nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động đổi mới (công nghệ) - Pdf 13


1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI Đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ
HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
Những người tham gia thực hiện:
TS. Đặng Duy Thịnh (Chủ nhiệm đề tài)
PGS.TS. Bùi Thiên Sơn
ThS. Nguyễn Trọng Thụ
KS. Nghiêm Thị Minh Hoà
ThS. Dương Thị Ninh
ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền
CN. Nguyễn Hồng Anh
CN. Đoàn Thị Hoài Anh
CN. Hoàng Mạnh Cường

I.8. LÝ LUẬ
N VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ, TÍN DỤNG VÀ CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH KHÁC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 40
Chương Hai KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI (CÔNG
NGHỆ) 46
II.1. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TÀI CHÍNH CHO NC&PT, CHƯƠNG
TRÌNH KH&CN, QUỸ PHÁT TRIỂN KH&CN 46
II.2. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TÀI CHÍNH CHO CHƯƠNG TRÌNH,
DỰ ÁN ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, QUỸ ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ) 51
II.3. KINH NGHIỆ
M NƯỚC NGOÀI VỀ TÀI CHÍNH CHO TỔ CHỨC
KH&CN, PHÒNG THÍ NGHIỆM TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA 58
II. 4. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ THUẾ, TÍN DỤNG, CÁC CHÍNH
SÁCH TÀI CHÍNH KHÁC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG
NGHỆ) 63

3
II.5. KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC NGOÀI VỀ LẬP KẾ HOẠCH VÀ SỬ
DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DÀNH CHO KH&CN, ĐỔI MỚI (CÔNG
NGHỆ) 70
Chương Ba ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH
TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI
(CÔNG NGHỆ) 82
III.1. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN CẤP NHÀ NƯỚC 82
III.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ
CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH CHO CÁC QUỸ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 85
III.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI

CNH Công nghiệp hóa
DVKH&CN Dịch vụ khoa học và công nghệ
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
GTGT Giá trị gia tăng
HĐH Hiện đại hóa
HTQT Hợp tác quốc tế
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHKTvà CN Khoa học kỹ thuật và công nghệ
KHNN Khoa học nông nghiệp
KHTN Khoa học tự nhiên
KH&CN Khoa học và công nghệ
KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
KHYD Khoa học y d
ược
KT-XH Kinh tế-xã hội
NSĐP Ngân sách địa phương
NSNN Ngân sách Nhà nước
NCCB Nghiên cứu cơ bản
NCKH Nghiên cứu khoa học
NCUD Nghiên cứu ứng dụng
NC&PT Nghiên cứu và phát triển
PTNTĐ Phòng thí nghiệm trọng điểm
SX-KD Sản xuất - kinh doanh
SHTT Sở hữu trí tuệ
SNKH Sự nghiệp khoa học
TNDN Thu nhập doanh nghiêp
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UNESCO Tổ chức khoa học và giáo giục Liên hiệp quốc
UNIDO Tổ ch
ức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc

KH&CN, Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN hướng dẫn chế
độ khoán kinh phí của đề tài, d
ự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước,
Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn định mức xây
dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công
nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Luật chuyển
giao công nghệ (2006), Luật công nghệ cao (2008).
Nhìn chung các cố gắng đó chủ yếu vẫn nằm trong khuôn khổ sử dụng
ngân sách Nhà nước và thông qua hệ thống quản lý hành chính phục vụ
phát
triển KH&CN. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nhiều nhận định cho rằng
cơ chế, chính sách tài chính của chúng ta chưa phù hợp với đặc thù của hoạt
động KH&CN và chưa chú trọng đúng mức, đúng chỗ đến hỗ trợ đổi mới
(công nghệ) của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở công tác lập kế hoạch sử
dụng ngân sách nhà nước hằng năm còn bất cập; tri
ển khai cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN gặp khó khăn về thời gian; khoán
chi cho các đề tài dự án KH&CN gặp nhiều vướng mắc, khó triển khai vào
thực tiễn.
Nguyên tắc đầu tư, hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước trong hoạt động
KH&CN cũng như đổi mới chưa được làm rõ trong thực tiễn và do vậy nảy
sinh nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà quả
n lý khoa học, quản lý tài
chính, người làm công tác khoa học về sử dụng ngân sách Nhà nước (tài chính
công) với chức năng sự nghiệp hoặc làm kinh tế. Luật ngân sách nhà nước

