Điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Pdf 13


Uỷ ban dân tộc Báo cáo tổng hợp dự án điều tra, đánh giá thực trạng đội ngũ
trí thức ngời dân tộc thiểu số
trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cơ quan quản lý Dự án
: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện Dự án
: Trờng Cán bộ dân tộc
Chủ nhiệm Dự án
: TS. Trịnh Quang Cảnh
Th ký Dự án
: ThS. Nguyễn Văn Dũng

TS : Tiến sĩ
UBDT : Uỷ ban Dân tộc
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
WTO : World Trade Organization
(Tổ chứcThơng mại thế giới)

Mục lục

Trang

Mở đầu
1
Phần I: Một số vấn đề chung về Trí thức - Trí thức ngời DTTS
6
1. Một số khái niệm
6
2. Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế-xã hội đất nớc nói chung và vùng
DTTS nói riêng trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay
11

3. Vai trò của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số
16

Phần II: Thực trạng đội ngũ trí thức ngời DTTS hiện nay
23

Vấn đề thứ nhất: Thực trạng đội ngũ trí thức ngời DTTS ở 3 tỉnh
Lai Châu, Gia Lai, An Giang

23


97

A.
Định hớng cơ bản
97

Vấn đề thứ nhất: Quan điểm của Đảng và Nhà nớc về sự phát triển đội ngũ
trí thức ngời DTTS trong cách mạng Việt Nam
97

Vấn đề thứ hai: Quan điểm Nghị quyết Đại hội X về trí thức và hớng phát
triển vùng dân tộc và miền núi.
113

B.
Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức ngời DTTS trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH vùng núi, vùng DTTS
115

Vấn đề thứ nhất: Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức cho 3 vùng: Tây Bắc,
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
115 Vấn đề thứ hai: Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số trong
thời kỳ CNH, HĐH

dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm rõ cơ sở khoa học của việc lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng của Đảng ta. Từ đó, góp
phần hoạch định chủ trơng phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu
số góp phần to lớn thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nớc, địa phơng phù hợp
từng dân tộc. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh
của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số. Trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội X của
Đảng chỉ rõ: Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ
tạo bớc đột phá về chất lợng, hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền
kinh tế Chú trọng công tác đào tạo và bổ sung cơ chế, chính sách sử dụng, đãi
ngộ cán bộ khoa học và trọng dụng nhân tài [1].
Thực tiễn công cuộc đổi mới đang đặt ra cho đội ngũ trí thức ngời dân tộc
thiểu số những nhiệm vụ lớn lao cần giải quyết. Trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số (DTTS) đang đặt
ra những đòi hỏi có tính bức thiết. Từ thực trạng đội ngũ trí thức ngời dân tộc
thiểu số còn thiếu về số lợng, yếu về chất lợng, cơ cấu ch
a hợp lý. Do vậy, đội
ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số cần phải đợc nghiên cứu, xây dựng thành đội
ngũ lớn mạnh, có đủ lực lợng đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong thời kỳ mới.
II. Mục tiêu của Dự án
- Trên cơ sở đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức ngời dân
tộc thiểu số tại 3 tỉnh Lai Châu, Gia Lai, An Giang ở nớc ta hiện nay để đa ra
đánh giá chung về số lợng, chất lợng đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số. 1. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb.CTQG, 2006, Tr.210-211. 2
- Xác định nguyên nhân, từ đó làm cơ sở để đề xuất một số định hớng và

V. Nội dung của điều tra (3 nội dung)
Phần I: Một số vấn đề chung về Trí thức - Trí thức ngời dân tộc thiểu số
1. Một số khái niệm
2. Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế - xã hội đất nớc nói chung và vùng dân
tộc thiểu số nói riêng trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay.
3. Vai trò của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số

3
Phần II: Thực trạng đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số hiện nay
Vấn đề thứ nhất: Thực trạng đội ngũ trí thức ngời DTTS ở ba tỉnh:
Lai Châu, Gia Lai, An Giang

