BAN KHOA GIÁO TRUNG ƯƠNG
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Mã số đề tài: ĐTĐL – 2003/27
Chủ nhiệm: GS. TSKH. Nguyễn Hữu Tăng
Nam hiện nay
14
1.2.1. Một vài nét chủ yếu về đặc điểm trí tuệ con người Việt nam 15
1.2.2. Đặc điểm xã hội của trí thức 15
1.2.3. Đặc điểm về tôn giáo của trí thức 18
1.2.4. Đặc điểm về truyền thống văn hóa dân tộc của trí thức Việt Nam 21
1.2.5. Đặc điểm chuyên môn và học vấn của trí thức 23
1.2.6. Đặc điểm nghề nghiệp của trí thức 24
1.2.7. Đặc điểm phân bố trí thức theo các vùng lãnh thổ 25
1.2.8. Đặc điểm của các nhóm trí thức khoa học và công nghệ 25
1.3. Chính sách và chu trình chính sách
29
1.3.1. Chính sách 29
1.3.2. Chu trình chính sách 30
1.3.3. Chính sách đối với trí thức 32
1.3.4.
Mục tiêu đổi mới chính sách đối với trí thức 34
1.4. Vai trò và trách nhiệm của trí thức KH&CN trong sự nghiệp
CNH, HĐH
35
1.4.1. Vai trò và trách nhiệm của trí thức 35
1.4.2. Vai trò trách nhiệm của đội ngũ trí thức KH&CN 38
1.5. Kinh nghiệm trong và ngoài nước về chính sách đối với trí
thức và trí thức KH&CN
41
iii
1.5.1. Kinh nghiệm về chính sách đối với trí thức và trí thức KH&CN
của nước ta
101
2.3.1. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn 102
2.3.2. Trong lĩnh vực giáo dục 103
2.3.3. Trong lĩnh vực KHCN 103
2.3.4. Những hạn chế của trí thức nước ta hiện nay 107
P. III THỰC TRẠNG CÁC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRÍ THỨC
KH&CN TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
113
3.1. Quan điểm và chủ trương của Đảng đối với đội ngũ trí thức
trong thời kỳ đổi mới
114
3.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước về KH&CN đến năm 2010
120
3.2.1. Mục tiêu phát triển KH&CN và đội ngũ trí thức KH&CN 121
3.2.2. Các giải pháp lớn về phát triển KH&CN từ nay đến năm 2010 122
iv
3.3. Thực trạng về các nhóm chính sách đối với trí thức KH&CN
124
3.3.1.
Nhóm các chính sách đào tạo
124
3.3.2. Nhóm CS đào tạo lại, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức 137
3.3.3.
Nhóm các chính sách sử dụng
3.4.12. Kết luận 189
P. IV ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
KH&CN TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
193
4.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội đến năm 2020 và kế hoạch 5 năm 2006-2010
198
4.1.1. Bối cảnh kinh tế- xã hội trong thời gian tới 194
4.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 194
4.1.3. Mục tiêu phát triển đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu 197
v
HĐH, CNH
4.1.4. Huớng tới nền kinh tế trí thức 198
4.1.5. Chính sách đối với trí thức gắn với việc xây dựng nền kinh tế trí thức 201
4.2. Quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc đề xuất giải pháp đổi
mới chính sách đối với trí thức KH&CN trong thời kỳ mới
203
4.2.1. Một số quan điểm đề xuất các giải pháp chính sách 204
4.2.2. Mục tiêu của việc đề xuất các giải pháp chính sách 204
4.2.3. Nguyên tắc của việc đề xuất các giải pháp chính sách 205
4.2.4. Những giải pháp tổng quát về chính sách đối với trí thức
KH&CN
206
4.3. Các nhóm giải pháp đổi mới chính sách đối với trí thức
