GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI CỦA HÀ NỘI
1.Quan điểm về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng và trong cả nước thì
thủ đô Hà Nội một trung tâm phát triển kinh tế của cả nước cũng đưa ra những
quan điểm nhất quán nhằm phát triển toàn thành phố, đưa thành phố có những
vị trí quan trọng nhất trong vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong những
thành phố phát triển nhất cả nước.
Trong giai đoạn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước tiếp tục được
đẩy nhanh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đạt được bước
chuyển biến quan trọng theo hướng phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Tạo được
nền tảng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước phát triển
kinh tế tri thức. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao
vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Dự kiến trong giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8-
8,5%/năm và trong giai đoạn 2011-2020 phấn đấu đạt cao hơn. Nền kinh tế - xã
hội cả nước, vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận sẽ tiếp tục tăng
nhanh trong những năm tới đòi hỏi thành phố Hà Nội phải có tốc độ tăng trưởng
nhanh hơn để từng bước hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước.
Trong vùng đồng bằng sông Hồng, kinh tế của tiểu vùng Nam đồng bằng
sông Hồng (bao gồm 4 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) chậm
phát triển so với vùng Bắc đồng bằng sông Hồng (vùng KTTĐ Bắc Bộ):
GDP/người vùng Nam đồng bằng sông Hồng chỉ bằng 46% bình quân của vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các chỉ tiêu khác như thu ngân sách, xuất nhập khẩu,
đầu tư đều thấp thua so với toàn vùng cũng như vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ. Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP của vùng còn khá cao (trên
35%), công nghiệp - xây dựng mới chiếm khoảng 30%. Trong giai đoạn tới để
toàn vùng đồng bằng sông Hồng có mức tăng trưởng kinh tế cao, nhất định phải
sông Hồng trở thành trục vận tải, du lịch của vùng, cải tạo sông để thoát lũ tốt
hơn và và bảo vệ môi trường nước. Từng bước bê tông hóa hệ thống đê, kè bờ
những nơi sạt lở ở các sông quan trọng, nơi xung yếu. Kiên cố hóa, nâng cấp
các công trình đầu mối, hệ thống kênh mương phục vụ nông nghiệp .
Đầu tư xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu ngang tầm khu vực ở
Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh đủ điều kiện cung cấp các dịch vụ y tế chất
lượng cao phục vụ nhân dân, người nước ngoài.
Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập
trung, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích; hình
thành các vùng sản xuất nguyên liệu cung cấp đủ cho chế biến và xuất khẩu.
Xây dựng thành phố Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn
hóa, làm hạt nhân phát triển đồng bằng sông Hồng.
1.1 Huy động cao nhất các nguồn lực để phát triển với tốc độ tăng
trưởng nhanh
Để các dự án có hiệu quả cao nhất tất nhiên không thể thiếu đến nguồn
nhân lực có trình độ cao.Việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực được coi là vấn
đề cấp thiết nhất là đối với Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Tiếp tục
tăng cường đầu tư cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá để nâng cao
trình độ dân trí, tỷ lệ lao động được đào tạo và sức khoẻ cho người lao động.
-Đào tạo, nâng cao chất lượng lao động
+Đào tạo dài hạn: tạo nguồn lao động có chất lượng đáp ứng yêu cầu lao
động kỹ thuật đa dạng của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá; nhất là
phục vụ phát triển các khu công nghiệp. Chú trọng đào tạo để xuất khẩu lao
động chất lượng cao.
+Đào tạo ngắn hạn: dạy nghề cho nông dân, dạy nghề cung cấp nguồn
lao động phục vụ cho phát triển các làng nghề, tiểu thủ công nghiệp.
Phấn đấu đến năm 2010 có trên 45%, năm 2020 trên 65% lao động qua
đào tạo. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở dạy nghề trên
địa bàn. Khuyến khích thành lập thêm một số trường cao đẳng, trung cấp dạy
nghề mới ngoài công lập.
và cả đất nước. Việc phát triển thành phố Hà Nội đối với tiểu vùng Nam đồng
bằng sông Hồng cũng như cả vùng đồng bằng sông Hồng nhằm đảm bảo cho cả
vùng có sự tăng trưởng bằng việc thu hút vốn đầu tư đúng với tiềm năng của
mình.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản Hà Nội, các đô thị lớn trong vùng
là thị trường lớn tiêu thụ các sản phẩm nông, thuỷ sản của HN và cùng với HN
hợp tác trong việc chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm về sản
xuất gieo ươm hạt giống, vùng sản xuất rau an toàn đảm bảo vệ sinh thực phẩm,
sản xuất cây trồng có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu của thị trường và đáp
ứng cho nhu cầu chế biến công nghiệp.
Về công nghiệp: Hợp tác phát triển công nghiệp chế biến rau quả, hỗ trợ
kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cho các cụm công nghiệp, làng nghề truyền
thống, hỗ trợ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm .
Trong lĩnh vực thương mại, hợp tác xây dựng các trung tâm thương mại,
chợ đầu mối... Hợp tác phát triển công tác thông tin và xúc tiến thương mại,
cùng tổ chức các cuộc hội chợ, triển lãm.
Hợp tác phát triển du lịch: Phối hợp tuyên truyền và quảng bá du lịch,
hình thành các tour du lịch nhằm khai thác các lợi thế so sánh và đặc thù riêng
của mỗi địa phương về di tích lịch sử, văn hoá, các lễ hội truyền thống, các làng
nghề; đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho ngành du lịch, hợp tác để xây dựng
một số cơ sở lưu trú, một số hoạt động dịch vụ khác .
1.3 Phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội
Công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh phải gắn liền với công cuộc xóa đói
giảm nghèo, tạo việc làm, giảm chênh lệch về phát triển xã hội giữa các khu
vực, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Không thể để chỉ phát triển kinh
tế, tăng trưởng với mức cao nhưng bên cạnh đó là sự tàn phá của việc hiện đại
hóa, sự ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân, đời sống
nhân dân không những về vật chất mà còn về cả tinh thần.
1.4 Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ với khai thác tài nguyên
thiên nhiên hợp lý
hoá, xã hội, làm hạt nhân phát triển của đồng bằng sông Hồng:
- Trung tâm của một số ngành công nghiệp: Công nghiệp phục vụ nông
nghiệp (cơ khí nông nghiệp, thiết bị bảo quản và chế biến nông sản...); Công
nghiệp cơ khí phục vụ dệt - may; Công nghiệp cơ khí phục vụ vận tải (lắp ráp
và sản xuất phụ tùng ô tô), trung tâm đóng và sửa chữa tầu cỡ trung bình; Công
nghiệp công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, điện tử, công
nghệ vật liệu mới.(...
-Trung tâm đào tạo (không trùng lặp với đào tạo các tỉnh xung quanh):
Xây dựng tại các cấp học các cơ sở giáo dục chất lượng cao mang tính quy mô
vùng nhằm tìm kiếm và bồi dưỡng nhân tài; Đào tạo trình độ đại học chất lượng
cao, theo hướng ưu tiên các ngành nghề phục vụ cho đồng bằng sông Hồng, §µo
tạo cán bộ phục vụ các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách, Đào tạo cán
bộ chuyển giao công nghệ cho Đồng bằng sông Hồng.