1. Thực trạng đội ngũ trí thức ngời DTTS tỉnh Lai Châu trong thời kỳ CNH, HĐH
2. Thực trạng đội ngũ trí thức ngời DTTS tỉnh Gia Lai trong thời kỳ CNH, HĐH
3. Thực trạng đội ngũ trí thức ngời DTTS tỉnh An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH
Vấn đề thứ hai: Thực trạng đội ngũ trí thức ngời dân tộc
thiểu số trong cả nớc
1. Thực trạng về số lợng và đánh giá số lợng đội ngũ trí thức ngời DTTS
2. Thực trạng về chất lợng và đánh giá chất lợng trí thức ngời dân tộc thiểu số
3. Thực trạng về điều kiện sống, điều kiện làm việc và nguyện vọng của đội ngũ trí
thức ngời dân tộc thiểu số
4. Thực trạng về cơ cấu, phân bố đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số
5. Thực trạng về công tác đào tạo, quản lý đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số
6. Vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu
số trong sự nghiệp CNH, HĐH
- Vấn đề đặt ra.
- Xu thế vận động, phát triển của đội ngũ trí thức ngời DTTS trong thời kỳ
CNH, HĐH.
- Yêu cầu phát triển của đội ngũ trí thức ngời DTTS trong thời kỳ đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Giải pháp Đảng, Nhà nớc có chính sách đặc biệt nhằm phát triển kinh tế -
xã hội và chăm lo công tác đào tào, bồi dỡng trí thức ngời DTTS ở vùng DTTS
có số dân dới 10.000 ngời nh: Xinh mun, Churu, Lahủ, Pàthẻn, Cống, Brâu, Pu
péo, Rơ măm, Si La, Lự giai đoạn 2010 - 2020.
- Giải pháp Tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức ngời DTTS;
Đồng thời, đổi mới về phong cách lãnh đạo và đánh giá cán bộ trong hệ thống
chính trị

Kết luận

VI. Thời gian thực hiện dự án: Năm 2008
VII. Thành viên tham gia thực hiện dự án

TT Họ và tên Đơn vị công tác Phân công
1 TS. Trịnh Quang Cảnh Trởng Khoa Lý luận cơ bản,
Trờng Cán bộ dân tộc
Chủ nhiệm
Dự án
2 PGS. TS. Lê Ngọc Thắng CVC. Viện Dân tộc, UBDT Thành viên
3 Th.S. Nguyễn Xuân Khuê Trởng Khoa Kiến thức bổ trợ
Trờng Cán bộ dân tộc
Thành viên
4 Th.S. Nguyễn Văn Dũng Trởng Phòng TC-HC-QT,
Trờng Cán bộ dân tộc
Th ký
Dự án
5 CN. Nguyễn Hồng Hải Khoa Lý luận cơ bản,
Trờng Cán bộ dân tộc
Thành viên


19 CN. Nguyễn Văn Kiểm Phòng Thông tin Th viện
Trờng cán bộ dân tộc
Thành viên 6
Nội dung

Phần 1: Một số vấn đề chung về trí thức - trí thức dân tộc thiểu số
1. Một số khái niệm
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang tác động mạnh
mẽ đến đời sống xã hội của mọi quốc gia trên thế giới. Sự phát triển nhanh
chóng của khoa học công nghệ và việc ứng dụng có hiệu quả những thành
tựu của nó vào phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội có ý nghĩa to lớn đối với
mỗi quốc gia dân tộc. Trí tuệ đã trở thành một trong những nguồn lực quan
trọng của sự phát triển. Điều đó cũng đồng thời khẳng định vai trò to lớn
của tầng lớp trí thức nói chung và trí thức ngời dân tộc thiểu số nói riêng,
đối với tiến trình phát triển của các quốc gia và của từng các dân tộc.
Để hiểu rõ đội ngũ trí thức, trí thức ngời dân tộc thiểu số trớc hết ta
cần tìm hiểu khái niệm.
1.1. Trí thức
Khái niệm "trí thức" đợc dùng ở nhiều nớc trên thế giới và có nguồn
gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia (Intelligentia - nghĩa là thông minh, hiểu
biết, có suy nghĩ). Khái niệm này trở nên thông dụng từ những năm nửa sau
của thế kỷ XIX, để chỉ những ngời có học thức, học vấn cao.
Trong luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực
lao động sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, giáo s Phạm Tất Dong đã
nêu rằng: Trong từng giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia các nhà khoa học
thờng đa ra những định nghĩa trí thức khác nhau. Hiện nay ngời ta đã
thống kê có trên 60 định nghĩa trí thức.