6
(2002), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Luật ngân sách nhà nước và Thông tư số 59/2003/TT-BTC hướng dẫn Nghị
định 60/2003/NĐ-CP đã quy định và hướng dẫn chung cho việc thực hiện

KH&CN; các quỹ KH&CN, thù lao cho nhà khoa học, dự toán và phân bổ
ngân sách KH&CN;
2 - Đề xuất các cải tiến về cơ chế, chính sách tài chính Nhà n
ước hỗ trợ
các hoạt động đổi mới công nghệ: phát triển công nghệ, sản xuất thử nghiệm,
ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; làm chủ, thích nghi cải
tiến, công nghệ nhập.

7
Vấn đề nghiên cứu
1- Cơ chế, chính sách trong công tác lập kế hoạch, phân bổ, cấp phát
ngân sách nhà nước dành cho hoạt động KH&CN của Nhà nước và hoạt động
đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
2- Cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước cho quỹ phát triển KH&CN,
quỹ đổi mới công nghệ;
3- Cơ chế sử dụng kết hợp ngân sách nhà nước và tài chính doanh
nghiệp cho hoạt động NC&PT, đổi mới công nghệ của doanh nghi
ệp; sản xuất
thử nghiệm.
4- Cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước và tài chính doanh nghiệp trong
việc nhập, làm chủ và cải tiến công nghệ nhập.
Sản phẩm nghiên cứu
Báo cáo khoa học, tổng hợp về cơ chế, chính sách tài chính (cách thức
phân bổ, cấp phát/phân phối, các phân tích về định mức chi và cơ chế lập kế
hoạch sử dụng ngân sách dành cho KH&CN) và cơ chế, chính sách đối với
hoạt độ
ng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thời gian qua, làm rõ những
bất cập và đề xuất một cơ chế tài chính mới cho việc sử dụng ngân sách Nhà
nước dành cho KH&CN của Nhà nước và đổi mới của doanh nghiệp trong
thời gian tới để nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN và theo các chuẩn mực

ề cơ chế tài chính cho
các hoạt động KH&CN, hoạt động đổi mới tại các cơ quan quản lý KH&CN,
cơ quan tài chính có liên quan, các viện trường, các doanh nghiệp: Đề tài đã
tiến hành khảo sát tại 25 tổ chức, gồm 04 vụ của các bộ; 06 sở KH&CN địa
phương; 13 viện, trường đại học và 02 doanh nghiêp tại 3 niềm Bắc, Trung,
Nam (xem Phụ lục III).
3- Phỏng vấn, hội thảo, điều tra ý kiến chuyên gia (quản lý KH&CN,
qu
ản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp) về cơ chế sử dụng tài chính cho hoạt
động KH&CN, hoạt động đổi mới: Đề tài đã phỏng vấn, hội thảo với các
chuyên gia tại 25 tổ chức được điều tra, khảo sát (xem Danh sách chuyên gia
tại Phụ lục III).
Thuật ngữ Đổi mới (công nghệ)
Trong nghiên cứu, đề tài sử dụng thuật ngữ đổi mới (công nghệ) với
nghĩa tương
đồng với thuật ngữ innovation trong tiếng Anh (nhiều người dịch
là đổi mới) dùng trong lĩnh vực kinh tế nhằm giới hạn nội hàm đổi mới (công
nghệ) là những đổi mới của doanh nghiệp trong sản xuất sản phẩm mới, quy
trình công nghệ mới, marketing và tổ chức đưa sản phẩm mới vào thâm nhập
thị trường. Đổi mới (công nghệ) không bao hàm các nội dung đổi mới khác
(vd về chính tr
ị, ).
Nội dung của báo cáo tổng hợp
Chương I: LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH
SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Chương II: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH
TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN VÀ ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ
Chương III: THỰC TRẠNG VÀ CÁC ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH

Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware).
Dòng lưu chuyển công nghệ diễn ra thông qua: Con người, Tài liệu,
Thiết bị và Sản phẩm. Việc mua bán, chuyển giao công nghệ đều di
ễn ra
thông qua các yếu tố này.
1.1.3. Hoạt động KH&CN
Theo UNESCO và OECD, hoạt động KH&CN là hoạt động có hệ
thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, truyền bá và ứng dụng
các kiến thức KH&CN vào đời sống, xã hội. Hoạt động KH&CN bao gồm
hoạt động giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
(NC&PT) và dịch vụ KH&CN. Theo nghĩa hẹp hoạt động KH&CN bao gồm
hoạt động NC&PT và dịch vụ
KH&CN.