KH&CN trong thời kỳ mới
210
4.3.1. Những yêu cầu đặt ra về đổi mới chính sách đối với trí thức
KH&CN trong tình hình hiện nay
210
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
ĐH đại học
ĐH, CĐ Đại học, cao đẳng
ĐTN đào tạo nghề
ĐT Đào tạo
GCCN Giai cấp công nhân
GDPT Giáo dục phổ thông
GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
KHĐT Kế hoạch đầu tư
KHH Kế ho
ạch hoá
KH&CN khoa học và công nghệ
KH XH khoa học xã hội
KT - XH kinh tế - xã hội
KHTC kế hoạch tài chính
KTQD Kinh tế quốc dân
LĐKT Lao động kỹ thuật
NN Nhà nước
THCN Trung học chuyên nghiệp
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
QLGD Quản lý giáo dục
XHCN Xã hội chủ nghĩa
4 Ths. Nguyễn Đông Hanh Viện CL & CTGD, Bộ GD&ĐT
5 KS. Nguyễn Việt Hùng Viện CL & CTGD, Bộ GD&ĐT
6 TS. Nguy
ễn Quang PVT Vụ KHTN,CN&MT, Ban KGTW
7 TS. Trần Hồng Hà PVT Vụ KHTN,CN&MT,Ban KGTW
8 PGS.TS. Hồ Uy Liêm PCT, kiêm tổng TK Liên hiệp các hội KHKT VN
9 TS. Nguyễn Quân Vụ trưởng Vụ Tổ chức- Cán bộ, Bộ KHCN
10 TS. Lê Đình Tiến Viện trưởng Viện CL&CS KHCN, Bộ KH&CN
11 TS. Nguyễn Đình Minh Vụ trưởng vụ Khoa giáo VPCP
4. Cộng tác viên đề tài
1 GS.TSKH.Phạm Mạnh Hùng PTB, Ban Khoa giáo Trung ương
2 TS. Trần Ngọc Tăng PTB, Ban Khoa giáo Trung ương
3 PGS. TS. Nghiêm Đình Vỳ PTB, Ban Khoa giáo Trung ương
4 TS. Phạm Anh Tuấn Chánh văn phòng Ban KGTW
5 TS. Tạ Nguyên Ngọc V
ụ trưởng, Uỷ ban người Việt nan ở nước ngoài
6 TS. Nguyễn Trọng Khanh Chánh văn phòng Liên hiệp hội
7 TS. Nguyễn Thị Anh Thu Trưởng ban, Viện CL&CS KHCN, Bộ KH&CN
8 TS. Hoàng Xuân Long Viện Chiến lược và chính sách KHCN, Bộ KH&CN
9 TS. Nguyễn Văn Thành Trưởng ban, Viện CLPT, Bộ KH & ĐT
10 TS. Nguyễn Văn Bách P. Văn phòng, Ban Khoa giáo Trung ương
11 GS. TS Hoàng Chí Bảo Hội đồng Lý luận Trung ương
1
Tên đề tài:
ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ
Đảng và Nhà nước ta luôn coi “con người là trung tâm, vừa là động lực vừa
là mục tiêu của s
ự phát triển”. Trong suốt quá trình phát triển đất nước, Đảng và
Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển giáo dục và đào tạo,
KH&CN, coi đó là quốc sách hàng đầu, coi “trí thức là tài sản quý” là nền tảng và
2
động lực để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ X
của Đảng tiếp tục khẳng định: "Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động
lực chủ
yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc"
(1)
, quan điểm đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá
trình phát triển của cách mạng ở nước ta, liên tiếp được nêu trong Nghị quyết ở các
kỳ Đại hội Đảng V, VI, VII, VIII, IX và X.
Nước ta đang tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường. Việc
đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức KH&CN đang trở thành vấn đề cấp thiết. Nghị
quyết TƯ 2 c
ủa Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu rõ: “Muốn tiến
hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Nói cách
khác, muốn thực hiện CNH, HĐH ở nước ta trước hết phải có đội ngũ trí thức
KH&CN là lực lượng then chốt trong việc ứng dụng và phát tiển thành tựu
KH&CN vào th
ực tiễn cuộc sống.
