Tài liệu NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ MỐI LIÊN KẾT CỦA CÁC TÁC NHÂN TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẮN Ở THỪA THIÊN HUẾ - Pdf 10



299

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ MỐI LIÊN KẾT CỦA CÁC TÁC NHÂN
TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẮN Ở THỪA THIÊN HUẾ
Nguyễn Viết Tuân
Trường Đại học Nông Lâm, Đại Học Huế

Tóm tắt. Ở Thừa Thiên Huế, năm 2004 nhà máy chế biến tinh bột sắn được xây
dựng, từ đó đến nay diện tích và năng suất sắn tăng mạnh. Sản phẩm sắn được
cung ứng, tiêu thụ qua một số tác nhân chính. Với sản phẩm sắn tươi: Hộ sản xuất
bán qua thu gom địa phương hoặc bán trực tiếp cho nhà máy chế biến. Với sắn lát
khô: hộ sản xuất tự chế biến bán qua thu gom xuất khẩu đi Trung Quốc, một phần
sắn lát khô dùng chế biến thức ăn chăn nuôi tại chỗ. Năm 2010, là năm hộ sản xuất
có lãi cao, trung bình 1043 đồng/kg sắn tươi, chiếm 69% trong tổng lợi nhuận tạo
ra, nếu chế biến sắn lát khô lợi nhuận tăng hơn bán sắn tươi từ 95 - 120 đồng/kg.
Người thu gom lãi 175 đồng/kg sản phẩm, chiếm 11,6%, nhà máy chế biến lãi 293
đồng/kg chiếm 19,4%. Liên kết giữa nhà máy với người sản xuất là mấu chốt trong
chuỗi giá trị được đánh giá là không chặt chẽ và không có liên kết, nhà máy không
ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với hộ sản xuất hay qua HTX mà chỉ mua trực tiếp
tại nhà máy. Người trồng sắn tự do bán sản phẩm của mình, giá cả tăng giảm thất
thường, người dân bị động trong sản xuất, vùng nguyên liệu thiếu ổn định.
Từ khóa: Chuỗi giá trị, đặc điểm, mối liên kết, sắn, tác nhân,Thừa Thiên Huế.

1. Đặt vấn đề
Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường tiêu thụ là hướng đi đúng để
phát triển nông nghiệp, trong đó mối liên kết sản xuất giữa nông dân với các nhà máy

7075
7339
7248
6932
7080
0
50
100
150
200
250
6700
6800
6900
7000
7100
7200
7300
7400
2006
2007
2008
2009
2010
Din tích (ha)
Năm
Din tích ( ha)
Năng sut ( t/ha)