10
a) Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
(NC&PT)
Theo UNESCO và OECD, hoạt động NC&PT là tập hợp các hoạt động
có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức bao gồm các kiến
thức có liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội và nhằm sử dụng các kiến
thức mới để để tạo ra những áp dụng mới. Hoạt động NC&PT bao gồm hoạt
động nghiên cứu khoa học và hoạt động triể
n khai thực nghiệm.
Luật Khoa học và công nghệ (2000) đưa ra quy định, hoạt động khoa
học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển
công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa
học và công nghệ.
• Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH)
Theo UNESCO và OECD: NCKH có thể xác định là tập hợp toàn bộ

nghiệm.

11
b) Hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ
• Hoạt động ươm tạo công nghệ
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2006), ươm tạo công
nghệ là hoạt động hỗ trợ nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ có triển vọng
ứng dụng công nghệ thực tiễn và thương mại hoá từ ý tưởng công nghệ hoặc
kết quả nghiên cứu khoa học và phát tri
ển công nghệ.
• Hoạt động ươm tạo doanh nghiệp công nghệ
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2006), ươm tạo
doanh nghiệp công nghệ là hoạt động hỗ trợ tổ chức, cá nhân hoàn thiện công
nghệ, huy động vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh, tiếp thị, thực hiện
thủ tục pháp lý và các dịch vụ cần thiết khác để thành lập doanh nghiệp sử
dụng công nghệ mới được tạo ra.
1.1.4. Hoạt động dịch vụ KH&CN (DVKHCN)
Theo UNESCO, DVKHCN có thể được xác định như là tập hợp tất cả
các hoạt động liên quan đến NC&PT và góp phần vào việc tạo ra, truyền bá và
áp dụng các kiến thức KH&CN.
Theo Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam (2000), DVKHCN là
các hoạt động phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt
động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công ngh
ệ; các dịch vụ về
thông tin tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và
kinh nghiệm thực tiễn.
Hoạt động chuyển giao công nghệ không làm cho giá trị công nghệ
tăng thêm mà chỉ là làm cho công nghệ được phổ biến, nhân rộng, chuyển đến
nơi tiếp nhận là những hộ, người sử dụng công nghệ.
Đề tài sử dụng các khái niệm, thuật ngữ nêu trong m

trong thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức giao tiếp với cấc đối tác
hoặc quan hệ với bên ngoài
b) Các hoạt động đổi mới (công nghệ)
Là tất cả các bước về khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương
mại được tiến hành hoặc chủ định sẽ tiến hành để thực hiện các đổi mới. Có
một số hoạt động đổi mới tự nó là đổi mới, một số hoạt động là hoạt động
không có tính mới nhưng lạ
i cần thiết cho việc thực hiện đổi mới. Như vậy
hoạt động đổi mới (công nghệ) bao gồm cả hoạt động NC&PT mà bản thân nó
không trực tiếp dẫn đến triển khai một đổi mới riêng biệt nào.
• Các hoạt động đổi mới của đổi mới sản phẩm và đổi mới quy
trình
- NC&PT nội bộ: bao gồm tất cả các NC&PT do doanh nghiệp tự thự
c
hiện kể cả nghiên cứu cơ bản;
- Sử dụng NC&PT bên ngoài: thuê các hoạt động NC&PT của các tổ
chức nghiên cứu nhà nước hoặc nghiên cứu của tư nhân hoặc của các doanh
nghiệp khác kể cả của doanh nghiệp trong cùng tập đoàn;
- Sử dụng các tri thức từ bên ngoài: tậu quyền sử dụng các sáng chế
hoặc các phát minh không đăng ký sáng chế, các thương hiệu, bí quyết và các
tri thức kiểu khác từ các doanh nghiệ
p khác, tổ chức khác như các trường đại
học, các tổ chức nghiên cứu nhà nước, các tổ chức không phải là NC&PT;
- Mua các máy móc, thiết bị và các sản phẩm khác: các máy móc thiết
bị tiên tiến, máy tính với phần cứng và phần mềm, nhà, đất (kể cả việc nâng
cấp, biến đổi hoặc sửa chữa) mà chúng cần cho thực hiện đổi mới sản phẩm,
đổi mới quy trình;