lợng trí thức luôn là lực lợng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức
Trí thức là ngời lao động trí óc, nhng không phải là ngời lao động
trí óc nào cũng là trí thức. Bởi vì lao động trí óc bao hàm cả những ngời
lao động trí óc từ mức đơn giản đến phức tạp. Những ngời lao động trí óc
giản đơn mang tính thừa hành, thì không thể coi là trí thức đợc. Chỉ những
ngời lao động trí óc phức tạp có một trình độ học vấn chuyên môn ở mức
độ cần thiết cho lĩnh vực lao động ấy mới trở thành trí thức.
Trong tổng quan kết quả nghiên cứu đề tài Phát huy nguồn lực chất
xám phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá thủ đô, TS. Lu Minh Trị và
PGS.TS. Phan Thanh Khôi có nêu: "ở nớc ta và nhiều nớc khác, việc xác
định mặt bằng cấp ấy của trí thức là đợc đào tạo từ bậc cao đẳng và đại học
trở lên". [3]. Trong thời hiện đại, ngời trí thức phải có trình độ học vấn ít
nhất từ bậc cao đẳng trở lên song bằng cấp chỉ là một dấu hiệu. Trong thực
tế có những ngời có trình độ học vấn cao nhng không đóng vai trò là
ngời trí thức vì họ đi vào hớng lao động của nhóm xã hội khác hoặc cha
vơn tới mức độ lao động sáng tạo của trí thức. Ngợc lại, cũng có ng
ời do
điều kiện này, khác, ít, hoặc không đợc đào tạo quy củ đến nơi, đến chốn
nhng thông minh có chí tiến thủ, đã tự học hỏi qua sách vở, thực tiễn mà
có đợc học vấn cao, tiếp cận đợc kiểu lao động trí tuệ phức tạp của trí
thức. Nhng nói chung, đối với điều kiện hiện tại đội ngũ trí thức phải đợc
đào tạo chính quy, hơn nữa thờng xuyên phải đợc nâng cao trình độ, thậm
chí phải đào tạo lại. Vấn đề chủ yếu làm cho trí thức khác với bộ phận lao
động xã hội khác là ở kiểu lao động của họ. Tất nhiên trong hoạt động lao
động trí óc của ngời trí thức phải có một điều kiện nữa có ý nghĩa quyết
định là lao động sáng tạo khoa học. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để
nhận diện trí thức.
Trong quá trình sản xuất, truyền bá và ứng dụng những tri thức khoa
học trên cơ sở lao động sáng tạo, trí thức phải đa ra những nội dung khoa
học mới tiến bộ, hữu ích truyền đạt nó trong xã hội và ứng dụng vào thực

u, bao gồm cả
việc xác định không gian, thời gian để hoàn thành nhiệm vụ đợc giao.
Vai trò của các giai cấp trong sản xuất xã hội còn tuỳ thuộc vào mối
quan hệ của các giai cấp đó đối với t liệu sản xuất. Do đó, trí thức không
có quan hệ riêng và trực tiếp với t liệu sản xuất. Vậy nên, trí thức không
phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội. Tuy vậy, tầng lớp này không
phải "siêu giai cấp hay "đứng trên giai cấp", "trọng tài giai cấp". Khi nghiên
cứu vị trí của trí thức Lênin chỉ rõ: "Nếu không nhập cục với một giai cấp
thì giới trí thức chỉ là một con số không" [4]. Cho nên, tầng lớp trí thức có
khuynh hớng giai cấp. Lênin viết: "Sở dĩ trí thức đợc gọi là Trí thức,
chính vì nó phản ánh và thể hiện sự phát triển của các lợi ích giai cấp và của
các nhóm phái chính trị trong toàn xã hội một cách có ý thức hơn cả, kiên
quyết hơn cả và chính xác hơn cả" [5].
Trong cách mạng vô sản và trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội, giai cấp công nhân nhất định phải xây dựng cho mình một tầng lớp trí 4. Lênin V.I (1975) Toàn tập, tập 6, NXB.M. Trang 300.
5. Lênin V.I (1974) Toàn tập, tập 1, NXB.M. Trang 416.

