NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2010 - Pdf 73

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI CÁC LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN
NĂM 2010.
Từ trước đến nay khái niệm của Lâm trường quốc doanh chưa được hiểu rõ
ràng gây khó khăn cho việc đề ra các giải pháp để khắc phục. Hiện nay, theo dự
thảo Nghị định của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển Lâm
trường quốc doanh do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì thì Lâm
trường quốc doanh (bao gồm công ty, xí nghiệp, lâm trường thuộc loại hình doanh
nghiệp Nhà nước), được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao, cho thuê rừng và
đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp
1
.
3.1 Quan điểm, phương hướng sắp xếp đổi mới và phát triển
các Lâm trường quốc doanh
3.1.1 Quan điểm đổi mới.
3.1.1.1 Đổi mới Lâm trường quốc doanh phải đặt trong bối cảnh cải cách
doanh nghiệp Nhà nước hiện nay.
Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn và nhất quán của
Nhà nước. Thực chất của quá trình đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước là đa dạng
hoá sở hữu, là quá trình chuyển dịch quyền sở hữu từ phía Nhà nước sang các
thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân. Mục đích của đổi mới các
doanh nghiệp Nhà nước:
2
 Góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại
hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, tạo
1 Dự thảo Nghị định về tiếp tục sắp xếp, đổi mới v phát trià ển Lâm trường quốc doanh, Bộ Nông nghiệp v phátà
triển nông thôn, 2004.
2 Lee Kang Woo, Quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nh nà ước ở Việt Nam giai đoạn 1986-2000, 2001.
động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có
hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp.
 Huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển

tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm và cơ sở vật chất- kỹ thuật
hiện có; hình thành các vùng sản xuất nông sản, lâm sản hàng hoá tập trung, thâm
canh qui mô lớn gắn liền với chế biến và thị trường tiêu thụ; nâng cao hiệu quả sản
xuất và sức cạnh tranh; tăng thu nhập cho người lao động, bảo vệ môi trường sinh
thái xoá đói và xoá đói giảm nghèo.
- Lâm trường quốc doanh phải chuyển hẳn sang sản xuất và hạch toán kinh
doanh theo cơ chế thị trường có sự hỗ trợ cần thiết và có điều kiện của Nhà nước.
Những Lâm trường quốc doanh phải đảm nhận một phần chức năng xã hội và an
ninh, quốc phòng thì Nhà nước có chính sách hỗ trợ thích hợp.
- Lâm trường quốc doanh phải có được cơ chế quản lý mới và hình thức tổ
chức phù hợp để thúc đẩy ứng dụng nhanh và có hiệu quả các tiến bộ khoa học,
công nghệ vào sản xuất lâm nghiệp; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phân bổ lại lực lượng lao động và dân cư; góp phần phát triển kinh tế- văn hoá-
xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đổi mới Lâm trường quốc doanh phải gắn với đổi mới về cơ chế quản lý
theo hướng phân biệt rõ nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ công ích.
3.1.2 Nguyên tắc sắp xếp, đổi mới Lâm trường quốc doanh.
5 Bộ Nông nghiệp v phát trià ển nông thôn, Dự thảo Nghị định của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới v à
phát triển Lâm trường quốc doanh, 2004.
Việc sắp xếp lại các Lâm trường quốc doanh hiện có phải gắn với việc rà
soát lại diện tích đất và các loại rừng lâm trường đang quản lý, sử dụng; phân biệt
rõ nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ công ích; Kết hợp lợi ích của người
dân- lâm trường- xã hội, xã hội hoá việc trồng rừng, giao đất cho dân.
6

- Tiếp tục duy trì, củng cố và phát triển các Lâm trường quốc doanh ở những
vùng đất quy hoạch trồng rừng nguyên liệu tập trung quy mô lớn hoặc gắn với các
cơ sở chế biến, có tác dụng là hạt nhân phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc
phòng an ninh trên địa bàn.

