Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
LỜI NÓI ĐẦU
Lâm trường quốc doanh là tổ chức kinh tế có vị trí quan trọng nhất
trong hệ thống tổ chức sản xuất của ngành lâm nghiệp, được giao quản lý và
sử dụng đại bộ phận tài nguyên rừng tự nhiên hiện còn của nước ta. Lâm
trường quốc doanh đã từng giữ vai trò chủ lực trong việc thực hiện nhiệm vụ
của ngành lâm nghiệp: khai thác, cung ứng lâm sản đáp ứng nhu cầu của nền
kinh tế quốc dân, trồng rừng mới, bảo vệ rừng và góp phần phát triển kinh tế
xã hội trên địa bàn, miền núi, vùng dân tộc.
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và
Nhà nước, Lâm trường quốc doanh đã có những chuyển biến quan trọng cả về
tổ chức và cơ chế quản lý nhằm góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển
nghề rừng bền vững. Tuy nhiên với đặc thù của loại hình doanh nghiệp lâm
nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan chặt chẽ đến tư liệu sản xuất
là rừng và đất rừng, bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái, giữ vững an
ninh quốc phòng và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi. Việc đổi
mới tổ chức và quản lý Lâm trường quốc doanh vừa qua vẫn còn nhiều vấn đề
chưa rõ dẫn đến tình trạng khó khăn trong hoạt động và phát triển của nhiều
lâm trường, hiệu quả khai thác toàn diện tiềm năng tài nguyên rừng và đất
lâm nghiệp còn thấp , đời sống của người lao động đang gặp nhiều khó khăn.
Lâm trường chưa làm tốt vai trò nòng cốt trong quản sản xuất, trung tâm dịch
vụ khoa học kỹ thuật trên địa bàn.
Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu về đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý,
chính sách đối với Lâm trường quốc doanh nhằm phát hiện những vấn đề
vướng mắc và đề xuất những giải pháp, chính sách nhằm hoàn thiện đổi mới
hệ thống Lâm trường quốc doanh là vấn đề cần thiết góp phần thúc đẩy quá
trình thực hiện công cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực lâm
nghiệp. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng và những giải pháp chủ
1
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
yếu nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các Lâm trường quốc
LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH
TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN.
1.1 Khái niệm và vai trò của nền Kinh tế nhiều thành phần.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều đặc điểm, nhưng đặc
điểm nổi bật là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Theo quan điểm chính trị
học, thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên cơ sở
chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
1
.
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tồn tại không phải do ý muốn chủ
quan của Nhà nước, nó xuất hiện, tồn tại và phát triển phụ thuộc vào những
tiền đề kinh tế và chính trị khách quan của nền kinh tế. Trong cơ cấu này, mỗi
thành phần kinh tế luôn có vai trò, vị trí và vận động, phát triển theo một xu
hướng nhất định. Xuất phát từ tính quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường,
có thể thấy, các thành phần kinh tế đều vận động hướng đến mục tiêu lợi ích.
Sự vận động này cũng có thể khác hướng, thậm chí ngược chiều nhau tuỳ
theo mục tiêu ấy là gì, ai là chủ thể của những lợi ích được tạo ra, việc phân
chia và sử dụng lợi ích đó như thế nào.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là do có
nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Đại hội Đảng IX(2001),
đã khẳng định từ các hình thức sở hữu cơ bản như: sở hữu toàn dân, sở hữu
tập thể, sở hữu tư nhân đã hình thành nhiều thành phần kinh tế với các hình
thức tổ chức kinh doanh đa dạng đan xen, hỗn hợp; đó là: Kinh tế Nhà nước,
1
Trần Bình Trọng, Kinh tế chính trị tập 2, NXB Thống kê, 2000.
3
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân, Kinh tế tư
bản Nhà nước, Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia,1991.
4
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Những đổi mới quan trọng trong đường lối của Đảng mang tính đột phá
về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế có đặc điểm như
4
:
Thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi thành phần có
vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế; mỗi doanh nghiệp cũng đan xen
nhiều hình thức sở hữu; thực hiện bình đẳng và cạnh tranh để phát triển.
Sở hữu nhà nước có thể tồn tại ở nhiều hình thức tổ chức kinh tế, kinh
tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế vì chiếm lĩnh một số ngành
và một số lĩnh vực cơ bản.
Hợp tác là tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở người lao động
tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với mọi qui mô và mức độ
tập thể hoá tư liệu sản xuất khác nhau; phát huy vai trò tự chủ của xã hội viên.
