Thực trạng và những Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các Lâm trường quốc doanh trong giai đoạn đến 2010 - Pdf 12

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Lời nói đầu
Lâm trờng quốc doanh là tổ chức kinh tế có vị trí quan trọng nhất trong
hệ thống tổ chức sản xuất của ngành lâm nghiệp, đợc giao quản lý và sử dụng
đại bộ phận tài nguyên rừng tự nhiên hiện còn của nớc ta. Lâm trờng quốc
doanh đã từng giữ vai trò chủ lực trong việc thực hiện nhiệm vụ của ngành lâm
nghiệp: khai thác, cung ứng lâm sản đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân,
trồng rừng mới, bảo vệ rừng và góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn,
miền núi, vùng dân tộc.
Trong những năm qua thực hiện đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng và
Nhà nớc, Lâm trờng quốc doanh đã có những chuyển biến quan trọng cả về tổ
chức và cơ chế quản lý nhằm góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển nghề
rừng bền vững. Tuy nhiên với đặc thù của loại hình doanh nghiệp lâm nghiệp,
hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan chặt chẽ đến t liệu sản xuất là rừng và
đất rừng, bảo vệ và phát triển môi trờng sinh thái, giữ vững an ninh quốc phòng
và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi. Việc đổi mới tổ chức và quản
lý Lâm trờng quốc doanh vừa qua vẫn còn nhiều vấn đề cha rõ dẫn đến tình
trạng khó khăn trong hoạt động và phát triển của nhiều lâm trờng, hiệu quả khai
thác toàn diện tiềm năng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp còn thấp , đời sống
của ngời lao động đang gặp nhiều khó khăn. Lâm trờng cha làm tốt vai trò nòng
cốt trong quản sản xuất, trung tâm dịch vụ khoa học kỹ thuật trên địa bàn.
Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu về đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý,
chính sách đối với Lâm trờng quốc doanh nhằm phát hiện những vấn đề vớng
mắc và đề xuất những giải pháp, chính sách nhằm hoàn thiện đổi mới hệ thống
Lâm trờng quốc doanh là vấn đề cần thiết góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện
công cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nớc trong lĩnh vực lâm nghiệp. Vì vậy,
tôi lựa chọn đề tài: Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn
1
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
thiện cơ chế, chính sách đối với các Lâm trờng quốc doanh trong giai đoạn
đến 2010 làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.

Trong nền kinh tế nhiều thành phần.
1.1 Khái niệm và vai trò của nền Kinh tế nhiều thành
phần.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều đặc điểm, nhng đặc điểm
nổi bật là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Theo quan điểm chính trị học, thành
phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên cơ sở chế độ sở
hữu về t liệu sản xuất
1
.
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tồn tại không phải do ý muốn chủ quan
của Nhà nớc, nó xuất hiện, tồn tại và phát triển phụ thuộc vào những tiền đề
kinh tế và chính trị khách quan của nền kinh tế. Trong cơ cấu này, mỗi thành
phần kinh tế luôn có vai trò, vị trí và vận động, phát triển theo một xu hớng nhất
định. Xuất phát từ tính quy luật vốn có của nền kinh tế thị trờng, có thể thấy,
các thành phần kinh tế đều vận động hớng đến mục tiêu lợi ích. Sự vận động
này cũng có thể khác hớng, thậm chí ngợc chiều nhau tuỳ theo mục tiêu ấy là
gì, ai là chủ thể của những lợi ích đợc tạo ra, việc phân chia và sử dụng lợi ích
đó nh thế nào.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là do có nhiều
hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất. Đại hội Đảng IX(2001), đã khẳng
định từ các hình thức sở hữu cơ bản nh: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu
t nhân đã hình thành nhiều thành phần kinh tế với các hình thức tổ chức kinh
doanh đa dạng đan xen, hỗn hợp; đó là: Kinh tế Nhà nớc, Kinh tế tập thể, Kinh
tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế t bản t nhân, Kinh tế t bản Nhà nớc, Kinh tế có vốn
đầu t nớc ngoài
2
.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trờng ở
nớc ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đa nền kinh tế vợt khỏi thực trạng thấp
1