9
thức mới, bằng cách cải tạo, sử dụng trí thức cũ và đào tạo trí thức mới từ
con em nhân dân lao động. Tầng lớp trí thức mới ngày càng đông đảo, có
thế giới quan vô sản có kiến thức khoa học kỹ thuật chuyên môn cần thiết,
có phẩm chất đạo đức cách mạng và môi trờng thuận lợi phát huy tài năng
trong lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc XHCN.
Nói chung, qua nhiều định nghĩa về trí thức đều nhận thấy một đặc
trng cơ bản sau đây: Một tầng lớp xã hội, lao động trí óc phức tạp, có học
vấn cao; thực hiện lao động sáng tạo, phổ biến và vận dụng tri thức khoa
học vào đời sống xã hội.


6. Hồ Chí Minh: Vấn đề, học tập, NXB ST HN 1997, tr 39 .
7. Hồ Chí Minh : Về vấn đề trí thức cách mạng , NXB Sự thật, HN 1996, tr 395.

10
nghiên cứu trí thức ngời dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Trí thức ngời dân tộc thiểu số
Xuất phát từ định nghĩa trí thức Nghị quyết Trung ơng bảy - Đại hội
X của Đảng Cộng sản Việt Nam cố nhiên để nhận diện trí thức ngời DTTS
phải vận dụng những tiêu chí chung đã nêu ở trên một cách có tính lịch sử -
cụ thể chúng ta có thể đa ra khái niệm trí thức ngời dân tộc thiểu số:
Khái niệm trí thức ngời DTTS:
Trí thức ngời DTTS trớc hết phải là ngời của 53 DTTS; là những
ngời lao động trí óc, có năng lực t duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và
làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị đối
với xã hội vùng DTTS. Đồng thời, là những ngời tốt nghiệp từ cao đẳng trở
lên có thể đợc xem là những tiêu chí để xác định là trí thức ngời DTTS.
Song ở một điều kiện nhất định nào đó (mặc dù cha đạt chuẩn có bằng cao
đẳng trở lên). Có những Già Làng, Trởng Bản, Thầy Mo, Thầy Thuốc, Thầy
S và một số ngời có hiểu biết cao ở một số DTTS có khả năng lao động
sáng tạo có năng lực t duy độc lập, ảnh hởng lớn đến một vùng đồng bào
DTTS thì cũng có thể coi đó là một trong những tiêu chí để nhận diện trí
thức ngời DTTS của dân tộc ấy.
Đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số đợc Đảng, Nhà nớc ta chăm
lo, xây dựng từng bớc căn cứ vào nhu cầu và trình độ phát triển của từng
dân tộc và của cả nớc. Họ là những ngời có phẩm chất đạo đức, hoạt động
nghiên cứu khoa học và vận dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực phát
triển kinh tế xã hội vùng núi, vùng dân tộc ít ngời. Trí thức là những kỹ s,
bác sĩ, giáo viên, nhà báo, những cán bộ khoa học kỹ thuật từ cao đẳng trở
lên hoạt động trong lĩnh vực lao động sáng tạo. Họ vận dụng những hệ

Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Châu á. Điều kiện địa
lý tự nhiên có đờng bờ biển dài, địa hình 3/4 diện tích đất liền là núi và cao
nguyên, khí hậu nhiệt đới gió mùa khá thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành
kinh tế cũng nh hình thành nhiều nét văn hoá đặc sắc, phong phú và mang đậm
bản sắc Việt Nam.
Lịch sử phát triển của đất nớc Việt Nam đã minh chứng cho sự tồn tại, phát
triển của đặc trng kinh tế nông nghiệp lúa nớc là chủ yếu cũng nh của truyền
thống văn hoá - xã hội phơng Đông. ở mỗi thời kỳ lịch sử, sự phát triển kinh tế -
xã hội và văn hoá có những đặc trng riêng và có những bớc tiến triển nhất định.
Sau thắng lợi ở hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, đất
nớc Việt Nam lại phải đối mặt với khó khăn trong nớc có dấu hiệu của một cuộc
khủng hoảng toàn diện cả về kinh tế - xã hội lẫn mô hình vận động phát triển, sự
bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch trong và ngoài nớc.
Trớc bối cảnh đó, Đảng ta tỏ rõ đ
ợc bản lĩnh và vai trò lãnh đạo của mình,
khởi xớng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Sự nghiệp đổi mới hơn hai mơi năm
qua với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới
ở nớc ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử: Đất nớc đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng
trởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân đang đợc
cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đợc củng cố
và tăng cờng. Chính trị - xã hội ổn định [8]
Về kinh tế
Công cuộc đổi mới của Việt Nam đợc tiến hành trên tất cả các lĩnh vực của 8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội X, NXB CTQG HN 2006, tr 15.
- Nền kinh tế có sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành, cụ thể là chuyển dịch cơ
cấu từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ gắn liền với quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự chuyển dịch này thể hiện rõ thông qua sự
thay đổi của cơ cấu tổng sản phẩm trong nớc (GDP). Tỷ trọng của nông - lâm -
ng nghiệp tăng dần đến năm 1988 sau đó giảm dần. Tỷ trọng công nghiệp giảm
cho đến năm 1990 do những xáo trộn trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu và hiện
nay đang tăng dần. Khu vực dịch vụ tăng khá nhanh, từ năm 1992 đã vợt tỷ trọng
của khu vực nông-lâm-ng nghiệp. Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành
kinh tế biểu hiện ở quá trình phát triển của công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ,
công nghiệp thực phẩm
- Nền kinh tế có sự chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ tơng ứng với sự 9 . Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội X, NXB CTQG HN 2006, tr 185.

13
chuyển dịch cơ cấu ngành. Hiện nay, đang phát triển vùng nông nghiệp sản xuất
hàng hoá, khu vực công nghiệp tập trung, khu chế xuất Nớc ta đã hình thành 3
vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc, Trung, Nam. Đây cũng chính là những vùng
trọng điểm đầu t, đợc u tiên phát triển, có tầm quan trọng chiến lợc nhằm đạt
đợc hiệu quả cao về kinh tế - xã hội.
- Cơ cấu lao động đã có những chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng
trong tổng số lao động xã hội tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao
động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3% Tỷ trọng lao động đã qua
đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005 và lên 29% năm 2010.
- Cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hớng phát huy tiềm năng của
các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu.
- Vốn đầu t toàn xã hội tăng lên nhanh, gồm cả vốn đầu t nớc ngoài và
vốn trong nớc tập trung cho những mục tiêu: kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng,

tởng, phổ biến pháp luật. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá, gia đình văn hoá
phát triển sâu rộng. Hoạt động thể dục thể thao tiếp tục phát triển. Việc chăm sóc
ngời có công với cách mạng đợc duy trì và mở rộng. Công tác phòng chống tệ
nạn xã hội đợc đẩy mạnh và có hiệu quả.
Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đã có nhiều
thay đổi quan trọng. Hệ thống trờng tiểu học và trung học cơ sở thành lập đến tận
các xã, phờng. Đổi mới trong giáo dục đợc triển khai từ giáo dục mầm non đến
giáo dục đại học. Giáo dục dân lập, bán công đợc thành lập. Hiện nay, cả nớc đã
xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Quy mô giáo dục tiếp tục đợc mở rộng,
trình độ dân trí đợc nâng lên rõ rệt. Đầu t cho giáo dục và đào tạo tăng lên đáng
kể, đặc biệt là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (năm 2005, chi cho giáo
dục và đào tạo chiếm 18% tổng chi ngân sách).
Khoa học và công nghệ đã chuyển sang tập trung nghiên cứu ứng dụng phục
vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội: cung cấp t liệu, luận cứ khoa học phục vụ
hoạch định chủ trơng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phát huy các giá trị
văn hoá dân tộc; tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ có chất lợng, có sức cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trờng.
2.2. Đặc điểm tình hình phát triển kinh tế-x hội vùng núi, vùng DTTS hiện nay
Vùng núi, vùng dân tộc thiểu số chiếm một diện tích lớn (3/4 diện tích cả
nớc) trải rộng trên lãnh thổ 37 tỉnh trong đó có 14 tỉnh hoàn toàn thuộc miền núi.
Có diện tích tự nhiên 23 nghìn km
2
, chiếm 75% đất đai cả nớc, có dân số 24 triệu
ngời, chiếm 30% dân số chung của cả nớc. Có gần 4 nghìn km đờng biên giới
với các nớc Trung Quốc, Lào, Campuchia; là địa bàn trọng yếu về chính trị,
kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hoá - xã hội của nớc ta.
Những đặc điểm chủ yếu:
+ Vùng núi, vùng dân tộc thiểu số là nơi có địa hình phức tạp, chia cắt bởi
các dãy núi và sông suối; ngay trong một không gian không lớn, địa hình cao thấp
cũng rất khác nhau; do địa hình, điều kiện tự nhiên nh vậy hình thành nên nhiều