0

hơn, giá bán cũng thấp hơn so với sắn trồng ở vùng gò đồi và miền núi, do vậy người
dân ở vùng thấp trũng, xa nhà máy thường thái lát phơi khô để bán và chế biến thức ăn
chăn nuôi.
3.2. Đặc điểm cấu trúc của chuỗi giá trị sắn của Thừa Thiên Huế
Cơ sở để xác định cấu trúc và khối lượng sản phẩm theo các kênh là căn cứ vào
kết quả khảo sát nhu cầu sắn của nhà máy, nguồn cung tới nhà máy, những người thu
gom và các hộ sản xuất, chế biến. Chuỗi giá trị sắn ở Thừa Thiên Huế cũng rất đa dạng,
tùy vào điều kiện sinh thái, cơ cấu sản phẩm thay đổi theo năm, phụ thuộc vào thị
trường tiêu thụ, thời tiết nắng, mưa và giá sắn nguyên liệu. Cấu trúc kênh tiêu thụ sắn
gồm 2 - 3 tầng và theo 3 kênh chính (Hình 3):
- Kênh 1: Hộ sản xuất - Thu gom - Nhà máy chế biến - Xuất khẩu và tiêu dùng
nội địa. Đây là kênh sắn tươi, người sản xuất không có phương tiện hoặc ở xa nhà máy,
bán qua các thương lái, khối lượng sản phẩm qua kênh này khoảng 30%, trong đó
khoảng 28% bán về nhà máy, khoảng 2% đi ra ngoài tỉnh cung cấp cho nhà máy chế
biến tinh bột sắn Quảng Trị và bán cho các cơ sở chế biến thủ công gần thành phố chế
biến bột ướt.
- Kênh 2: Hộ sản xuất - Nhà máy - Xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Kênh 2 cũng
là sắn tươi, khối lượng sản phẩm qua kênh này khoảng 10%, gồm những hộ có phương
tiện hay những khu vực gần nhà máy, qui mô số lớn (2 - 3/ha hộ) hoặc nhóm hộ tự liên
kết lại, thuê phương tiện hoặc tự vận chuyển trực tiếp về nhà máy, bỏ qua trung gian, do
vậy giá sắn bán được cao hơn. Những vùng này bán vào nhà máy tới 95% khối lượng
và 5% số còn lại chế biến sắn khô.
- Kênh 3: Hộ sản xuất kiêm chế biến sắn khô - Thu gom nhỏ - Thu gom lớn -
Xuất khẩu. Đây là kênh chế biến và bán sản phẩm sắn lát khô, chiếm khoảng 60% sản
phẩm sắn sản xuất ra. Hộ trồng sắn thái lát phơi 1- 2 nắng, khoảng 25% khối lượng bán
cho những người thu gom nhỏ và các thu gom nhỏ bán lại cho các thu gom lớn của
Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, thu gom lớn vận chuyển bằng tàu hỏa ra Lạng Sơn xuất
khẩu sang Trung Quốc. Lượng sắn qua kênh này phát triển mạnh khi thời tiết thuận lợi
và thị trường Trung Quốc có nhu cầu cao. Khoảng 35% sắn lát còn lại được dùng chế
biến thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi tại hộ.

thu nhập thêm từ lấy công làm lãi khoảng 200.000 - 250.000 đồng/tấn sắn tươi. Nếu gia
Nhà máy ch
ế

biến
(3)
(1)
(2)
Đ

u
vào
Thu gom s

n tươiH

s

n
xuất sắn
H

ch
ế
bi
ế
n s


công
Chăn nuôi tại chỗ (35%)
2% 303

đình chế biến dùng cho chăn nuôi phải phơi khô hơn. Giá sắn cao người trồng sắn có lợi
khiến nhiều hộ chuyển đổi các cây trồng khác như cây keo, khoai lang sang trồng sắn.
Nếu người dân trồng keo sau 5 - 6 năm mới cho thu hoạch, thu nhập bình quân
8.500.000 đồng/ha/năm thấp hơn so với trồng sắn. Cây sắn chiếm vị trí quan trọng trong
cơ cấu thu nhập của nông hộ, tính bình chiếm 44% trong tổng thu nhập của hộ, cụ thể ở
xã Phong Mỹ sắn chiếm 37%, Phong Hiền 54%, Phú Đa 32%, Hương Phú 55%. Cá biệt
nhóm hộ nghèo tỷ lệ thu nhập từ sắn còn cao hơn nhiều ví dụ nhóm hộ nghèo ở Hương
Phú thu từ sắn chiếm tới 65%. Cây sắn đang là cây giúp xóa đói giảm nghèo hiệu quả.
Tuy nhiên, nếu kỹ thuật canh tác không hợp lý trên những vùng đất dốc thì nguy cơ suy
thoái đất là rất cao.
- Tác nhân thu gom: Gồm thu gom nhỏ và thu gom lớn. Thu gom nhỏ là các
thương lái chuyên hoặc không chuyên ở địa phương, có một số đến từ tỉnh Quảng Trị.
Hầu hết các thu gom có thời gian hoạt động 5 - 7 năm trở lại đây, một số không có
phương tiện phải đi thuê vận chuyển, phần lớn có phương tiện vận chuyển nên chủ động
mở rộng địa bàn thu mua. Sắn tươi được thương lái thu gom không phân loại sản phẩm
và bán thẳng cho nhà máy. Chi phí cho 1 tấn sản phẩm gồm thu gom, vận chuyển trung
bình 205.000 - 215.000 đồng. Trung bình 1 thương lái thu gom mỗi năm khoảng 800 -
1000 tấn sản phẩm tươi, người thu gom lãi trung bình 175.000 đồng/tấn. Sắn khô được
thu gom và bán cho những thu gom lớn. Trung bình 1 thu gom nhỏ sắn khô thu mua
được từ 400 - 500 tấn/năm. Thu gom lớn là các Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân
của Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, chuyên buôn bán nông sản đường dài có phương
tiện vận chuyển tốt, hàng năm mỗi thu gom lớn có thể xuất với khối lượng 6000 - 7000