Từ quan điểm đó, Đảng ta chủ trương tiếp tục xây dựng và ban hành những
chính sách nhằm "phát huy trí tuệ và năng lực, mở rộng thông tin, phát huy dân
lại ở việc nghiên cứu lịch sử
hình thành đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam thập kỷ
90, với các số liệu thiếu cập nhật và chính xác. Ngay các cơ quan quản lý nhà nước
cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về thực trạng trí thức KH&CN, phân tích sự
phân bố đội ngũ trí thức KH&CN theo ngành, theo lĩnh vực kinh tế - xã hội, theo
địa phương và vùng lãnh thổ; chưa đánh giá hiệu quả của các chính sách đào tạo và
sử dụng đội ngũ trí th
ức KH&CN, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị
trường. Điều đó đẫn đến còn thiếu cơ sở khoa học trong việc phân tích, đánh giá
thực trạng các chính sách hiện hành đối với đội ngũ trí thức KH&CN và tạo cơ sở
khoa học để xây dựng hệ thống chính sách phát triển đội ngũ trí thức KH&CN đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Vì vậy, phân tích sâu sắc, đ
ánh giá toàn diện và chính xác thực trạng đội
ngũ và chính sách đối với trí thức KH&CN, cũng như tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn trong và ngoài nước, hình thành hệ thống các quan điểm mới, tạo cơ sở để xây
dựng hệ thống chính sách hợp lý, có hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta là hết sức cần thiết. Do đó, việc nghiên cứu đề
tài:
"Đổi mới chính sách đối với trí thức khoa học và công nghệ trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
2.
Mục tiêu của đề tài:
- Phân tích và đánh giá thực trạng về chính sách đối với đội ngũ trí thức
KH&CN nước ta hiện nay (Chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ và các chính sách
khác).
- Đề xuất giải pháp về đổi mới chính sách đố
trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, cán bộ làm công tác khoa
giáo từ trung ương đến huyện trong cả nước, với t
ổng số phiếu của 5 loại phiếu là
trên 3.500 phiếu).
e. Khảo sát kinh nghiệm của Trung quốc và tài liệu của nhiều nước trên thế
giới về chính sách đối với trí thức (cán bộ KH&CN).
Nội dung báo cáo tổng hợp đề tài gồm các phần:
Phần mở đầu
I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách đối với trí thức KH&CN
II. Bối cảnh kinh tế-xã hội và thực trạng đội ng
ũ trí thức KH&CN của
nước ta hiện nay
III. Thực trạng các chính sách đối với trí thức KH&CN từ khi đổi mới
đến nay
IV. Đổi mới chính sách đối với đội ngũ trí thức KH&CN trong giai
đoạn mới
Kết luận và kiến nghị 5
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1. TRÍ THỨC, ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
Ngày nay, cách mạng KH&CN đang phát triển như vũ bão, tạo nên những
biến đổi sâu sắc và từng bước làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội. Ở nước ta, đội
ngũ trí thức nói chung và trí thức KH&CN nói riêng có vai trò là lực lượng xung
kích, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH. Vì vậy, để xây dựng và phát triển đội ngũ
trí thức KH&CN, hệ thống chính sách phát huy vai trò c
đựng nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ để đạt tới một nhận thức chung, thống nhất.
Hiểu đúng về trí thức và vai trò của trí thức trong đời sống xã hội mới có thể đề ra
chính sách và giải pháp đúng để xây dựng đội ngũ và tạo động lực cho họ phát triển.
Nói về trí thức có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu “trí thức là
một phạm trù l
ịch sử. Mỗi nước có các khái niệm khác nhau. Trong các thời đại
khác nhau chức năng của trí thức cũng khác nhau…Người ta có thể chia trí thức
thành kỹ sư và quan chức, thành nhà phản biện xã hội, nhà luân lý học, nhà hoạt
động chính trị, nhà cách mạng ”
(2)
Khái niệm trí thức là một phạm trù lịch sử, nên nội hàm của nó có thể thay
đổi cùng với sự phát triển của xã hội. Mỗi người, mỗi nước và mỗi thời kỳ, tùy theo
cách nhìn nhận của cá nhân, của dân tộc và của thời đại đó mà có cách hiểu riêng
về trí thức (người/nhà trí thức). Vì thế nội hàm của khái niệm trí thức/nhà trí thức
luôn thay đổi theo cả không gian và thời gian. (xem khung 1).