Hợp tác xã chủ yếu là dịch vụ, hỗ trợ và hướng dẫn, giúp đỡ xã viên; đồng
thời phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác đa dạng.
Kinh tế cá thể có vai trò quan trọng; có thể tham gia nhiều hình thức
liên kết, hợp tác khác nhau để có thể tiếp tục phát triển lớn hơn.
Kinh tế tư bản tư nhân là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế
của nền kinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nước, được
phát triển không hạn chế trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không
cấm, được khuyến khích như mọi thành phần kinh tế khác.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức độ đóng góp của các nguồn
lực vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Tuy nhiên việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện
nay không phải là bằng bất cứ cách nào, mà Đảng ta chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần phải dựa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. “Nền
đời sống nhân dân. Tuy nhiên bên cạnh mặt được, tích cực, trong sự vận
động, phát triển các thành phần kinh tế đã bộc lộ hạn chế. Kinh tế Nhà nước
chưa phát huy hết vai trò chủ đạo của mình, vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp
còn nhiều lúng túng trong quá trình triển khai. Kinh tế hợp tác chậm đổi mới
và phát triển, Kinh tế tư nhân, cá thể, liên doanh chưa được quản lý chặt chẽ.
5
Tập thể tác giả, Kinh tế chính trị Mác- Lênin, Học viện Hành chính Quốc gia, 2001.
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Vấn đề đặt ra là cần phải làm rõ vai trò vị trí, thực trạng và xu thế vận động
của mỗi thành phần kinh tế. Trên cơ sở đó lựa chọn những hình thức kinh tế
thích hợp, những giải pháp thoả đáng thúc đẩy các thành phần kinh tế tiếp tục
phát triển.
1.1.1 Khái niệm và vai trò của Kinh tế Nhà nước, Doanh
nghiệp Nhà nước.
1.1.1.1 Khái niệm Kinh tế Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước
Kinh tế Nhà nước là khu vực kinh tế do nhà nước nắm giữ, dựa trên cơ
sở quan trọng là sở hữu Nhà nước. Hay nói cách khác Kinh tế Nhà nước là
toàn bộ hoạt động kinh tế thuộc sở hữu của Nhà nước, trên cơ sở đó Nhà
nước có quyền quản lý, sử dụng hiệu quả kinh tế do lực lượng kinh tế của
Nhà nước mang lại. Kinh tế Nhà nước phải là và bao gồm những hoạt động
kinh tế mà Nhà nước là chủ thể, có quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo
hướng đã định.
Kinh tế Nhà nước được thể hiện dưới nhiều hình thức hoạt động khác
nhau với các hình thức tổ chức tương ứng, như hoạt động trong các lĩnh vực
sản xuất, dịch vụ, các hoạt động đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội mà
ở đó Nhà nước biểu hiện như một chủ sở hữu, chủ thể kinh doanh, người
tham gia. Nghĩa là kinh tế Nhà nước có nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ
phận hợp thành kinh tế Nhà nước có chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
Nếu xét theo lĩnh vực hoạt động, thì khu vực kinh tế Nhà nước bao gồm
. Doanh nghiệp Nhà nước là bộ phận chính yếu của khu vực kinh
tế Nhà nước- một lực lượng vật chất cơ bản, đảm bảo cho việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế- xã hội của Nhà nước.
Một doanh nghiệp được coi là Doanh nghiệp Nhà nước khi có đủ 3
điều kiện:
Nhà nước là cổ đông chính.
Doanh nghiệp có nhiệm sản xuất ra hàng hoá dịch vụ để bán.
6
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, 1995. Chương I, Điều 1.
7
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, 2004, chương I, Điều 1.
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Có hạch toán lãi lỗ.
Nếu xét theo mục tiêu hoạt động thì các doanh nghiệp Nhà nước chia
làm 3 nhóm:
Nhóm các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích. Theo Luật
Doanh nghiệp Nhà nước sửa đổi đã loại bỏ loại hình thức doanh nghiệp công
ích và thay bằng hoạt động công ích, các sản phẩm, dịch vụ công ích được
Nhà nước thực hiện bằng cách “đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá
hoặc phí do Nhà nước quy định”
8
.
Nhóm các doanh nghiệp Nhà nước bán công ích- sản xuất kinh doanh
hàng hoá công ích.