vùng núi, vùng dân tộc thiểu số trên cả nớc đã giảm mạnh từ 55% năm 1998
xuống còn dới 20% năm 2008. Các ngành nghề truyền thống của các dân tộc
đợc khôi phục. Một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và du
lịch văn hoá đang có xu hớng phát triển ở các vùng núi, vùng dân tộc thiểu số.
+ Sự nghiệp phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực
cho các dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi. Hệ thống trờng học đã cơ bản hoàn
thành, phần lớn các xã và trung tâm cụm xã đã có trờng tiểu học, trung học cơ sở,
các huyện có tr
ờng trung học phổ thông. Hệ thống trờng Dân tộc nội trú của các
tỉnh u tiên nuôi dạy, tạo nguồn cán bộ cho các dân tộc thiểu số ở địa phơng.
+ Mạng lới y tế chăm sóc và nâng cao chất lợng sức khoẻ cộng đồng, chất
lợng dân số vùng núi, vùng DTTS đợc củng cố và phát triển. Hiện nay, tất cả các
huyện có trung tâm y tế, hơn 95% các xã có trạm y tế, các hộ nghèo đợc cấp thẻ
bảo hiểm y tế, chơng trình tiêm chủng mở rộng đợc thực hiện rộng khắp
+ Văn hoá các dân tộc đợc giữ gìn và phát huy trong chiến lợc xây dựng
và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng bào các
dân tộc tích cực hởng ứng các phong trào, cuộc vận động nh: Ngày văn hoá các
dân tộc, Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá góp phần gìn giữ, làm giàu thêm các
giá trị cao đẹp của văn hoá các dân tộc.
Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá đợc củng cố về tổ chức, số lợng và
chất lợng. Hơn 85% các địa phơng vùng núi, vùng dân tộc thiểu số đợc phủ
sóng phát thanh và truyền hình. Các tỉnh, huyện có chơng trình phát thanh, truyền
hình, báo chí, các ấn phẩm phổ biến chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc

16
bằng tiếng dân tộc. Giao lu văn hoá giữa các dân tộc đợc tăng cờng để hiểu biết
lẫn nhau. Các hình thức sinh hoạt văn hoá, di sản văn hoá của các dân tộc đợc tôn
vinh, đợc công nhận là di sản văn hoá thế giới: Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn;
Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên
Duy trì nền văn hoá các dân tộc, bảo đảm tiếng nói, chữ viết dân tộc song

Ba là; Trí thức ngời DTTS hiểu biết truyền thống văn hoá dân tộc mình
đồng thời hiểu biết truyền thống văn hoá Việt Nam.
3. Vai trò của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số
Đất nớc ta đã bớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Là nớc đi sau lại muốn rút ngắn khoảng cách phát triển thì phải tăng tốc. Nhng
điều kiện tăng tốc là gì? Thế giới đã tổng kết và thấy rằng thứ nhiên liệu dùng để