13
- Các công việc khác đối với hoạt động đổi mới sản phẩm đổi mới quy

chính sách công nghiệp. Cùng với sự hiểu biết về đổi mới ngày càng tốt hơn,
đã có nh
ững thay đổi lớn trong việc phát triển các chính sách liên quan tới đổi
mới. Ban đầu, người ta cho rằng tiến bộ công nghệ đạt được thông qua một
quá trình tuyến tính đơn giản bắt đầu từ nghiên cứu khoa học cơ bản rồi tiến
triển một cách tuần tự qua các mức ứng dụng cao hơn của nghiên cứu, bao
gồm khoa học ứng dụng công nghệ và tiếp thị. Khoa học khi đó đượ
c xem là
động lực, và tất cả những gì chính phủ cần chỉ là chính sách khoa học. Tư duy
mới về đổi mới đưa đến cách tiếp cận mang tính liên kết hơn đối với việc soạn
thảo các chính sách liên quan đến đổi mới.

14
1.2.3. Hàng hoá công, hàng hoá tư, các lợi ích
Hầu hết tri thức công nghệ thể hiện tính chất của hàng hóa công. Điều
này có nghĩa là một khi tri thức công nghệ đã được phổ biến thì mọi người có
thể tiếp cận để được sử dụng công nghệ đó. Đặc điểm này chính là nguồn gốc
của hai vấn đề chủ yếu đối với các nhà đổi mới (công nghệ) tư nhân. Thứ nh
ất
là sự lan tỏa lợi ích của đổi mới (công nghệ) với các tác động tích cực, tức là
lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích riêng của công ty (khách hàng và cả các đối thủ
đều được hưởng lợi từ các đổi mới của công ty). Vấn đề thứ hai là một khía
cạnh của vấn đề thứ nhất, đó là tri thức không thể để làm của riêng, tức là
doanh nghiệp không thể giành lấy tấ
t cả lợi ích do đổi mới mang lại cho riêng
mình. Chính điều này đã làm doanh nghiệp giảm nhiệt tình đầu tư vào các
hoạt động đổi mới (công nghệ) có tính chất hàng hoá công. Do vậy, ở đâu tri
thức công nghệ mang đặc tính của hàng hóa công thì ở đó thị trường không
phát huy tác dụng hoặc thất bại (market failure) và điều này có nghĩa là không
khuyến khích các công ty đổi mới (công nghệ) có tính hàng hoá công. Hay nói

cùng các vấn đề của thị trường.

15
Nhiều nhân tố có ảnh hưởng đến hành vi của các công ty, bao gồm cả
các chính sách của chính phủ. Cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia với
mục tiêu chính sách là cần thiết bởi:
- Không thể có được câu trả lời chính sách đơn giản cho các vấn đề
phức tạp được đưa ra bởi mối quan hệ giữa công nghệ và việc làm trong một
nền kinh tế dựa trên tri thức.
- Một chiến l
ược hiệu quả về chính sách phải bao gồm nhiều hành động
chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách cấu trúc.
- Tính chặt chẽ của một gói chính sách là điều kiện thành công, và điều
này phụ thuộc vào tính hiệu lực của khung chính sách cũng như chất lượng
của quá trình hình thành chính sách.
1.2.4. Các nhân tố của chính sách đổi mới (công nghệ)
Có bốn nhóm nhân tố chính liên quan trước hết đến đổi mới (công
nghệ). Đó là nhân tố liên quan đến doanh nghiệp (công ty), các t
ổ chức
KH&CN, các vấn đề chuyển giao và hấp thụ công nghệ, tri thức, kỹ năng.
Ngoài ra, một loạt các cơ hội cho đổi mới còn bị ảnh hưởng bởi nhóm nhân tố
thứ tư – đó là môi trường xung quanh các tổ chức, các dàn xếp về pháp lý, bối
cảnh kinh tế vĩ mô và nhiều điều kiện khác đang tồn tại không phụ thuộc vào
các suy tính về đổi mới (công nghệ).
Bố
n nhóm nhân tố lớn liên quan đến đổi mới (công nghệ) có thể được
thể hiện như một sơ đồ (Hình 1) chỉ ra các lĩnh vực trong đó đòn bẩy chính
sách có thể được áp dụng vào đổi mới doanh nghiệp, hoặc các lĩnh vực cần
phải lưu ý đến khi các sáng kiến chính sách đang được hình thành. Đây là
cách thể hiện “hình thái” chính sách đối với một hệ thống đổi mới quốc gia