4
:
Thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi thành phần có
vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế; mỗi doanh nghiệp cũng đan xen
nhiều hình thức sở hữu; thực hiện bình đẳng và cạnh tranh để phát triển.
3
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia,1991.
4
Kinh tế Nhà nớc và quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nớc, Ngô Quang Minh, NXB chính trị quốc
gia,1998.
4
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Sở hữu nhà nớc có thể tồn tại ở nhiều hình thức tổ chức kinh tế, kinh tế
nhà nớc có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế vì chiếm lĩnh một số ngành và một
số lĩnh vực cơ bản.
Hợp tác là tổ chức kinh tế đợc hình thành trên cơ sở ngời lao động tự
nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với mọi qui mô và mức độ tập thể
hoá t liệu sản xuất khác nhau; phát huy vai trò tự chủ của xã hội viên. Hợp tác
xã chủ yếu là dịch vụ, hỗ trợ và hớng dẫn, giúp đỡ xã viên; đồng thời phát triển
nhiều hình thức kinh tế hợp tác đa dạng.
Kinh tế cá thể có vai trò quan trọng; có thể tham gia nhiều hình thức
liên kết, hợp tác khác nhau để có thể tiếp tục phát triển lớn hơn.
Kinh tế t bản t nhân là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của
nền kinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nớc, đợc phát triển
không hạn chế trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đợc
khuyến khích nh mọi thành phần kinh tế khác.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức độ đóng góp của các nguồn
lực vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Tuy nhiên việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay

kinh tế đã bộc lộ hạn chế. Kinh tế Nhà nớc cha phát huy hết vai trò chủ đạo của
mình, vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp còn nhiều lúng túng trong quá trình
triển khai. Kinh tế hợp tác chậm đổi mới và phát triển, Kinh tế t nhân, cá thể,
liên doanh cha đợc quản lý chặt chẽ. Vấn đề đặt ra là cần phải làm rõ vai trò vị
trí, thực trạng và xu thế vận động của mỗi thành phần kinh tế. Trên cơ sở đó lựa
chọn những hình thức kinh tế thích hợp, những giải pháp thoả đáng thúc đẩy
các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển.
1.1.1 Khái niệm và vai trò của Kinh tế Nhà nớc, Doanh nghiệp
Nhà nớc.
1.1.1.1 Khái niệm Kinh tế Nhà nớc, Doanh nghiệp Nhà nớc
Kinh tế Nhà nớc là khu vực kinh tế do nhà nớc nắm giữ, dựa trên cơ sở
quan trọng là sở hữu Nhà nớc. Hay nói cách khác Kinh tế Nhà nớc là toàn bộ
hoạt động kinh tế thuộc sở hữu của Nhà nớc, trên cơ sở đó Nhà nớc có quyền
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
quản lý, sử dụng hiệu quả kinh tế do lực lợng kinh tế của Nhà nớc mang lại.
Kinh tế Nhà nớc phải là và bao gồm những hoạt động kinh tế mà Nhà nớc là
chủ thể, có quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo hớng đã định.
Kinh tế Nhà nớc đợc thể hiện dới nhiều hình thức hoạt động khác nhau
với các hình thức tổ chức tơng ứng, nh hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất,
dịch vụ, các hoạt động đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội mà ở đó Nhà
nớc biểu hiện nh một chủ sở hữu, chủ thể kinh doanh, ngời tham gia. Nghĩa là
kinh tế Nhà nớc có nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận hợp thành kinh tế
Nhà nớc có chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
Nếu xét theo lĩnh vực hoạt động, thì khu vực kinh tế Nhà nớc bao gồm
các hoạt động kinh tế của Nhà nớc trong:
- Hoạt động trực tiếp sản xuất- kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
- Hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội.
Về hình thức tổ chức, khu vực kinh tế Nhà nớc bao gồm nhiều bộ phận
hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Cụ