Khung 1. Các cách định nghĩa khái niệm trí thức khác nhau ở một số nước
1/ Từ điển Bách khoa Liên xô (1985 do Prokhorov chủ biên): Trí thức là tầng lớp
những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa.
2/ Từ điển bách khoa triết học (tiếng Nga 1983): trí thức là tầng lớp những người
làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát
triển và phổ biến văn hóa.
3/ Bách khoa toàn thư Pháp (tập X): Trí thức là một phạm trù lịch sử. Trong các
nước khác nhau khái niệm trí thức có khác nhau. Trong các thời đại khác nhau chức năng
của trí thức cũng khác nhau.… Người ta có thể chia trí thức thành kỹ sư và quan chức,
thành nhà phản biện xã hội, nhà luân lý học, nhà hoạt động chính trị, nhà cách mạng.
4/ Từ điển Wikipedia: Trí thức là người sử dụng trí tuệ để làm việc, nghiên cứu,
phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và trả lời các câu hỏi có liên quan về hàng loạt những ý
tưởng khác nhau.
5/ Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tri thức là gỉ?: Tri thức là hiểu biết. Trong thế giới
chỉ có hai thứ hiểu biết: một là sự hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do
ềm tin dựa trên hiểu biết với tinh thần phê phán và tự phê phán, không tin bất cứ
một cái gì mà không trải qua lao động nhận thức, phân tích khoa học, khảo duyệt
trong thực tiễn, qua những thực chứng và cả những sự trải nghiệm bản thân hoặc
lĩnh hội từ kinh nghiệm của cuộc sống. Do vậy, người trí thức chân chính phải là
người luôn trọng sự thật, chân lý và đạo lý, không nhận thức theo cảm tính, theo
tâm lý s
ố đông, không tin một cách dễ dãi, không tự lừa dối chính mình vì kém
hiểu biết, phù phiếm, sĩ diện, hư danh hoặc tệ hại hơn do xu thời và cơ hội chủ
nghĩa, tự đánh mất mình, tự tha hoá nhân cách.
Bởi vậy, bản chất của trí thức là gắn bó sự nghiệp lao động sáng tạo của
mình một cách tự nhiên, mật thiết với nhân dân và dân tộc. Cái gọi là “chuyên môn
thuần tuý”, sống cô độc trong tháp ngà, xa lánh cu
ộc đời, bất cần chính trị là điều
không thể và xa lạ với người trí thức chân chính. Trí thức do có trình độ hiểu biết
và đầu óc duy lý nên phải hiểu rõ xu thế vận động của lịch sử, nhạy cảm và mẫn
cảm với thời đại và thời cuộc mà mình đang sống.
Nói tới trí thức là nói tới nhu cầu về thông tin, giao tiếp và đối thoại văn hoá
gắn liề
n với môi trường xã hội - nhân văn, từ một cộng đồng nhỏ như một tập thể
lao động nghiên cứu, sáng tác, tư duy trừu tượng, biểu diễn, một hoạt động chuyên
môn hoá cao đến đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc, quốc tế và nhân loại. Với
trí thức, lao động không phải là gánh nặng mưu sinh, vì miếng cơm, manh áo của
8
tồn tại, mà là nhu cầu tự biểu hiện và tự khẳng định mình trong hoạt động sống.
Say mê, tận tuỵ và tâm huyết với công việc - thái độ lao động đó của người trí thức
là năng lực tự ý thức của họ về trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận đối với xã hội. Đó
là lòng tự trọng với mình và tôn trọng với người, với cuộc sống. Lườ
i biếng, cẩu
thả, vô trách nhiệm là xa lạ với hoạt động và phẩm giá của người trí thức. Nói đến
3
, trọng nhân nghĩa, sự thật và chân lý và là người hết lòng truyền
3
Đó là những người có trình độ đại học (có bằng) và những người có trình độ tương đương trình độ đại học
nhưng không có bằng, họ học từ thực tiễn cuộc sống. Trong thực tế, học vấn, học thức cao lại gắn với những trình
độ, cấp độ khác nhau. Con đường và phương thức đạt tới học vấn, học thức cao lại có thể qua đào tạ
o ở nhà trường,
là kết quả của một nền giáo dục nhất định nhưng cũng có thể chỉ bằng con đường tự học, không qua trường, lớp nào.
