tư tự động không thông qua giấy phép do Chính phủ trực tiếp phê
chuẩn, ngoại trừ một số dự án đặc biệt. Đơn xin đầu tư được gửi lên Ban thư
dòng vống FDI thực hiện tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1992, tỷ lệ
vốn FDI thực hiện chỉ chiếm 18,1% tổng vốn FDI được phê chuẩn, những
năm sau đó cũng chiếm tỷ lệ rất thấp do chính sách thu hút ĐTNN còn nhiều
20
hạn chế (đạt tỷ lệ từ 21-48% trong giai đoạn 1994-1999), thì trong những
năm 2000, tỷ lệ vốn thực hiện đã tăng rất nhanh, đạt 80,1% vào năm 2001,
164,55% vào năm 2002, 214,47% vào năm 2003, 197,47% vào năm 2004.
Rõ ràng, những thay đổi chính sách và môi trường đầu tư đã khiến hiệu quả
của dòng vốn ĐTNN vào Ấn Độ tăng lên rõ rệt. Do khối lượng vốn ĐTNN
tăng lên nhanh chóng, những năm gần đây tỷ lệ vốn FDI vào Ấn Độ trong
tổng FDI toàn cầu đã tăng từ 0,5% trong năm 2002 lên 0,8% năm 2004.
-Cơ cấu ngành đầu tư thay đổi theo hướng điều chỉnh chính sách
Chính sách công nghiệp mới năm 1991 và những điều chỉnh chính sách
thu hút ĐTNN thời gian qua của Ấn Độ đều tập trung hướng chủ yếu vào
các ngành công nghiệp mũi nhọn và công nghệ cao như viễn thông, bảo
hiểm, hàng không, đóng tàu, chế tạo máy bay, năng lượng nguyên tử, nghiên
cứu vũ trụ, phát triển đại dương…Điều này khiến Ấn Độ trở thành “văn
phòng của thế giới”. Xẻt trong giai đoạn 1991-2005, cơ cấu FDI theo ngành
ở Ấn Độ là như sau: thiết bị điện tử bao gồm cả phần mềm máy tính và hàng
điện tử chiếm 16,5%; công nghiệp vận tải 10,34%; ngành dich vụ 9,64%;
viễn thông 9,58%; nhiên liệu 8,41%; hoá chất 5,86%; chế biến thực phẩm
3,67%; dược phẩm và chất gây nghiện 3,18%; những lĩnh vực khác như dệt
may, công nghiệp giấy và in, khách sạn và du lịch…mỗi ngành chiếm từ 1-
1,5% tổng FDI; các ngành chế biến cao su, máy móc thiết bị, phân bón, chế
biến sản phẩm thuộc da… mỗi ngành chiếm từ 0,2-0,8 % tổng FDI. Nhờ
những chính sách thu hút ĐTNN hướng về công nghệ cao, Ấn Độ hiện nay
là điểm đến của các công ty xuyên quốc gia nổi tiếng như GE, Dupont, Eli
Lily, Monsanto, Caterpillar, GM, Hewlett Packard, Motorola, Bell Labs,
Daimler Chrysler, Intel, Texas Instruments, Cummins, Microsoft, IBM,
Toyata, Misubishi, Samsung, LG, Novartis, Bayer, Nestle, Coca Cola,
Maharashtra là điểm đến hấp dẫn nhất (chiếm 17,4% tổng vốn ĐTNN vào
Ấn Độ), tiếp theo là Delhi (12%), Tamilnadu (8,6%), Karnataka (8,2%),
Gujarat (6,5%), Andhra Pradesh (4,6%). Sáu bang này cũng là nơi có mức
độ tập trung vốn ĐTNN ở một số ít bang trong tổng số 28 bang ở Ấn Độ
phản ánh ảnh hưởng của chính sách phân bổ vùng thu hút ĐTNN của đất
22
nước này và hàm ý trong tương lai Chính phủ cẩn phải có sự phân bổ cân
đối hơn nữa.