Nhà nớc là cổ đông chính.
Doanh nghiệp có nhiệm sản xuất ra hàng hoá dịch vụ để bán.
Có hạch toán lãi lỗ.
Nếu xét theo mục tiêu hoạt động thì các doanh nghiệp Nhà nớc chia làm
3 nhóm:
Nhóm các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động công ích. Theo Luật
Doanh nghiệp Nhà nớc sửa đổi đã loại bỏ loại hình thức doanh nghiệp công ích
và thay bằng hoạt động công ích, các sản phẩm, dịch vụ công ích đợc Nhà nớc
thực hiện bằng cách đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do
Nhà nớc quy định
8
.
Nhóm các doanh nghiệp Nhà nớc bán công ích- sản xuất kinh doanh
hàng hoá công ích.
Nhóm các doanh nghiệp Nhà nớc thuần tuý kinh tế.
6
Luật Doanh nghiệp Nhà nớc, 1995. Chơng I, Điều 1.
7
Luật Doanh nghiệp Nhà nớc, 2004, chơng I, Điều 1.
8
Luật Doanh nghiệp Nhà nớc, 2004, chơng I, điều 3, Khoản 12.
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
1.1.1.2 Vai trò của Kinh tế Nhà nớc, Doanh nghiệp Nhà nớc.
Kinh tế Nhà nớc là bộ phận quan trọng, có tác động thiết thực trong cơ
cấu kinh tế của mỗi nớc. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn chủ trơng phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa và thành
phần kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân tức là nó
phải có khả năng chi phối xu thế phát triển kinh tế- xã hội của đất nớc. Vai trò
đó đợc thể hiện trên các mặt:

:
Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nớc giữ vững sự
ổn định xã hội, điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
Mở đờng dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự
tăng trởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.
Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lợc đối với sự phát triển
kinh tế- xã hội: cung ứng các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu (giao thông, thuỷ lợi,
điện, nớc , an ninh quốc phòng, xã hội (giáo dục, y tế, )
Góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế thị tr-
ờng.
Là lực lợng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh
ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc.
Là lực lợng đối trọng cạnh tranh trên thị trờng trong và ngoài nớc,
chống sự lệ thuộc vào nớc ngoài về kinh tế.
Thực hiện một số chính sách xã hội.
Là lực lợng tạo nền tảng cho xã hội mới.
Tóm lại, khu vực kinh tế Nhà nớc và hệ thống doanh nghiệp Nhà nớc là
những phạm trù kinh tế có cùng bản chất tuy khác nhau về cấp độ. Vai trò của
khu vực kinh tế Nhà nớc rộng hơn và bao hàm cả vai trò quan trọng cả hệ thống
doanh nghiệp Nhà nớc. Nói đến vai trò chủ đạo là nói đến vai trò của cả hệ
10
Ngô Quang Minh, Kinh tế Nhà nớc và quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nớc, NXB chính trị quốc
gia,1998.
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
thống kinh tế Nhà nớc trong đó các doanh nghiệp Nhà nớc là bộ phận chính
yếu, là phơng tiện, công cụ, lực lợng đi đầu mở đờng cho sự phát triển kinh tế.
1.1.2 Sự cần thiết phải đổi mới các Doanh nghiệp Nhà nớc

lỗ kéo dài, xây dựng một số mô hình doanh nghiệp Nhà nớc mới năng động và
có hiệu quả.
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các Lâm trờng quốc
doanh.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Lâm trờng quốc doanh.
1.2.1.1 Khái niệm Lâm trờng quốc doanh.
Thuật ngữ Lâm trờng quốc doanh xuất hiện ở nớc ta vào những năm
cuối cùng của thập kỷ 50 của thế kỷ XX, cùng với quá trình chuyển đổi các
Trạm trồng rừng Nam Quảng Bình và các Chi nhánh Quốc doanh Lâm khẩn
thành các đơn vị kinh tế, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, đợc giao
làm nhiệm vụ trồng rừng hoặc khai thác gỗ. Trớc đây, do xác định khái niệm và
nhiệm vụ của lâm trờng không rõ nên đã từng tồn tại thời kỳ mà ngành lâm
nghiệp xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất của Lâm trờng quốc doanh là khai thác
gỗ hoặc trồng rừng theo nhu cầu vốn đầu t của Nhà nớc. Do đó rừng còn gỗ thì
còn Lâm trờng quốc doanh, rừng hết gỗ khai thác thì giải tán Lâm trờng quốc
doanh. Trên phạm vi hoạt động của Lâm trờng quốc doanh nếu còn đất trống và
Nhà nớc cấp vốn xây dựng cơ bản thì Lâm trờng quốc doanh còn trồng rừng.
Nếu không còn đất trống hoặc Nhà nớc không cấp vốn nữa thì giải tán Lâm tr-
ờng quốc doanh.
Theo tinh thần đổi mới, Nghị Quyết số 28 của Bộ Chính trị về tiếp tục
sắp xếp, đổi mới và phát triển Nông, Lâm trờng quốc doanh ngày 16 tháng 6
năm 2003, Lâm trờng quốc doanh đợc thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là khai
hoang mở rộng diện tích canh tác ở các vùng đất mới, phát triển sản xuất lâm
sản hàng hoá cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu; sản xuất
giống cây trồng, giống vật nuôi, đa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
nghiệp; làm trung tâm xây dựng một số vùng kinh tế mới, nông thôn mới; kết
hợp phát triển với bảo đảm an ninh, quốc phòng ở những vùng xung yếu, khó
khăn.