Nhóm các doanh nghiệp Nhà nước thuần tuý kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò của Kinh tế Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước.
Kinh tế Nhà nước là bộ phận quan trọng, có tác động thiết thực trong
cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn chủ
trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
Vai trò của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước gắn liền với việc tham gia
vào hoạt động kinh tế của Nhà nước. Các doanh nghiệp Nhà nước vừa là chủ
thể kinh doanh, vừa là lực lượng trực tiếp tạo cơ sở vật chất cho xã hội, vừa là
lực lượng nòng cốt để Nhà nước dẫn dắt, mở đường cho các thành phần kinh
tế khác cùng phát triển. Vai trò này được thể hiện trên 3 khía cạnh: kinh tế,
chính trị, xã hội. Cụ thể là
10
:
Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nước giữ vững
sự ổn định xã hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Mở đường dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự
tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.
10
Ngô Quang Minh, Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, NXB chính trị quốc
gia,1998.
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát
triển kinh tế- xã hội: cung ứng các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu (giao thông,
thuỷ lợi, điện, nước…, an ninh quốc phòng, xã hội (giáo dục, y tế,…)
Góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế thị
trường.
Là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Là lực lượng đối trọng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước,
chống sự lệ thuộc vào nước ngoài về kinh tế.
Thực hiện một số chính sách xã hội.
Là lực lượng tạo nền tảng cho xã hội mới.
Từ thực tế đó, mà Nhà nước ta đã tiến hành cải cách các doanh nghiệp
Nhà nước, chuyển đổi sở hữu nhằm khắc phục từng bước tình trạng yếu kém.
Vấn đề quan trọng để các doanh nghiệp tiếp tục phát triển và đổi mới là người
lao động phải được đảm bảo lợi ích, khắc phục tình trạng doanh nghiệp Nhà
nước, tài sản Nhà nước không có người làm chủ cụ thể, làm chủ trực tiếp, làm
chủ một cách có trách nhiệm. Các giải pháp chung nhất là chuyển đổi sở hữu
làm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp như cổ phần hoá, bán, khoán,
cho thuê doanh nghiệp Nhà nước, giảm sự can thiệp của Nhà nước, cải cách
cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, hình thành các tổng công ty, … Muốn vậy,
Nhà nước phải kiên quyết sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, xử lý đúng
đắn những xí nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, xây dựng một số mô hình doanh
nghiệp Nhà nước mới năng động và có hiệu quả.
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các Lâm trường quốc
doanh.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Lâm trường quốc doanh.
1.2.1.1 Khái niệm Lâm trường quốc doanh.
Thuật ngữ “Lâm trường quốc doanh” xuất hiện ở nước ta vào những
năm cuối cùng của thập kỷ 50 của thế kỷ XX, cùng với quá trình chuyển đổi
các Trạm trồng rừng Nam Quảng Bình và các Chi nhánh Quốc doanh Lâm
khẩn thành các đơn vị kinh tế, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập,
được giao làm nhiệm vụ trồng rừng hoặc khai thác gỗ. Trước đây, do xác định
khái niệm và nhiệm vụ của lâm trường không rõ nên đã từng tồn tại thời kỳ
mà ngành lâm nghiệp xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất của Lâm trường quốc
doanh là khai thác gỗ hoặc trồng rừng theo nhu cầu vốn đầu tư của Nhà nước.
Do đó rừng còn gỗ thì còn Lâm trường quốc doanh, rừng hết gỗ khai thác thì
giải tán Lâm trường quốc doanh. Trên phạm vi hoạt động của Lâm trường
quốc doanh nếu còn đất trống và Nhà nước cấp vốn xây dựng cơ bản thì Lâm
trường quốc doanh còn trồng rừng. Nếu không còn đất trống hoặc Nhà nước
lâm nghiệp được Nhà nước giao quản lý và sử dụng một bộ phận quan trọng
là tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; được đầu tư tập trung về nhân lực, vốn,
kỹ thuật, là lực lượng chủ yếu thực hiện các kế hoạch của Nhà nước trong lĩnh
vực lâm nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội an ninh quốc phòng ở
vùng miền núi, dân tộc
13
.
Nhiệm vụ cơ bản của Lâm trường quốc doanh thường được xác định
là:
- Nâng cao diện tích rừng và trữ lượng gỗ và lâm sản.
- Nâng cao chất lượng rừng.
- Bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên rừng.
- Tích cực mở rộng kinh doanh, đa dạng hoá các ngành nghề và sản
phẩm.