công ty cung ứng trong các ngành sản xuất hỗ trợ.
Hình 1. Hình thái chính sách đổi mới và các vấn đề liên quan
CÁC ĐIỀU KIỆN KHUNG
Các điều kiện và thể chế chung tạo nên
các cơ hội khác nhau cho đổi mới (công nghệ) CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
Các tổ chức KH&CN làm nền
cho động lực đổi mới (công nghệ)
b) Cơ sở khoa học và kỹ thuật
Cơ sở khoa học và kỹ thuật: Đó là tri thức được tích lũy và các tổ chức
KH&CN làm nền tảng cho đổi mới của doanh nghiệp bằng cách cung cấp dịch
vụ đào tạo công nghệ và cung cấp tri thức khoa học cho doanh nghiệp.
Tri thức khoa học và kỹ năng kỹ thuật là chỗ dựa quan trọng của đổi
mới. Ở hầu hế
t các nước, các yếu tố này tập trung và được phát triển tại các tổ
CÁC NHÂN TỐ CHUYỂN GIAO
Các nhân tố về con người, xã hội và văn
hóa ảnh hưởng đến sự truyền đạt thông tin
đến công ty và sự học hỏi của công ty

các nguồn chuyên gia, xúc tiến hợp tác hiệu quả và cung cấp những công
nghệ, thiết bị được cải tiến cho doanh nghiệp. Các bộ phận của cơ
sở khoa học
và kỹ thuật quốc gia gồm:
- Hệ thống đào tạo kỹ thuật chuyên ngành.
- Hệ thống trường đại học.
- Hệ thống hỗ trợ nghiên cứu cơ bản (bên cạnh những đột phát cơ bản
và các lợi ích lâu dài, nghiên cứu cơ bản đối khi được xem là mang lại rất ít
lợi ích trực triếp cho đổi mới doanh nghiệp).
- Các hoạt động NC&PT mang tính hàng hóa công - tài trợ các ch
ương
trình và tổ chức được định hướng vào các khu vực như y tế, môi trường và
quốc phòng.
- Các hoạt động NC&PT mang tính chiến lược - tài trợ các chương
trình và tổ chức được định hướng vào NC&PT tiền cạnh tranh hay công nghệ
nguồn.
- Hỗ trợ đổi mới không sinh lợi - tài trợ các chương trình và tổ chức
được định hướng vào nghiên cứu các lĩnh vực mà các doanh nghiệp khó có
thể có được đủ lợi ích từ chính nghiên c
ứu trong nội bộ của mình.
c) Các nhân tố chuyển giao
Các nhân tố chuyển giao có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của các
mối liên kết, các luồng trao đổi thông tin và kỹ năng, sự tiếp thu học hỏi. Đây
là các nhân tố về con người mà tính chất của chúng được xác định phần lớn
bởi các đặc điểm văn hóa và xã hội của nhóm người trong xã hội.
Nghiên cứu về đổi mớ
i đã nhận dạng được các nhân tố về con người, xã
hội và văn hóa, có tầm quan trọng đối với hoạt động đổi mới hiệu quả ở cấp
công ty. Những nhân tố này liên quan đến sự dễ dàng liên lạc trong nội bộ các


- Các mối liên hệ quốc tế là một bộ phận quan trọng của mạng lưới
thông tin. Mạng lưới các chuyên gia quốc tế là phương cách quan trọng để
truyền những hiểu biết mới nh
ất về khoa học và những phát triển công nghệ
tiên tiến nhất.
- Mức độ lưu chuyển của các chuyên gia khoa học hoặc công nghệ sẽ
ảnh hưởng đến tốc độ lan truyền của các phát triển mới.
- Sự dễ dàng tiếp cận ngành công nghệ tới các năng lực tiềm tàng của
NC&PT công.
- Sự hình thành công ty spin-off thường kéo theo sự chuyển giao các cá
nhân có trình độ. Đây là một phương cách giá trị để đạt đượ
c sự thương mại
hóa các phát triển mới do nghiên cứu trong khu vực công mang lại.
- Nguyên tắc xử thế, hệ thống giá trị cộng đồng, sự tin cậy và cởi mở có
ảnh hưởng đến hiệu quả của các mạng lưới, các mối liên hệ và các kênh liên
lạc khác, do chúng có tác động đến sự giao tiếp không chính thức giữa cá
nhân và là điều tạo nền tảng cho nhiều thỏa thuận kinh doanh. Chúng còn xác