12
Bộ Kế hoạch và đầu t, Đề tài: Tổ chức và chính sách đối với Lâm trờng quốc doanh: Thực trạng và giải
pháp , 2001.
13
Nguyễn Văn Đẳng, Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000,, NXB nông nghiệp, 2001.
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
- Nâng cao các hiệu ích của rừng.
- Tăng cờng khả năng tự tích luỹ, tự phát triển bằng nội lực của mình .
Từ nhiệm vụ cơ bản đó, các nhiệm vụ chủ yếu của Lâm trờng quốc doanh
đợc xác định nh sau:
- Dựa theo pháp luật để bảo vệ, kinh doanh, khai thác, sử dụng tài nguyên
rừng trên khu vực mình đợc giao.
- Theo sự hớng dẫn và tổ chức của cơ quan quản lý Nhà nớc về lâm
nghiệp để triển khai việc kiểm kê rừng, lập phơng án kinh doanh rừng làm cơ sở
cho việc kinh doanh rừng, xây dựng rừng có căn cứ khoa học.
- Xây dựng kế hoạch hàng năm trên cơ sở phơng án quy hoạch rừng đã đ-
ợc phê chuẩn và nhu cầu thị trờng. Hoàn thành các nhiệm vụ có tính chất pháp
lệnh đợc Nhà nớc giao nh: Ươm cây con, trồng rừng, chăm sóc rừng, cải tạo
rừng
- Khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả sản lợng gỗ đợc phép khai
thác, tích cực mở rộng kinh doanh các ngành nghề khác, tổ chức hợp lý các hoạt
động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ lâm sản.
- Trên cơ sở phục vụ các yêu cầu của sản xuất để mở rộng các hoạt động
thực nghiệm khoa học, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để phát huy
vai trò gơng mẫu của Lâm trờng quốc doanh đối với các thành phần kinh tế
khác.
1.2.1.2 Đặc điểm Lâm trờng quốc doanh
Quá trình kinh doanh rừng và sản xuất lâm nghiệp do Lâm trờng quốc
doanh đảm nhiệm có những đặc điểm chính sau đây:

* Đất đai là một t liệu sản xuất không thể thay thế đợc trong sản xuất
Lâm nghiệp: Đất đai là một t liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế đợc.
Hiện trạng sử dụng đất đai có ảnh hởng đến tình hình sinh trởng của cây rừng,
của rừng và kết quả kinh doanh của Lâm trờng quốc doanh, nên trong quản lý
15
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
kinh doanh của Lâm trờng quốc doanh vừa phải bồi dỡng đất đai vừa phải sử
dụng hợp lý đất đai.
* Rừng tự nhiên đợc giao cho Lâm trờng quốc doanh quản lý kinh doanh
vừa là tài sản quốc gia, vừa là t liệu sản xuất của Lâm trờng quốc doanh. Tuy
nhiên những nơi đó lại có cộng đồng dân c sống lâu đời tại khu vực có rừng tự
nhiên của lâm trờng nên những vớng mắc về sử dụng tài nguyên rừng lâm trờng
và ngời dân địa phơng là không tránh khỏi. Đây là đặc điểm quan trọng, chi
phối nhiều cơ chế quản lý của Lâm trờng quốc doanh. Lâm trờng quốc doanh
nhận một phần rừng tự nhiên, là một bộ phận tài nguyên thiên nhiên là một
loại vốn có tính chất đặc biệt, có lợi ích và có tác dụng nhiều mặt đối với xã
hội. Riêng đối với hoạt động công ích của lâm trờng, không lấy lợi nhuận là
mục tiêu chủ yếu mà lấy lợi ích về môi trờng, bảo tồn đa dạng sinh học rừng
làm mục tiêu chủ yếu và đợc Nhà nớc cấp kinh phí để thực hiện các hoạt động
đó. Điều đó có nghĩa là: Trong một Lâm trờng quốc doanh đồng thời vừa thực
hiện chức năng kinh tế vừa thực hiện chức năng công ích (chức năng xã hội).
Do vậy, vấn đề xác định rõ diện tích, trữ lợng gỗ và lâm sản, giá trị bằng
tiền, qui định rõ rõ ràng và cụ thể nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, lợi ích của
Lâm trờng quốc doanh khi tiếp nhận, quản lý, kinh doanh rừng tự nhiên đợc
Nhà nớc giao đã trở thành một vấn đề hết sức cần thiết và rất quan trọng trong
cơ chế quản lý của Lâm trờng quốc doanh.
1.2.2 Vai trò của Lâm trờng quốc doanh trong nền kinh tế quốc
dân
14
.