- Nâng cao các hiệu ích của rừng.
12
Bộ Kế hoạch và đầu tư, Đề tài: Tổ chức và chính sách đối với Lâm trường quốc doanh: Thực trạng và giải
pháp , 2001.
13
Nguyễn Văn Đẳng, Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000,, NXB nông nghiệp, 2001.
14
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
- Tăng cường khả năng tự tích luỹ, tự phát triển bằng nội lực của mình .
Từ nhiệm vụ cơ bản đó, các nhiệm vụ chủ yếu của Lâm trường quốc
doanh được xác định như sau:
- Dựa theo pháp luật để bảo vệ, kinh doanh, khai thác, sử dụng tài
nguyên rừng trên khu vực mình được giao.
- Theo sự hướng dẫn và tổ chức của cơ quan quản lý Nhà nước về lâm
nghiệp để triển khai việc kiểm kê rừng, lập phương án kinh doanh rừng làm
cơ sở cho việc kinh doanh rừng, xây dựng rừng có căn cứ khoa học.
rất phân tán. Trước đây, lúc mới thành lập, phạm vi hoạt động của một Lâm
trường quốc doanh thường là một huyện miền núi, hoặc cả một vùng miền núi
của một tỉnh (vào khoảng 100.000 ha trở lên). Đến nay, qua nhiều lần quy
hoạch lại, giao đất, giao rừng, giảm bớt qui mô rừng tự nhiên, thưa dân thì
diện tích thường vào khoảng 20.000 ha đến 30.000 ha, ở vùng đất trống, đồi
trọc cũng trên 5.000 ha. Việc Lâm trường quốc doanh phải quản lý một diện
tích đất rất lớn có dân cư sống xen kẽ nên gặp nhiều rất nhiều khó khăn trong
việc quản lý, bảo vệ rừng.
* Tính chất khu vực của kinh doanh rừng rất rõ ràng: Thể hiện ở
phương hướng kinh doanh của các Lâm trường quốc doanh ở các vùng sinh
thái, vùng chuyên canh khác nhau, mà ngay ở trong một lâm trường cũng
khác nhau do điạ bàn sản xuất của lâm trường.
* Tính chất thời vụ trong kinh doanh rừng rất rõ ràng: Tính chất này
đòi hỏi phải gắn liền với qui luật sinh trưởng của cây rừng và rừng, với hoạt
động kinh doanh rừng.
* Đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất
Lâm nghiệp: Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được.
Hiện trạng sử dụng đất đai có ảnh hưởng đến tình hình sinh trưởng của cây
16
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
rừng, của rừng và kết quả kinh doanh của Lâm trường quốc doanh, nên trong
quản lý kinh doanh của Lâm trường quốc doanh vừa phải bồi dưỡng đất đai
vừa phải sử dụng hợp lý đất đai.
* Rừng tự nhiên được giao cho Lâm trường quốc doanh quản lý kinh
doanh vừa là tài sản quốc gia, vừa là tư liệu sản xuất của Lâm trường quốc
doanh. Tuy nhiên những nơi đó lại có cộng đồng dân cư sống lâu đời tại khu
vực có rừng tự nhiên của lâm trường nên những vướng mắc về sử dụng tài
nguyên rừng lâm trường và người dân địa phương là không tránh khỏi. Đây là
đặc điểm quan trọng, chi phối nhiều cơ chế quản lý của Lâm trường quốc
doanh. Lâm trường quốc doanh nhận một phần rừng tự nhiên, là một bộ phận
như: Ban quản lý rừng, các đơn vị lực lượng vũ trang… và các chủ rừng
thuộc các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, cần nhận thức đúng vị trí pháp lý
có tính chất bình đẳng của Lâm trường quốc doanh trong hệ thống quản lý
rừng Nhà nước và phải khắc phục, loại bỏ những nhận thức sai lầm về vị trí
có tính chất “ độc quyền, duy nhất” của Lâm trường quốc doanh trong hệ
thống quản lý rừng Nhà nước về rừng. Thời kỳ đó, gần như Lâm trường quốc
doanh được xem là, hoặc tự nhận là người chủ sở hữu rừng Nhà nước duy
nhất, được độc quyền khai thác rừng thuộc sở hữu Nhà nước. Chính nhận
thức sai lầm và không rõ ràng về vị trí của Lâm trường quốc doanh trong hệ
thống quản lý rừng Nhà nước dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý rừng Nhà
nước về rừng, để Lâm trường quốc doanh tự ý sử dụng bừa bãi diện tích rừng
nằm trong quy hoạch của Lâm trường quốc doanh, thậm chí cả diện tích rừng
ngoài phạm vi qui hoạch của các Lâm trường quốc doanh. Tuy vậy, cần nhấn
mạnh “vị trí có tính chất chủ lực, chủ đạo” của Lâm trường quốc doanh trong
hệ thống quản lý Nhà nước vì:
- Lâm trường quốc doanh là tổ chức kinh tế của Nhà nước, nên Lâm
trường quốc doanh không thể chạy theo mục đích kinh doanh, mục đích tìm
kiếm lợi nhuận đơn thuần mà còn phải tiếp nhận và thực hiện các nhiệm có
tính chất phi lợi nhuận do Nhà nước giao.