Những đối tượng thụ hưởng giáo dục ấy, khi đã thành sản phẩm, họ có trở thành trí thức hay không, đặc biệt là
9
bá những hiểu biết và sáng tạo của minh đem lại lợi ích cho xã hội. Hơn nữa họ
còn là người có năng lực làm chủ phương pháp, biết dùng phương pháp để mở
rộng và nâng cao hiểu biết và ở một trình độ cao hơn, đóng góp vào sự khám phá,
sáng tạo cái mới, những giá trị mới thúc đẩy sự phát triển nhận thức khoa học và
phát triển xã hội, mà tiêu biểu nhất là người làm công tác giả
ng dạy và nghiên cứu
(trong các cơ sở đào tạo đại học, trên đại học và các tổ chức nghiên cứu).
Đặc trưng nhận thức và hiểu biết khoa học của người trí thức không chỉ
thuần tuý nói về trình độ học vấn (cao hơn mặt bằng chung của xã hội - phổ cập),
mà trước hết, họ là đối tượng phát triển vượt trội về học vấn, về
năng lực trí tuệ.
Với trí thức chân chính, hiểu biết và niềm tin gắn liền với đạo đức, thế giới quan đi
liền với nhân sinh quan, xác định một thái độ sống, một lối sống tích cực, hướng tới
nhân dân, dân tộc và xã hội. Chất nhân văn của người trí thức là vị tha chứ không
vị kỷ, là khát vọng tự do sáng tạo để tự biểu hiện, tự khẳ
ng định mình như một
nhân cách, được đem hiểu biết và vốn học vấn, văn hoá của mình phụng sự xã hội
và nhân dân, không tính toán vụ lợi.
ng thật mà học giả”, tệ hại hơn
là “bằng giả mà như thật, mà được sử dụng thật” làm rối loạn kỷ cương, phép nước, làm tổn hại tới sự thật và đạo lý.
10
d. Chức năng tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với vai trò của người
trí thức.
4
Đó là những “thiên chức” mang tính khách quan, phổ biến của giới trí thức
nói chung ở mọi quốc gia, trong mọi thời đại.
1.1.2. Đội ngũ trí thức
Trong cơ cấu xã hội - giai cấp, đội ngũ trí thức là một tầng lớp xã hội, một
nhóm xã hội lớn, có thể coi như một tập hợp, một phân hệ của cơ cấu xã hội chỉnh
thể, đa dạng về nghề
nghiệp.
Tầng lớp trí thức có những biến đổi lịch sử qua mỗi hình thái xã hội, mỗi
thời đại và chế độ, gắn với một chính thể và các thể chế do giai cấp cầm quyền tạo
ra và chi phối. Trong lịch sử, giai cấp cầm quyền dùng ý thức hệ của giai cấp mình
để chi phối xã hội, biểu hiện thành ý thức hệ của xã hội. Sự chi phối tư tưở
ng này
ảnh hưởng trực tiếp tới trí thức và thế giới quan, nhân sinh quan, tới hoạt động
nghề nghiệp, thái độ và lối sống của trí thức.
Ở Việt Nam, các thế hệ trí thức nối tiếp nhau, đã đồng hành cùng nhân dân
và dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, cho công
cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trước
đây, nhân dân ta đã đánh thắng đế quốc, phong kiến, ngày nay nhân dân ta còn phải
đánh thắng nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiến
tới hiện đại hoá. Trí thức Việt Nam có trọng trách trong sự nghiệp vẻ vang đó là vì
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân. Tổ quốc - nhân dân - dân tộc - thời
đại và CNXH, là hệ giá trị và lý tưởng sống của người trí thức cách mạng hiện
n xuất vật chất của xã hội, nhưng lại rất nổi trội trong sở hữu trí
tuệ.
Trong tiến trình phát triển đất nước, đội ngũ trí thức có những đóng góp to
lớn cho sự phát triển KT-XH của đất nước. Để phát huy vai trò và khả năng của
người trí thức, cần quan tâm đến các nội dung:
- Xã hội cần tạo cơ hội cho người trí thức phát huy năng lực củ
a mình, lao
động sáng tạo có hiệu quả, trọng dụng sản phẩm lao động của họ một cách đúng
mức, Do vậy, cần có chính sách hợp lý để phát huy vai trò của trí thức.