nhuận đơn thuần mà còn phải tiếp nhận và thực hiện các nhiệm có tính chất phi
lợi nhuận do Nhà nớc giao.
- Lâm trờng quốc doanh là tổ chức kinh tế của Nhà nớc giao quản lý
nhiều diện tích rừng và đất lâm nghiệp nhất, có ảnh hởng chủ yếu nhất đến tình
trạng tài nguyên rừng của đất nớc. Lâm trờng quốc doanh có đội ngũ cán bộ kỹ
thuật lâm nghiệp có trình độ quản lý rừng cao nhất, có nhiều điều kiện để sử
dụng kỹ thuật lâm sinh tiên tiến để làm giàu rừng.
17
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Trong điều kiện bao cấp, Lâm trờng quốc doanh có vị trí chủ đạo, nhiều
khi là duy nhất hoặc độc quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất và
cung ứng gỗ cho nền kinh tế quốc dân.
Chuyển qua cơ chế thị trờng, có nhiều thành phần nhng vị trí của Lâm
trờng quốc doanh đối với nhiệm vụ này cũng rất quan trọng vì hầu hết các Lâm
trờng quốc doanh đều đang quản lý các khu rừng còn nhiều tài nguyên nhất.
1.2.2.2 Đối với nền kinh tế và xã hội.
Vai trò của hệ thống Lâm trờng quốc doanh trong nền kinh tế và trong
đời sống cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳ phát triển của đất nớc. Và đợc
thể hiện ở các mặt:
- Các Lâm trờng quốc doanh là những cơ sở có nhiệm vụ tạo lập những
cơ sở nguyên liệu tập trung cho yêu cầu công nghiệp hoá đất nớc.
- Các Lâm trờng quốc doanh có vai trò quan trọng trong việc quản lý
những khu rừng có tác dụng bảo đảm an ninh môi trờng, sinh thái, bảo vệ đa
dạng sinh học cho đất nớc. Lâm trờng quốc doanh có nhiệm vụ sử dụng có hiệu
quả, bảo toàn và phát triển vốn rừng do Nhà nớc giao, sử dụng có hiệu quả tài
nguyên rừng, đất đai và các nguồn lực khác vào mục tiêu kinh doanh và những
nhiệm do Nhà nớc giao.
- Các Lâm trờng quốc doanh có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế, xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng xa.
- Các Lâm trờng quốc doanh có vai trò quan trọng đối với nhiệm vụ bảo