19
lập các tham số và các quy tắc xử thế được chấp nhận, theo đó liên lạc và trao
đổi thông tin được thực hiện.
- Tri thức được mã hóa trong các sáng chế, tài liệu chuyên môn và tạp
chí khoa học.
d) Động lực đổi mới
Động lực đổi mới là lĩnh vực quan trọng nhất đối với đổi mới doanh
nghiệp, bao gồm các nhân tố nằm trong hoặc ngay bên ngoài công ty và có tác
động trực tiếp đến tính đổi mới củ
a công ty.
Một hệ thống phức tạp các nhân tố định hình đổi mới ở cấp công ty
được gọi là “động lực đổi mới”. Đặt động lực đổi mới vào trung tâm của sơ đồ

kế hoặc chức năng kỹ thuật.
- Việc không liên quan đến NC&PT: Công ty có thể tham gia vào nhiều
hoạt động khác không có bất kỳ mối liên quan trực tiếp nào đến NC&PT và

20
không được định nghĩa là NC&PT, song lại đóng vai trò chủ chốt trong đổi
mới doanh nghiệp và nâng cao hiệu năng doanh nghiệp như:
+ Nhận dạng các khái niệm sản phẩm mới và công nghệ mới: i) Thông
qua bên tiếp thị của công ty và quan hệ với người dùng; ii) Thông qua việc
nhận dạng các cơ hội cho việc thương mại hóa được hình thành từ nghiên cứu
cơ bản và nghiên cứu chiến lược của chính công ty hoặc của các công ty khác;
iii) Thông qua thi
ết kế năng lực thiết kế và kỹ thuật của mình; iv) Bằng cách
giám sát đối thủ; v) Bằng cách sử dụng nhà tư vấn.
+ Phát triển dự án dẫn đường và sau đó phát triển phương tiện sản xuất
ở mức tổng thể.
+ Mua thông tin kỹ thuật, trả lệ phí hoặc tiền bản quyền cho các sáng
chế đã được cấp bằng (điều này thường đòi hỏ
i công tác nghiên cứu và kỹ
thuật để thích nghi và cải tiến) hoặc mua bí quyết và kỹ năng thông qua tư vấn
kỹ thuật và thiết kế các loại khác nhau.
+ Trình độ nhân lực cần cho sản xuất có thể được phát triển (thông qua
đào tạo nội bộ) hoặc mua (qua thuê mướn); học hỏi ngầm và không chính thức
(học qua làm).
+ Đầu tư vào thiết bị qui trình hoặc các đầu vào trung gian (các cấu
kiện, các máy móc hoặc toàn bộ một nhà máy).
+ Tổ chức lại hệ thống quản lý, toàn bộ hệ thống sản xuất và các
phương pháp sản xuất, bao gồm cả các dạng mới của quản lý kho hàng và
kiểm soát chất lượng, và không ngừng cải tiến chất lượng.
Nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm xây dựng các mô hình để tìm

những khó khăn mà cơ sở tri thức hiện có không giải quyết được, và như vậy
sẽ mở rộng khả năng của cơ sở tri thức nếu giải quyết thành công các khó
khăn đó.
Tổng kết thực tiễn cho thấy Nghiên cứu có thể liên quan đến bất kỳ giai
đoạn nào của đổi mới, nó là một hoạt động phức tạp và khác biệt từ trong nội
tại, với nhiều chức năng rất đa dạng. Nghiên cứu có thể là một bổ trợ cho đổi
mới. Nhiều hoạt động nghiên cứu sẽ được hình thành từ quá trình đổi mới.
Nhiều vấn đề cần giải quyết bắt nguồn từ các ý tưởng đổi mới
được tạo ra ở
những nơi khác. Do đó, đối với mô hình chuỗi liên kết, nghiên cứu không thể
được xem chỉ như là công việc khám phá diễn ra trước đổi mới mà có thể cả
trong quá trình đổi mới.
Đề tài sử dụng những lý luận theo quan niệm của OECD nêu trong mục
I.2. Hoạt động đổi mới (công nghệ) để làm cơ sở cho việc phân tích về cơ chế,
chính sách tài chính của Nhà nước và của doanh nghiệp đố
i với các hoạt động
đổi mới (công nghệ) tại các Chương II và Chương III của đề tài.