- Đối với bản thân, người trí thức, trên cơ sở không ngừng tự bồi dưỡng nâng
cao năng lực của mình, cần mang hết khả năng và trí tuệ đáp ứng các yêu cầu, đòi
hỏi của xã hội, sáng tạo ra nhiều s
ản phẩm có giá trị phục vụ cho sự nghiệp phát
triển KT-XH.
Đội ngũ trí thức, bao hàm trí thức KH&CN, trí thức văn hoá - nghệ thuật đều
bị chi phối bởi các đặc điểm trên.
1.1.3. Sản phẩm của đội ngũ trí thức
Nghiên cứu những chính sách đối với đội ngũ trí thức không thể không tìm
hiểu về sản phẩm mà đội ngũ trí thức tạo ra, đó là tri thức (sự
hiểu biết).
Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế, sự hiểu biết - tri thức, là một loại hàng
hóa công không hoàn toàn. Nó có hai đặc điểm đặc trưng khác với các loại hàng
hóa truyền thống khác:
- Thứ nhất, một người sử dụng tri thức không thể ngăn cản được người khác
sử dụng cũng chính tri thức đó, nghĩa là tri thức là
một loại hàng hóa không
có tính chất loại trừ
. Nó không giống như
ổ bánh hay chiếc áo, những hàng
hóa này khi đã thuộc quyền sở hữu của một người thì người khác không còn
của người dân. Những cố gắng này đều kéo theo sự
gia tăng chi phí đầu tư cho việc
tạo ra tri thức hoặc nhập khẩu tri thức từ các nước đi trước. Đây chính là lý do các
cơ sở sản xuất kinh doanh trong các nước nghèo, vốn ít, có nhiều hạn chế đầu tư
cho nghiên cứu và triển khai để tạo mới hoặc tái tạo tri thức đã có ở các nước
khác. Để cải thiện điều kiện sản xuất của mình, các cơ s
ở này thường có xu hướng
chọn giải pháp khôn ngoan hơn, với chi phí ít tốn kém hơn, đó là giải pháp tiếp
nhận các tri thức đã được tạo ra từ các nước đi trước. Nhật bản và nhiều nước
công nghiệp mới là những điển hình cho sự lựa chọn này.
Một yếu tố có tác dụng lớn đối với việc phát triển nguồn vốn tri thức của mộ
t
đất nước là những thiết chế liên quan đến sự thúc đẩy việc làm tăng số lượng tri thức
trong kho tàng tri thức của đất nước, nguồn gốc để sản sinh ra của cải vật chất, là cội
rễ của việc tăng năng suất lao động, mở rộng, nâng cao sản lượng xã hội giúp cho sự
phát triển KT-XH bền vững và cũng là cơ sở để xoá đói giả
m nghèo. Đây là những
13
thiết chế tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu tri thức công nghệ của các nước
đi trước, cũng như các thiết chế khuyến khích động viên đội ngũ trí thức nghiên cứu
tiếp thu tích cực các tri thức nhập (tiếp thu có sáng tạo) và tạo ra tri thức mới. Những
thiết chế này, cơ bản được thể hiện dưới những hình thức, như: bằng sáng ch
ế, bản
quyền, giấy phép công nghệ và những hình thức khác của các quyền sở hữu trí tuệ.
Thiết chế này bao gồm cả những khoản lợi ưu đãi hợp lý nhằm mục đích tạo cho
những cá nhân, tổ chức, quốc gia "tích cực đổi mới" công nghệ có cơ hội, điều kiện
thu hồi những chi phí đã bỏ ra để nhập khẩu và thích nghi công nghệ hoặc chi phí tạ
o
ra tri thức mới. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành một tài sản quan trọng.