nông nghiệp và gần khu dân cư, đang gặp khó khăn trong sản xuất, không gắn với
chế biến thì chuyển sang làm dịch vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, sản xuất cây
giống, xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
- Những đơn vị nhiều năm sản xuất, kinh doanh không có hiệu quả, không
có yêu cầu làm dịch vụ kỹ thuật, nông nghiệp thì giải thể hoặc chuyển đổi sang
hình thức sở hữu khác.
Theo phương hướng trên dự kiến sắp xếp các lâm trường như sau:
Bảng 9: Phương hướng sắp xếp lại các lâm trường quốc doanh.
Loại hình sắp xếp Của địa phương Của Bộ Nông nghiệp và phát triển
7 Bộ Nông nghiệp v phát trià ển nông thôn, Dự thảo Nghị định về tiếp tục sắp sếp, đổi mới v phát trià ển các Lâm
trường quốc doanh, 4-2004.
nông thôn
Số lượng % Số lượng %
Tổng số 368 100 368 100
Duy trì 283 76,9 113 30,7
Loại hình khác 0 0,0 18 4,9
Ban quản lý rừng 68 18,5 214 58,2
Sáp nhập 6 1,6 12 3,2
Giải thể 11 3,0 11 3,0
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Việc sắp xếp các Lâm trường quốc doanh sang các loại hình khác có sự khác
nhau giữa các tỉnh và Trung ương (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) là do
có hai quan điểm:
8

 Việc hạn chế về vốn để thực hiện chức năng công ích (bảo vệ rừng) dẫn tới
việc lựa chọn phương án Lâm trường quốc doanh theo hướng kinh doanh, dẫn đến
bao cấp chéo trong kinh doanh và trồng rừng. Trong khi đó ít tỉnh thấy được cần
thiết phải tách biệt chức năng kinh doanh và công ích. Hơn nữa việc Nhà nước
nhận thấy việc cần và áp dụng chỉ tiêu khai thác gỗ từ đó làm mất nguồn thu của

môi trường,… tuy đã có một số văn bản pháp luật ban hành như: Quyết định
187/TTg ngày 16/9/ 1999 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới tổ chức và cơ chế
quản lý Lâm trường quốc doanh; Quyết định 178/2001/ QĐ- TTg của Thủ tướng
Chính phủ về quyền lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình và cá nhân được giao, cho thuê
và nhận khoán bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP về
việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng
9 Bộ Nông nghiệp v phát trià ển nông thôn, Báo cáo tiếp tục sắp xếp, đổi mới v phát trià ển các Nông, Lâm trường
quốc doanh, 2004.
lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; và mới đây là Nghị quyết số 28 NQ- TW ngày
16/6/ 2003 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển Nông, Lâm
trường quốc doanh”,…Tuy nhiên vẫn chưa giải quyết thoả đáng các vấn đề đặt ra
cho Lâm trường quốc doanh trong thời gian tới. Việc hoàn thiện cơ chế chính sách
đối với các Lâm trường quốc doanh cần tập trung vào các vấn đề :
 Hoàn thiện về tổ chức và cơ chế quản lý trong lâm trường: Hoàn thiện về
tổ chức quản lý Lâm trường quốc doanh; Hoàn thiện cơ chế quản lý.
 Hoàn thiện các chính sách trong lâm trường quốc doanh: Chính sách đất
đai; chính sách tài chính, tín dụng; chính sách đầu tư; chính sách lao động; chính
sách khoa học và công nghệ.
Những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới:
 Đổi mới Lâm trường quốc doanh phải có lợi cho dân, tách bạch rõ ràng
chức năng công ích và chức năng kinh doanh, rừng sản xuất- rừng phòng hộ.
 Có tiêu chí cơ cấu lại Lâm trường quốc doanh thật rõ ràng, cụ thể: Đất
rừng và rừng tự nhiên, luôn đặt câu hỏi quản lý đất và rừng tự nhiên ai làm tốt hơn:
cộng đồng dân cư, lâm trường hay Ban quản lý; Yêu cầu về đất của nhân dân địa
phương; Năng lực sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh dựa trên kế
hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý và có tính đến nhu cầu và khả năng thị trường.
 Tách dịch vụ công và quản lý rừng tự nhiên khỏi sản xuất kinh doanh và
hạn chế tối đa bao cấp chéo. Đồng thời, giải quyết thích đáng các chế độ cho Ban
quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (Chỉ thành lập mới Lâm trường quốc
doanh ở những nơi thật sự cần thiết).