I.3. QUAN HỆ GIỮA NC&PT VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Từ các phần I.1 và I.2 có thể nhận thấy có sự tương tác, liên hệ giữa
nghiên cứu và phát triển với đổi mới công nghệ. Các hoạt động NC&PT chỉ
diễn ra ở quy mô phòng thí nghiệm, hoặc xưởng thử nghiệm, xưởng bán công
nghiệp với sản phẩm ở dạ
ng sản phẩm mẫu. Để có được công nghệ mới hoàn
chỉnh và sản phẩm mới có thể thương mại hoá được trên thị trường thì cần
phải có công việc đổi mới trong thực tiễn sản xuất (quy trình công nghệ mới
thay quy trình cũ, sản phẩm mới thay sản phẩm cũ). Trong giai đoạn đổi mới
này không chỉ quy trình công nghệ mới được đưa vào hoạt động, sản phẩm
mới được sản xuất mà một số công tác tổ chức thâm nhập thị trường để bán
sản phẩm mới cũng được xúc tiến. Trong công việc này cũng có thể nảy sinh
Mô hình trên là mô hình tuyến tính mô tả mối quan hệ trực tuyến tuần
tự nối tiếp nhau từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đến sản xuất và
thương mại. Vào thời điểm đến những năm 1970 quan điểm này đã được phổ
biến rộng rãi trên thế giới. Người ta gọi đây là mô hình "Công nghệ đẩy". Tư
tưởng chính của nó là công nghệ
đóng vai trò động lực cho quá trình đổi mới
và phát triển của xã hội. Công nghệ là sản phẩm sáng tạo của con người trong
hoạt động NC&PT và khi được đưa vào sản xuất nó sẽ dẫn dắt thị trường, tạo
ra nhu cầu thị trường. Nói một cách khác nhu cầu thị trường là hệ quả của
phát triển công nghệ. Theo lôgic hình thức thì có thể thấy như vậy là hợp lý,
tuy nhiên, trong thực tiễn không thiếu những sáng t
ạo công nghệ không thể
tạo nên phát triển thị trường do không đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Mô hình "Công nghệ đẩy" đã không thể hiện được tầm quan trọng của
yêu cầu thị trường, nhu cầu xã hội đến việc sáng tạo công nghệ mới. Mô hình
này thường tồn tại trong các nước đang phát triển khi mà hoạt động NC&PT
phần lớn vẫn do nhà nước bao cấp. Đây không phải là mô hình phát huy tốt
trong cơ chế thị trường. Đây chỉ là cơ chế "điểm hút" của thị trường và theo
mô hình này chủ yếu nhà nước sử dụng cho sự phát triển trong một số lĩnh
vực khoa học và công nghệ.
Mô hình "Thị trường kéo" cũng là mô hình tuyến tính và có cách tiếp
cận ngược với mô hình công nghệ đẩy. Mô hình này nhấn mạnh vai trò quyết
Nghiên cứu
cơ bản
Nghiên cứu ứng
dụng và phát triển
côn
g

không phải chỉ đơn thuần do sức đẩy của công nghệ mà cũng không phải luôn
luôn do sức kéo của thị trường mà nó diễn ra do cả hai động lực trên trong
từng hoàn cảnh cụ thể của quá trình đổi mới. Chính vì vậy để
mô tả một cách
sát thực quá trình phát triển KH&CN người ta đưa ra mô hình hỗn hợp giữa
công nghệ đẩy và sức kéo của thị trường. Tuy vai trò của thị trường được đề
cao nhưng không phải lúc nào thị trường cũng có tính quyết định cho quá
trình đổi mới. Nhà nước luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc bù đắp
phần khiếm khuyết của thị trường.
Theo mô hình này, khi xuất hiện yêu cầu của thị trườ
ng về một sản
phẩm nào đó thì sẽ làm xuất hiện nhu cầu cho hoạt động nghiên cứu và sáng
tạo công nghệ để sản xuất ra sản phẩm đó. Như vậy thị trường đã có tác động
mạnh và thúc đẩy hoạt động NC&PT phát triển. Ngược lại, hoạt động NC&PT
sáng tạo ra công nghệ tạo ra sản phẩm mới sẽ kích thích tiêu dùng và tạo ra
nhu cầu thị trường mới và tác độ
ng lại NC&PT.
Đề tài đã sử dụng triết lý đẩy, kéo nêu trên để làm cơ sở cho các phân
tích về cơ chế, chính sách tài chính đối với việc tổ chức và hoạt động của các
chương trình, đề tài, dự án KH&CN phải được « kéo » như thế nào thì mới
thực sự gắn kết KH&CN với sản xuất ; có địa chỉ ứng dụng ; đáp ứng yêu cầu
của thị trường.