- Lâm trường quốc doanh là tổ chức kinh tế của Nhà nước giao quản lý
nhiều diện tích rừng và đất lâm nghiệp nhất, có ảnh hưởng chủ yếu nhất đến
tình trạng tài nguyên rừng của đất nước. Lâm trường quốc doanh có đội ngũ
18
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp có trình độ quản lý rừng cao nhất, có nhiều điều
kiện để sử dụng kỹ thuật lâm sinh tiên tiến để làm giàu rừng.
Trong điều kiện bao cấp, Lâm trường quốc doanh có vị trí chủ đạo,
nhiều khi là “duy nhất hoặc độc quyền” trong việc thực hiện nhiệm vụ sản
xuất và cung ứng gỗ cho nền kinh tế quốc dân.
Chuyển qua cơ chế thị trường, có nhiều thành phần nhưng vị trí của
hướng nền kinh tế thị trường. Lâm trường quốc doanh không nên ở ngoài tiến
trình đổi mới của đất nước nhằm khai thác bền vững tài nguyên của đất nước
tạo ra thế và lực mới cho Lâm trường quốc doanh. Do đó, các cơ chế và chính
sách nhằm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước như nâng cao quyền tự chủ, tự
hạch toán,… đều tác động đến Lâm trường quốc doanh theo hướng sản xuất
kinh doanh ngày càng hoạt động hiệu quả hơn. Lâm trường quốc doanh phải
được đổi mới về tổ chức hoạt động và cả đổi mới về cơ chế chính sách.
Hiện nay ngành lâm nghiệp đang đứng trước một thử thách lớn là quản
lý và sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng rất lớn (gần 11 triệu ha rừng và 7,8
triệu ha đất lâm nghiệp chưa có rừng), có khoảng 9 triệu lao động trong nông
thôn không có việc làm (hàng năm được bổ sung thêm 1 triệu lao động đến
tuổi lao động) nhưng tạo ra giá trị sản xuất chỉ chiếm gần 1% cho GDP.
Trong khi đó hàng năm nhà nước phải đầu tư khoảng gần 1000 tỷ đồng cho
phát triển lâm nghiệp và đất nước lại phải nhập một khối lượng gỗ lớn (5,6
triệu m
3
/năm).
15
Lâm trường quốc doanh chính là loại hình tổ chức kinh tế cơ sở có vị
trí quan trọng nhất trong hệ thống tổ chức sản xuất của ngành lâm nghiệp,
được giao quản lý và sử dụng đại bộ phận tài nguyên rừng tự nhiên hiện còn
của đất nước và giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện kế hoạch Nhà nước
về lâm nghiệp. Hiện Lâm trường quốc doanh đang quản lý diện tích đất và
15
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo về tình hình thực hiện Quyết định 187/QĐ-TTg, 2001.
20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
rừng rất lớn (4,9 triệu ha), chủ yếu là rừng sản xuất (lấy gỗ và lâm sản) với
một lực lượng lao động lớn (hơn 25.000 người) nhưng hoạt động kinh doanh
lại kém hiệu quả (có 2% có lãi), thu nhập của công nhân thấp, nộp ngân sách
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Quản lý rừng, kinh doanh rừng là công việc lâu dài, tốn kém. Vì vậy,
sự can thiệp của Nhà nước, sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước để quản
lý, bảo vệ rừng là rất cần thiết. Không nên xem đó là biện pháp bao cấp, là
làm mất quyền tự chủ kinh doanh của các rừng. Vấn đề là, cần xác định rõ
phạm vi và nội dung can thiệp của Nhà nước, xác định các hạng mục cần hỗ
trợ từ ngân sách Nhà nước.