lâm trường trở thành những Lâm trường quốc doanh theo hướng kinh doanh. Đối
với những Lâm trường quốc doanh ở những khu vực đã được quy định xây dựng
rừng đặc dụng, rừng phòng hộ rất xung yếu và xung yếu, có tầm quan trọng lớn thì
chuyển thành các ban quản lý rừng phòng hộ hoặc đặc dụng và hoạt động như một
đơn vị sự nghiệp có thu.
Cần tách riêng hoạt động sự nghiệp và hoạt động kinh doanh của Lâm
trường quốc doanh, tránh tình trạng chồng chéo giữa hai chức năng kinh doanh và
chức năng công ích. Thực tế cho thấy nếu hai chức năng này không rõ ràng thì lâm
trường sẽ hoạt động không hiệu quả. Hệ thống tiêu chí phân loại Lâm trường quốc
doanh cũng cần phải xem xét lại, ngoài diện tích rừng sản xuất và rừng phòng hộ,
những tiêu chí xác định năng lực kinh tế và khả năng sinh lời của Lâm trường quốc
doanh cần được bổ sung thêm. Đối với hoạt động sự nghiệp hình thành các công ty
công ích và Ban quản lý rừng do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hoặc Uỷ
ban nhân dân các tỉnh quản lý, đối với sản xuất kinh doanh thì hoạt động theo các
hình thức công ty theo luật doanh nghiệp Nhà nước.
Tiếp tục đổi mới phương hướng kinh doanh của các Lâm trường quốc
doanh, chuyển hướng kinh doanh của các lâm trường từ chỗ lấy khai thác tài
nguyên rừng làm chính sang tăng cường quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển
vốn rừng làm trọng tâm, chuyển từ sản xuất kinh doanh lâm nghiệp theo kế hoạch
Nhà nước giao sang hướng phải có tầm nhìn, chiến lược lâu dài, kinh doanh toàn
diện, tổng hợp từ khâu tạo rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, nông- lâm kết
hợp,… để khai thác hợp lý các nguồn lực lao động, vốn, tài nguyên rừng, đất rừng.
Đối với lâm trường có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thì đất đai lâm trường
đang quản lý phải chuyển sang thuê đất và được hưởng chính sách quy định tại
Nghị định số 51/1999/NĐ- CP, ngày 8/7/1999 của Chính phủ; tổ chức khoán rừng
và đất đai cho cán bộ, công nhân viên lâm trường và hộ nông dân trên địa bàn; thực
hiện việc tiêu thụ lâm sản thông qua hợp đồng với người nhận khoán và nhân dân
trong, ngoài vùng của lâm trường.
Đối với lâm trường chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu thì được Nhà nước
giao đất để quản lý và tổ chức sản xuất theo quy hoạch. Nhà nước giao biên chế bộ

Cần đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh của lâm trường trên cơ
sở phát huy lợi thế về đất đai, tài nguyên rừng, lao động, kinh nghiệm sản xuất.
Các Lâm trường quốc doanh và các doanh nghiệp lâm nghiệp rất cần được tham
gia trong các dự án thí điểm để thử nghiệm mô hình cổ phần hoá dưới công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, Công ty liên doanh. Cổ phần hoá
các nhà máy, cơ sở chế biến của Lâm trường quốc doanh theo Nghị định số
64/2002/NĐ- CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ về “Chuyển doanh
nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần”; thí điểm cổ phần hoá vườn cây, rừng
trồng của lâm trường, không cổ phần hoá rừng tự nhiên vì đó là tài sản quốc gia,
không phải là tài sản của lâm trường nên không tiến hành cổ phần hoá loại rừng
này, kể cả rừng tự nhiên có mục đích sản xuất; ưu tiên bán cổ phần cho cán bộ,

Trích đoạn Một số kiến nghị.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status