I.4. LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHẠM VI, TRÁCH NHIỆM CỦA
NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KH&CN,
ĐỔI MỚI (CÔNG NGHỆ)
1.4.1. Lý luận chung về quan hệ giữa nhà nước và thị trường
Trong quá trình phát triển của kinh tế thế giới, mối quan hệ giữa nhà
nước và thị trường được tổng kết theo 3 mô hình như sau:
1) Trường phái "Bàn tay vô hình" mà Adam Smith là đại diện chủ

quyết được thì nhà nước phải quan tâm giải quyết.
Trên thực tế, hiện nay phần lớn các nước trên thế
giới phát triển kinh tế
thị trường đều thực hiện hoặc hướng theo mô hình "kinh tế hỗn hợp". Việt
Nam đi theo mô hình nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, như
vậy về cơ bản cũng là theo mô hình "kinh tế hỗn hợp".
Dựa theo mô hình trên, phần lớn các nước đang phát triển ban đầu luôn
luôn coi phát triển KH&CN là hoạt động của nhà nước. Nhà nước tổ
chức,
tham gia và cung cấp tài chính cho hầu hết các hoạt động KH&CN. Tuy
nhiên, vai trò của nhà nước ở các nước đang phát triển trong việc can thiệp để
phát triển KH&CN cũng chỉ có thể dừng lại ở một mức độ nhất định. Để có
được những thành công lớn, nhà nước các nước trên đã hỗ trợ và khuyến
khích các vai trò tác nhân trung gian tích cực tham gia vào các hoạt động phát
triển KH&CN chế tạo ra nhu cầu thật sự đối v
ới công nghệ và tạo ra động lực
cho quá trình đổi mới. Trong quá trình đó, nhà nước đã tạo ra được sự tin cậy
lẫn nhau giữa khu vực tư nhân và nhà nước và ngay cả ở bộ máy hành chính
của nhà nước. Nhà nước cũng giúp thiết lập sự tin cậy lẫn nhau giữa ngành
công nghiệp và các tổ chức NC&PT. Bước đi đầu tiên là các tổ chức NC&PT
phải tìm kiếm các chương trình nghiên cứu cho mình từ những vấn đề mà các
ngành công nghiệp đang gặp khó khăn trong việc sử dụng công nghệ được

25
chuyển giao từ nước ngoài. Từ đó các tổ chức NC&PT dần tiến đến giúp các
doanh nghiệp nghiên cứu khả năng thích nghi và cải tiến các quy trình công
nghệ hiện có, nâng cấp công nghệ. Cuối cùng các tổ chức NC&PT nhờ đó mà
có khả năng sáng tạo ra công nghệ mới và giúp doanh nghiệp đổi mới công
nghệ. Kinh nghiệm cho thấy, ở một nước thành công về phát triển công nghệ,
đầu tư của công nghiệp cho NC&PT của quốc gia

xuấ
t hiện mâu thuẫn mới giữa việc hướng các hoạt động KH&CN, đổi mới
công nghệ theo yêu cầu thị trường để phát triển kinh tế- xã hội và duy trì một
số hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ như là hoạt động công cộng vì lợi
ích chung trong một số hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ. Thiên về
quan điểm thị trường hoá tất cả các hoạt động KH&CN, đổi mới công ngh
ệ sẽ
là nguy hiểm đối với nền KH&CN của một quốc gia. Nhà nước phải đảm bảo
phát triển KH&CN, đổi mới công nghệ bằng cách phối hợp giữa hai cơ chế
xuất phát từ chức năng của nhà nước là công ích và chức năng của thị trường
là lợi ích của doanh nghiệp.
Đề tài đi theo quan điểm nêu trên và lấy đó làm cơ sở cho việc xác định
vai trò của nhà n
ước và của thị trường trong hoạt động KH&CN, hoạt động
đổi mới (công nghệ), đặc biệt là vấn đề cơ chế, chính sách tài chính của nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status