trường này không đòi hỏi chất lượng cao, cũng không đòi hỏi sắn hoàn toàn khô, số
lượng không hạn chế. Ngoài ra một phần sắn được phơi khô dùng tại địa phương, các cơ
sở chế biến thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi tại hộ gia đình.
3.4. Sự hình thành giá và phân chia lợi nhuận trong chuỗi giá trị
Bảng 1. Hình thành giá và phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sắn Thừa
Thiên Huế năm 2010.
ĐVT: Đồng/kg sắn tươi
Kênh Chỉ tiêu
Nông
dân
Thu
gom
Nhà
máy/Thu
gom lớn
Giá mua vào - 1775 2155
Chi phí (sản xuất/ thu gom/ chế biến) 745 205 480
Giá thành 745 1980 2635
Giá bán 1775 2155 2875
Kênh 1:
Nông dân
- Thu gom
- Nhà máy
Lợi nhuận 1030 175 240
Giá mua vào - - 2050
Chi phí (sản xuất/ chế biến) 745 - 480
Giá thành (giá sản xuất + bốc vác,
vận chuyển)
995 - 2530
Giá bán 2050 - 2875

giá cao hơn so với bán cho thu gom. Lợi nhuận người nông dân thu được là 1055
đồng/kg chiếm 75,3% trong tổng lợi nhuận tạo ra và nhà máy thu được 345 đồng/kg
chiếm 24,7%. Như vậy, trung bình hai kênh (1 và 2) người sản xuất lãi 1043 đồng/kg
chiếm 69% trong tổng giá trị mang lại và nhà máy lãi trung bình 293 đồng/kg (19,4%),
người thu gom lãi 175 đồng (11,6%).
- Kênh 3: Hộ trồng sắn kiêm chế biến sắn khô, thu lợi hơn so với bán sắn tươi từ
95 -120 đồng/kg, ngoài ra còn lợi công chế biến khoảng 250 đồng/kg, đây là động lực
giúp họ thực hiện chế biến sắn khô. Người thu gom mỗi kg sản phẩm tươi lãi 80 đồng
(160 đồng/kg sắn khô) và thu gom lớn mỗi kg sắn tươi thu được 85 đồng (170 đồng/kg
sắn khô). Thái sắn lát khô phát triển nếu thời tiết thuận lợi, thị trường Trung Quốc mua
với giá cao và không hề kén chọn chất lượng. Giá sắn có khi lên 6000 - 6200 đồng/kg
sắn khô ở cửa khẩu Lạng Sơn.
3.5. Sự liên kết của các tác nhân trong chuỗi giá trị
Liên kết được đánh giá ở bốn mức: Rất chặt chẽ, khá chặt chẽ, không chặt chẽ
và không có liên kết. Liên kết dọc theo chuỗi cung sản phẩm giữa các tác nhân thể hiện
mức độ khác nhau:
- Liên kết giữa nông dân với HTX và đại lý vật tư: kết quả khảo sát hộ sản xuất
cho rằng 86% ý kiến được hỏi cho rằng kiên kết giữa nông dân và HTX là rất chặt chẽ,
vì HTX là người cung cấp chính vật tư và giống có uy tín hơn, ngoài ra còn là cầu nối
thông tin giữa nông dân với nhà máy. Liên kết giữa nông dân với đại lý: 60% cho rằng
không có liên kết, và liên kết không chặt. Điều này cho thấy HTX là đối tác liên kết với
nông dân chặt hơn là những đại lý kinh doanh vật tư. Tuy nhiên HTX chưa thể hiện
được liên kết trong việc thu mua sản phẩm của nông dân.
- Liên kết giữa nông dân với những thu gom: 45% cho rằng liên kết khá chặt chẽ, 306