nghiệp. Hiện Lâm trờng quốc doanh đang quản lý diện tích đất và rừng rất lớn
(4,9 triệu ha), chủ yếu là rừng sản xuất (lấy gỗ và lâm sản) với một lực lợng lao
động lớn (hơn 25.000 ngời) nhng hoạt động kinh doanh lại kém hiệu quả (có
2% có lãi), thu nhập của công nhân thấp, nộp ngân sách ít, trong khi đó nông
dân không có đất sản xuất. Do vậy, cải cách Lâm trờng quốc doanh là vấn đề
đặt ra cấp thiết kể cả trong thực tiễn sản xuất và trong chỉ đạo của Chính phủ
(Vì Bộ Chính trị đã có Nghị Quyết 28/NQ ngày 16/6/2003 và Chính phủ có
quyết định 179/2003/ QĐ-TTg về việc tiếp tục sắp xếp và đổi mới Nông, Lâm
trờng quốc doanh). Nhiều cơ quan Chính phủ đang thực hiện chỉ đạo của Chính
15
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo về tình hình thực hiện Quyết định 187/QĐ-TTg, 2001.
19
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
phủ nghiên cứu để đổi mới cơ chế chính sách của Lâm trờng quốc doanh nhằm
tìm ra một hớng đi phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nớc ta hiện nay.
Việc đổi mới Lâm trờng quốc doanh của nớc ta nhằm phát huy đợc năng
lực sẵn có của lâm trờng hiện nay (kinh nghiệm, kỹ thuật, cơ sở vật chất, con
ngời sẵn có, ) cho phát triển sản xuất, thực hiện một số vấn đề kinh tế xã hội
khi cha có các thành phần kinh tế khác thực hiện. Hơn nữa, giải quyết phần nào
tình trạng nông dân không có đất để ổn định cuộc sống, khi giải quyết đợc tình
trạng trên thì sẽ hình thành tài sản của chính mình thông qua nghề rừng và có
chủ động trong sản xuất kinh doanh hơn.
Xuất phát từ vai trò và vị trí của Lâm trờng quốc doanh trong nền kinh tế
quốc dân, từ đó trong quá trình chuyển đổi ta luôn phải xác định
16
:
Chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần sẽ có nhiều hình thức sở hữu
khác nhau. Nhng trong các hình thức sở hữu đó, từ mô hình chỉ có một chủ sở
hữu rừng Nhà nớc chuyển sang mô hình nhiều hình thức sở hữu rừng (Nhà nớc,
tập thể, cá nhân, cộng đồng, ) đang thực hiện giao đất lâm nghiệp. Trong quá

Lâm trờng quốc doanh quản lý để sản xuất lâm sản có đánh giá giá trị của rừng
và có thu hồi lại giá trị rừng đã sử dụng.
Phải đánh giá đúng thực trạng của các Lâm trờng quốc doanh, phải có
những tiêu chí cụ thể để phân loại các Lâm trờng quốc doanh hiện có, xác định
định hớng chuyển đổi chính xác cho từng Lâm trờng quốc doanh. Tuỳ theo mục
đích kinh doanh và giai đoạn phát triển rừng của từng loại Lâm trờng quốc
doanh để xây dựng các cơ chế quản lý, nhất là cơ chế tài chính cho từng loại
Lâm trờng quốc doanh một cách hợp lý. Chuyển các Lâm trờng quốc doanh
sang thực hiện cơ chế kinh doanh không có nghĩa là nhất loạt cắt bỏ những trợ
giúp của Nhà nớc.
Tuy vậy, việc đổi mới các Lâm trờng quốc doanh vẫn còn có rất nhiều
quan điểm. Một loại ý kiến đánh giá cho rằng Lâm trờng quốc doanh thiên về
mặt tiêu cực là Lâm trờng quốc doanh đã hình thành và xây dựng từ nhiều năm
nay, tốn nhiều tiền của, công sức nhng kết quả đạt đợc không tơng xứng với
việc đầu t, không ít lâm trờng hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thấp,
thua lỗ, tiêu cực cả về tiền vốn, vật t, thiết bị, đất đai, Vì vậy, không nên duy
21
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
trì mô hình Lâm trờng quốc doanh mà cần phải giải thể, chuyển thể. Nhiều loại
ý kiến khác lại thiên về mặt thành tích và đề cao cho rằng mô hình Lâm trờng
quốc doanh là hiện hữu của chủ nghĩa xã hội do vậy cần tồn tại. Nhiều ý kiến
cũng cho rằng Lâm trờng quốc doanh là doanh nghiệp Nhà nớc trong lâm
nghiệp ở nông thôn, nó có những u điểm và mặt mạnh riêng mà kinh tế hộ hoặc
các thành phần kinh tế khác không có. Nhất là trong giai đoạn hiện nay lâm tr-
ờng vẫn có vai trò đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn, không ít nơi lâm trờng còn có vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn
hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Vì vậy, cần tiếp tục duy trì và đổi mới Lâm
trờng quốc doanh; nhng cũng có ý kiến cho rằng kinh tế hộ và các thành phần
kinh tế khác đều làm đợc những công việc sản xuất, kinh doanh của lâm trờng,
thậm chí còn làm tốt hơn, do đó không nhất thiết phải có sự tồn tại của lâm tr-