14
khoa học kỹ thuật-công nghệ, khoa học nông nghiệp, khoa học y-dược ) từ những
người chuyên nghiên cứu, giảng dạy, đến những người lao động chủ yếu bằng trí
óc để hoạt động lãnh đạo, quản lý, sản xuất-kinh doanh…trên các lĩnh vực của đời
sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Họ là đội ngũ tiếp thụ những thành tựu
KH&CN mới nhất trên thế giới c
ũng như trong nước, trên cơ sở đó hình thành
năng lực sáng tạo ra những sản phẩm mới và đóng góp ngày càng nhiều hơn cả về
lý thuyết cũng như công nghệ ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Trong đội ngũ trí thức KH&CN, các nhà khoa học, các nhà giáo có trình độ
cao, chuyên môn sâu thuộc hệ thống các viện nghiên cứu và các trường đại học, các
doanh nghiệp lớn giữ vai trò nòng cốt. Đội ngũ
này sáng tạo ra tri thức KH&CN;
họ sản xuất, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN vào cuộc sống và đóng vai trò
đặc biệt trong việc tạo ra sức sản xuất mới. Họ là lực lượng chủ yếu thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật ở trong hệ thống các cơ sở giáo dục và đ
ào tạo, trong các viện, các
trung tâm nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ
KH&CN, các cơ sở sản xuất-kinh doanh.
Khi nghiên cứu cấu thành đội ngũ trí thức KH&CN ở nước ta, cần phải lưu ý
tới tính đồng bộ và cân đối giữa trí thức khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ với
trí thức khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có đội ngũ các nhà nghiên cứu lý
luận chuyên nghi
ệp thuộc các cơ quan khoa học của Đảng và Nhà nước, các ngành,
các đoàn thể, các tổ chức xã hội. Trí thức không chỉ nghiên cứu, giảng dạy mà còn
truyền bá những tư tưởng, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước. Họ góp phần không nhỏ vào việc hình thành đường lối, chính sách, tổng kết
thực tiễn để phát triển lý luận, tham mưu, tư vấn cho các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo
n phong phú, đa dạng qua bốn nghìn năm lịch sử với nền giáo
dục phát triển sớm cùng với tiến trình phát triển của văn minh nhân loại
Nhiều nghiên cứu về xã hội học và y học cho thấy, người Việt Nam “có đủ
các tố chất thông minh, sáng tạo có khả năng trí tuệ phong phú, đa dạng, đủ sức
vươn tới những đỉnh cao của khoa học, của trí tuệ nhân loại”.
6
Ở mảnh đất địa linh
nhân kiệt, nền văn hoá Việt Nam là điểm hội tụ tinh hoa của các nền văn minh trên
thế giới, trí tuệ con người Việt Nam mang đậm triết lý nhân sinh và được phát huy
cao độ trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Dân tộc Việt Nam vốn có
truyền thống trọng đạo lý, lấy nhân, nghĩa, trung, hiếu làm chuẩn mực cho các hành
vi ứng xử của mình. Quá trình đấu tranh xây dựng và bả
o vệ Tổ quốc đã tạo nên
bản sắc về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, lối sống, đạo lý của người Việt Nam.
Có thể nói, nguồn lực trí tuệ Việt Nam có tiềm năng lớn, đa dạng, cần phải
chăm lo bồi dưỡng, khai lộ và cần được phát huy một cách đầy đủ trong quá trình
phát triển KT-XH ở nước ta.
1.2.2. Đặc điểm xã hội của trí thức
Trong cơ cấu xã hội - giai cấp, đội ngũ trí thức là một nhóm xã hội đặc thù,
đa dạng về nghề nghiệp.
6
Lê Nam Trà (chủ biên): Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Hà Nội, 1997, tr 320.
16
Tính đặc thù của đội ngũ trí thức thể hiện ở tầm trí tuệ, uy tín và sự tin cậy
của xã hội, thường nắm các cương vị lãnh đạo, phục vụ các giai cấp cơ bản trong
xã hội và gắn với lợi ích của các giai cấp đó, mà trước tiên là giai cấp nắm quyền
lãnh đạo. Thực tế chỉ ra rằng, mọi giai cấp thống trị khi cầm quyền đều phải sử
Qua rèn luyện và thử thách, những người ưu tú nhất trong tầng lớp trí thức đã trở
thành những chiến sĩ cộng sản, đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên” (1920) V.I.Lênin đã nh
ấn
mạnh, “Người ta có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình
17
bằng cách lĩnh hội, thâu thái toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại. CNCS được
phát sinh từ tổng số tri thức của nhân loại mà nếu không như vậy thì CNCS chỉ
đơn thuần là một nguyện vọng mà thôi”
7
. Cũng như vậy, không có sách thì không
có tri thức. Không có tri thức thì không có CNCS. Đủ thấy, sự phát triển của năng
lực trí tuệ, sức mạnh của khoa học quan trọng đến mức nào đối với sự giác ngộ về
CNCS và đối với sự nghiệp xây dựng CNCS. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã
khẳng định, CNXH cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận.