Việc cải tiến tổ chức và đổi mới quản lý Lâm trường quốc doanh hiện
có ở nước ta là rất cần thiết. Nhưng phải đặt vấn đề này trong tổng thể chiến
lược phát triển lâm nghiệp, cải cách tổ chức quản lý lâm nghiệp, cải cách
quản lý doanh nghiệp Nhà nước, cải cách hành chính nói chung và chiến lược
xây dựng và tổ chức, quản lý rừng Nhà nước nói riêng để lựa chọn loại hình
tổ chức quản lý kinh doanh rừng Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường
ở nước ta một cách hợp lý và hiệu quả hơn. Trong hệ thống Lâm trường quốc
doanh hiện có, phải tuỳ điều kiện ở từng địa phương để lựa chọn mô hình tổ
chức kinh doanh có hiệu quả. Có nơi có thể lấy Lâm trường quốc doanh hiện
có làm đơn vị cơ sở, nhưng có nơi có thể tổ chức thành tổng công ty. Có Lâm
trường quốc doanh có thể áp dụng ngay mô hình tổ chức và hạch toán đầy đủ,
tách rời quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh ngay, nhưng có Lâm trường
quốc doanh phải tạm thời áp dụng mô hình tổ chức hạch toán theo kiểu đơn vị
sự nghiệp có thu, chưa tách rời ngay chức năng quản lý Nhà nước và quản lý
kinh doanh.
Phải nghiên cứu và thể chế hoá những cơ chế quản lý có tính chất đặc
thù của Lâm trường quốc doanh, trước hết là cơ chế giao rừng tự nhiên cho
các Lâm trường quốc doanh quản lý để sản xuất lâm sản có đánh giá giá trị
của rừng và có thu hồi lại giá trị rừng đã sử dụng.
Phải đánh giá đúng thực trạng của các Lâm trường quốc doanh, phải
có những tiêu chí cụ thể để phân loại các Lâm trường quốc doanh hiện có, xác
định định hướng chuyển đổi chính xác cho từng Lâm trường quốc doanh. Tuỳ
22
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
rỗi,..); phát huy cơ sở vật chất, con người sẵn có của lâm trường trong những
năm qua; tạo mọi điều kiện để nông dân chủ động sản xuất kinh doanh, giải
phóng các nguồn lực (đất đai, lao động), lâu nay bị bó buộc người lao động
không được quyền quyết định việc sử dụng đất đai, lao động của mình, trong
đó lâm trường có quyền quyết định việc sử dụng nhưng không hiệu quả dẫn
đến tranh chấp đất đai, tài nguyên. Việc đổi mới lần này, cũng phải coi rừng
trồng và vườn cây phải là một tài sản gắn liền với nông dân, lâm trường để có
thể dễ dàng giao dịch trên thị trường vốn, có thể thế chấp tài sản này để vay
vốn phát triển sản xuất kinh doanh. Cuối cùng, là việc trồng rừng cần phải
tính đến cả hai lợi ích, đó là lợi ích kinh tế như: cung cấp gỗ, củi, lâm sản,..
lợi ích này ai thu thì phải đầu tư, Nhà nước không đầu tư cho lợi ích này; hai
là lợi ích về môi trường- xã hội, khi một cá nhân trồng rừng thì xã hội được
hưởng không một lợi ích là rừng điều hoà khí hậu, sinh thủy, hạn chế lũ lụt,
hạn hán,… Do vậy Nhà nước cần hỗ trợ một phần cho dân trồng rừng do lợi
ích này mang lại.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Thực trạng Lâm trường quốc doanh trước thời kỳ đổi mới.
Lâm trường quốc doanh được thành lập đầu tiên ở miền Bắc vào năm
1958 với nhiệm vụ trồng rừng chống cát bay ở Nam Quảng Bình. Vào đầu
thập kỷ 60, đã phát triển thêm nhiều Lâm trường quốc doanh trồng rừng ở
những vùng đồi trọc thuộc nhiều tỉnh khác ở miền Bắc nhất là ở Thái Nguyên,
Yên Bái, Nghệ An, Quảng Ninh.
24
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoà- Lớp KTPT K42
Vào thời kỳ khôi phục kinh tế, Lâm trường quốc doanh là loại hình sản
xuất có số lượng đơn vị nhiều nhất, được bố trí ở nhiều vùng rừng có điều
kiện khó khăn, được giao quản lý gần như hầu hết diện tích rừng của đất nước