Vào thời kỳ khôi phục kinh tế, Lâm trờng quốc doanh là loại hình sản
xuất có số lợng đơn vị nhiều nhất, đợc bố trí ở nhiều vùng rừng có điều kiện
khó khăn, đợc giao quản lý gần nh hầu hết diện tích rừng của đất nớc và thực
hiện nhiều nhiệm vụ cơ bản nhất của ngành Lâm nghiệp. Trong suốt giai đoạn
1960- 1975, các Lâm trờng quốc doanh ở ngành Lâm nghiệp đã đợc thành lập
và phát triển liên tục.
Đến năm 1975, trên miền Bắc đã có gần 200 Lâm trờng quốc doanh và
đến đầu năm 1978, ở các tỉnh miền Nam đã thành lập đợc 60 Lâm trờng quốc
doanh. Hệ thống Lâm trờng quốc doanh xây dựng thời kỳ này có đặc điểm
chính nh sau
17
:
Phần lớn các Lâm trờng quốc doanh đều thành lập ở những vùng nhiều
rừng hoặc nhiều đất trống đồi trọc.
17
Nguyễn Văn Đẳng, Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000, NXB Nông nghiệp, 2001.
23
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Tổ chức và xây dựng theo mô hình quản lý Lâm trờng quốc doanh đã
tồn tại trong thời kỳ trớc năm 1975.
Phát triển từ những công trình khai thác gỗ do cán bộ nhân viên Nhà n-
ớc quản lý và sử dụng lực lợng thiết bị và công nhân t nhân, sau đó tuyển dụng
công nhân cố định, ăn lơng Nhà nớc, hoạt động theo kế hoạch Nhà nớc giao và
hạch toán kinh tế theo chế độ quản lý xí nghiệp công ty vật t lâm sản của Nhà
nớc theo kế hoạch giao nộp sản phẩm.
Phần lớn cán bộ kỹ thuật và cán bộ chủ chốt của các Lâm trờng quốc
doanh ở miền Nam đều đợc bổ sung từ các Lâm trờng quốc doanh ở miền Bắc.
Phân cấp cho Uỷ Ban Nhân Dân các huyện trực tiếp quản lý phần lớn
các Lâm trờng quốc doanh.
Cũng trong thời kỳ này Nhà nớc đã ban hành nhiều chính sách kinh tế vĩ

- Thời kỳ 1961-1965, sản lợng khai thác gỗ tăng liên tục, đến năm 1964
đã đạt sản lợng cao nhất là 1.107.474 m
3
, tăng gần 1,53% so với năm 1960.
Trong các thời kỳ 1965-1975 và thời kỳ 1976-1980 đã khai thác hơn 8,1 triệu
m
3
gỗ trong từng thời kỳ để cung cấp cho các ngành kinh tế đặc biệt là giao
thông vận tải và quốc phòng. Đến thời kỳ 1981-1985 đã khai thác đợc gần 7
triệu m
3
gỗ tròn, bình quân mỗi năm khoảng 1,3 đến 1,4 triệu m
3
gỗ; 3,5 triệu
m
3
gỗ củi, 48 triệu cây tre luồng và 96 triệu cây tre nứa, hơn nửa triệu tấn giấy
và cũng đạt sản lợng gỗ xẻ đạt đợc khá cao, đã sản xuất hơn 2.011.053 m
3
.
- Thời kỳ 1976- 1980 trồng đợc 528.151 ha rừng tập trung, đa mức trồng
rừng hàng năm đạt trên 137.000 ha (năm 1978). Đến thời kỳ 1981-1985 đã
trồng đợc trên 492.000 ha, trong đó các đơn vị trung ơng đạt đợc trên 55.000
ha, các địa phơng đạt trên 436.000. Tốc độ trồng rừng tăng dần từ gần 53.000
(1981) đến năm cao nhất đạt hơn 152.000 ha. Trong thời kỳ này, điển hình là
các tỉnh ở miền Bắc nh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Tuyên, Vĩnh
Phúc, Hoàng Liên Sơn, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh là những tỉnh đạt diện tích trồng
rừng cao và hình thành 3 vùng trồng rừng tập trung có quy mô lớn, đó là: Vùng
18
Nguyễn Văn Đẳng, Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000, NXB Nông nghiệp, 2001.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status