II – Thái Lan
2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
Trước khủng hoảng tài chính năm 1997, nền kinh tế Thái Lan đã trải qua
nhiều năm tăng trưởng kinh tế nhanh do có ngành công nghiệp chế tạo phát
triển giúp kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ 9,4% từ năm 1985 đến
năm 1996. Có được những thành tựu đó là nhờ Thái Lan đã tận dụng được
nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào và rẻ, thực hiện chính sách
mở cửa kinh tế và phát triển mạnh theo hướng phục vụ xuất khẩu.
Chính phủ Thái Lan đã có những nỗ lực cải thiện cán cân thương mại như:
cải thiện môi trường kinh tế, cải thiện cơ cấu chính sách thương mại và phá
giá mạnh đồng Baht và tác động đến cán cân thanh toán quốc tế của Thái
Lan. Để tập trung, bài viết sẽ phân tích chủ yếu vào công cụ phá giá mạnh
đồng Baht và tác động đến cán cân thanh toán quốc tế. Do khó khăn về tài
chính, thiếu ngoại tệ nghiêm trọng nên trong giai đoạn trước khủng hoảng,
các nước Đông Á neo giữ tỷ giá cố định so với USD. Với Thái Lan, việc thi
hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định so với đồng USD đồng nghĩa với
việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht trong khi giá trị của USD với
JPY và các đồng tiền khác tăng rất mạnh. Tuy tỷ giá chính thức giữa Baht
với USD có tăng lên, nhưng nếu theo học thuyết ngang giá sức mua thì đồng
Baht đã giảm giá khoảng 20% so với USD nhưng chỉ được điều chỉnh rất ít
(khoảng 6%). Do đó, việc đồng Baht bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả
lại giá trị đích thực của nó.
phải thả nổi đồng Baht. Đồng tiền này ngay lập tức giảm giá mạnh. Phản
ứng dây chuyền đã lan rộng khi các nhà đầu tư rút vốn ra khỏi các nước có
những triệu chứng kinh tế tương tự như Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc.
Từ cuối năm 1998 – 2004, tỷ giá Baht/USD đôi lúc giảm và sau đó tăng nhẹ
nhưng nói chung duy trì ở mức ổn định. Tỷ giá tăng nhẹ từ 39,06 năm 2004 lên
41,03 năm 2005 nhưng cho tới nay, tỷ giá giảm do USD giảm giá. Mặc dù luôn
chú trọng tới xuất khẩu, nhưng Thái Lan đã phải chấp nhận để tỷ giá của nội tệ
24
tăng hơn 20% so với USD và duy trì ở mức lạm phát trung bình là 3% từ năm
2006 tới nay do Chính phủ Thái Lan nhận thức được rằng trong bối cảnh kinh
tế thế giới hiện nay, nội tệ tăng giá so với USD là chính sách có lợi hơn
2.2 Các đặc điểm chính trong chính sách của Thái lan
Là một nước có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, nhưng Thái
Lan đã sớm có những nhận thức đúng đắn về nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài và đã tận dụng nó để phát triển đất nước. Trong giai đoạn 1997 -
1998, nền kinh tế Thái Lan ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khung hoảng tài
chính châu Á. Sau đó, nền kinh tế Thái Lan đi vào giai đoạn hồi phục.
Xoá bỏ những nghi ngại về tình hình chính trị - kinh tế bất ổn vừa qua
trước con mắt các nhà đầu tư nước ngoài, Thủ tướng Thái Lan Surayud
Chulanont cho biết, Thái Lan không có bất kỳ thay đổi gì trong chính sách
đầu tư
Ông nói rằng, để tăng cường thu hút FDI, Chính phủ Thái Lan đặt ra các ưu
tiên để thực hiện trong vòng một năm tới: thúc đẩy cải cách chính trị, tăng
cường đoàn kết quốc gia, thu hẹp khoảng cách về thu nhập và củng cố pháp
quyền nhằm hạn chế tham nhũng. Để cải thiện tính hấp dẫn của môi trường
đầu tư, Thái Lan sẽ tăng cường tính minh bạch hóa, phát triển cơ sở hạ tầng
với những dự án khổng lồ, tìm nguồn tài chính từ lĩnh vực tư, cải thiện giáo
dục nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào toàn cầu hóa
Ngoài ra, Thủ tướng Surayud Chulanont nhấn mạnh, Thái Lan chào đón các
nhà đầu tư nước ngoài chính là vì họ đã giúp Bangkok phát triển một xã hội