Đối với người trí th
ức giác ngộ cách mạng, CNXH và CNCS không chỉ là
vấn đề quan điểm chính trị, là giác ngộ sứ mệnh lịch sử của GCCN mà còn là hiểu
biết và niềm tin khoa học, là giác ngộ lý luận về xu thế tất yếu của sự phát triển
lịch sử.
Trong đội ngũ trí thức XHCN, thành phần xuất thân, nguồn gốc xã hội của
trí thức khá đa dạng; họ từ công nhân, nông dân, từ dân nghèo thành thị, từ giai c
ấp
tiểu tư sản, từ giai cấp tư sản và các tầng lớp khác. Với những trí thức có nguồn gốc
ở tầng lớp trên, họ đã từ bỏ địa vị giai cấp xuất thân của mình để tự nguyện phấn
đấu cho sự nghiệp cách mạng XHCN và CSCN. Bất luận thành phần xã hội ban
đầu của mình là gì nhưng khi đã đứng trong đội ngũ của Đảng hay phấn
đấu cho lý
tưởng của Đảng, trở thành trí thức XHCN, thì những người trí thức này đều mang
đó có nghĩa rằng, dù người trí
thức Việt Nam có xuất thân từ giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nào, dù đối tượng phục
vụ là thành phần kinh tế này hay thành phần kinh tế khác, thì bản chất xã hội của
đội ngũ trí thức nước ta là thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc trong lao
động sáng tạo của họ. Do sự diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, do sự khác
biệt nhiều m
ặt giữa các thành phần kinh tế ở nước ta, có thể có những biểu hiện
trung gian, bấp bênh mâu thuẫn ở người trí thức, song xu hướng vận động chính
trong lao động sáng tạo của trí thức là phải tìm ra những điều mới vì sự tiến bộ của
xã hội. Cho nên, cần huy động, khích lệ được tiềm năng trí tuệ và đạo đức của đội
ngũ trí thức Việt Nam ở tất cả
các thành phần kinh tế, xã hội đóng góp vào sự
nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.2.3. Đặc điểm về tôn giáo của trí thức
Trong lịch sử loài người, nghệ thuật, triết học, tôn giáo gần như xuất hiện
đồng thời. Theo đó, nghệ thuật ban đầu luôn là sự phản ánh những cảm xúc tôn
giáo và có vị trí trong cấu trúc tư tưởng tôn giáo. Các nội dung của tôn giáo là
nguồn cảm h
ứng cho những sáng tạo nghệ thuật. Và nghệ thuật, với những thuộc
tính tuyệt vời của nó lại lưu giữ, truyền tải và là hình thức biểu hiện các tư tưởng
tôn giáo. Khoa học và tôn giáo có mối quan hệ với nhau. Nếu xét đến cùng thì tôn
giáo là một cách giải thích thế giới, cho dù chỉ ở những góc độ nhất định của tư
tưởng, tâm lý xã hội. Bằng cách nhìn, góc nhìn, kiểu phán xét riêng, tôn giáo đã để
lại m
ột phương pháp xem xét, nhìn nhận, đánh giá về chính bản thân cuộc sống của
con người. Phong tục, tập quán – văn hóa hành xử của từng dân tộc tạo ra những
tác động đến tín ngưỡng, tôn giáo. Và, ngược lại, tín ngưỡng, tôn giáo cũng ảnh
hưởng đến phong tục, lối sống. Ví như: Phật giáo tác động mạnh đến lối sống từ bi
hỉ xả, tu nhân tích đức, tương thân tương ái…; Nho giáo tác động đến lối số