18% cho rằng không chặt chẽ, 37% cho rằng không có liên kết, để thu mua được nhiều
sản phẩm người thu gom đã bỏ tiền ứng trước khi nông dân gặp khó khăn. Điều này cho

nét nhất là nhóm nông hộ ở cạnh nhà máy, sản xuất liền vùng liền khoảnh cùng nhau
vần công, liên kết lại bán sản phẩm, kết quả khảo sát ở xã Phong Hiền cho thấy 80%
nông dân cho rằng liên kết khá chặt chẽ, họ chung nhau thuê xe chở về nhà máy, hưởng
giá bán cao hơn. Các tác nhân thu gom hầu như không có liên kết mà tồn tại sự cạnh
tranh chiếm lĩnh thị phần sản phẩm.
4. Kết luận 307

Vùng nguyên liệu sắn của Thừa Thiên Huế phát triển với diện tích tăng, giảm
hàng năm đạt 7080 ha năm 2010, năng suất đạt 19,4 tấn/ha và sản lượng đạt gần 135
nghìn tấn/năm, đáp ứng nguyên liệu nhà máy, chăn nuôi tại chỗ và chế biến khô xuất
khẩu.
Chuỗi giá trị sắn có cấu trúc 2 - 3 tầng và theo ba kênh chính: 1) khoảng 28%
sản phẩm bán qua thu gom và bán về cho nhà máy. 2) khoảng 10% sản phẩm người sản
xuất bán thẳng về nhà máy và 3) khoảng 60% sản phẩm được người sản xuất tự chế
biến sắn lát khô, trong đó khoảng 25% bán cho các thu gom xuất khẩu sang thị trường
Trung Quốc và 35% dùng chế biến thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi tại hộ gia đình.
Năm 2010, giá trị thu được từ chuỗi giá trị sắn tươi đang có lợi cho người sản
xuất, trung bình hộ sản xuất lợi nhuận thu được 69%, thu gom thu được 11,6% và nhà
máy chế biến 19,4% so với tổng lợi nhuận được tạo ra từ 1 đơn vị sản phẩm. Chế biến
sắn lát khô thu lợi hơn bán tươi từ 95 -120 đồng/kg chưa tính công lao động gia đình.
Cây sắn giữ vị trí quan trọng trong thu nhập của nông hộ.
Liên kết giữa nhà máy và người sản xuất về bán sản phẩm không chặt chẽ,
không có một ràng buộc hay thỏa thuận nào được ký kết, người nông dân tự do bán sản
phẩm cho nhà máy hay những người thu gom hoặc chế biến thành sắn khô khi giá cao.
Liên kết về thông tin nhất là giá thu mua sắn được thiết lập tương đối chặt chẽ giữa các
tác nhân, liên kết được đánh giá chặt chẽ nhất là giữa HTX cung ứng đầu vào và người
sản xuất, đã xuất hiện liên kết của các nhóm hộ.

to the selling price at 1.043 VND/kg which occupied 69% of the total profit in the
whole market chain. The price of the dry chip was approximately 95 - 120 VND/kg
higher than the fresh one leading to more profit for the farmer who processed this
kind of dry product. The profit of collectors and factory is 175 VND/kg and 293
VND/kg occupying 11,6% and 19,4% of the total profit, respectively. The result
additionally indicated that the linkage between farmers and the factory was crucial
in the value chain. This relationship, nonetheless, was not coherent and tightening.
The study proved that the starch factory just has bought cassava products directly
in the area without any contracts with farmers or cooperatives. The farmers sell
their product freely leading to getting the fluctuation in the selling price and falling
into the passive of production while the factory gets the problem of stable raw
materials.
Keywords: Characteristic, cassava, market linkage, stakeholders, Thua Thien Hue,
value chain.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status