17
tăng tốc là trí tuệ. Thiếu tài nguyên trí tuệ chúng ta sẽ không có sự phát triển
trong thời đại ngày nay. Nhng tài nguyên đó lại nằm trong mỗi con ngời, mà
đặc biệt là nằm trong tầng lớp trí thức. Cuộc chạy đua vào thế kỷ XXI đang ở vòng
đua giáo dục - vòng đua nâng cao dân trí, làm phong phú tài nguyên trí tuệ và hình
thành đội ngũ nhân tài. Những nớc phát triển muộn đều ráng sức tạo ra kho
tàng trí tuệ của mình. Còn những nớc đã bứt lên hàng đầu cuộc đua cũng hiểu
rằng chỉ có trí tuệ mới giữ đợc lợi thế trong cuộc cạnh tranh.
Mấy trăm năm trớc ở nớc ta, Lê Quý Đôn đã có sự tổng kết tài tình: Phi
công bất phú, phi thơng bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hng. Sự hng
thịnh của quốc gia phụ thuộc rất lớn vào thái độ của tầng lớp trí thức đối với thể
chế xã hội và con đờng phát triển của quốc gia đã đợc vạch ra. Ông cha ta đã
hiểu rõ điều này, từ đó hình thành nên truyền thống tôn s trọng đạo, chiêu hiền
đãi sĩ, trọng dụng nhân tài. Bia đá Quốc Tử Giám ghi rằng: Các bậc hiền nhân tài
giỏi là yếu tố cốt tử đối với một chính thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nớc tăng
tiến mạnh mẽ và phồn vinh. Khi yếu tố này yếu kém thì quyền lực đất nớc bị suy
giảm Những ngời tài giỏi là một sức mạnh đặc biệt quan trọng đối với đất nớc.
Đảng ta khẳng định vai trò của trí thức ngày càng quan trọng, bởi vì: Trí
tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia . Cuộc đấu tranh giành độc lập,
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không thể thiếu sự tham gia của lực lợng trí thức. T
tởng đó tập trung ở chính sách của Đảng đối với trí thức công bố ngày 21-10-
1957: Trí thức là vốn quý của dân tộc, không có trí thức hợp tác với công - nông
thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây đựng đất nớc Việt Nam

thời đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ
trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng-an
ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của đất nớc. Coi trọng nghiên
cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhập từ bên ngoài, tiến tới sáng tạo
ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của
đất nớc trong thế kỷ XXI.
Trong hoàn cảnh mới, chúng ta phải nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng
phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của nớc nhà; đào tạo, bồi dỡng sử dụng
đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong hoàn cảnh ấy đòi hỏi chúng ta
phải kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cờng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trong bớc hình
thành nền khoa học công nghệ hiện đại của Việt Nam, có khả năng giải quyết các vấn
đề lớn, vấn đề then chốt nảy sinh trong qúa trình. Đó là trách nhiệm lớn lao, nặng nề
của đội ngũ trí thức Việt Nam trong đó có đội ngũ trí thức ngời DTTS. Sự hiện diện
của đội ngũ trí thức ngời DTTS đã góp phần hoàn chỉnh bức tranh cơ cấu tầng lớp trí
thức Việt Nam trong bức tranh toàn diện về cơ cấu xã hội, dân tộc ở nớc ta.
Cho đến nay, đội ngũ trí thức Việt Nam có trên 1.477.752 ngời (cao đẳng,
đại học và sau đại học) và hơn 40.000 trí thức Việt kiều sống ở nớc ngoài trong
đó trí thức ngời DTTS có trên 176 ngời có trình độ trên đại học và hơn 13.000
ng
ời có trình độ đại học, cao đẳng và 78.000 ngời trình độ trung học chuyên
nghiệp (tỷ lệ quá ít, so với trí thức cả nớc chỉ khoảng 6,16 %). Số lợng trí thức
ngời dân tộc thiểu số phân bố không đều ngay ở các DTTS, có 5 dân tộc có số
lợng trí thức từ 1.500 đến 10.000 ngời nh (Tày, Mờng, Hoa, Nùng, Thái), 9
dân tộc có số lợng trí thức từ 150 đến 500 ngời (nh Khơme, Dao, Êđê, Sán Dìu,
Sán Chay, HMông, Thổ) và hơn 20 dân tộc chỉ có vài chục ngời trí thức, có 10
dân tộc cha có con em tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.
Nếu chúng ta đem so sánh trí thức ngời dân tộc thiểu số với trí thức ngời
Kinh thì số lợng trí thức ngời dân tộc thiểu số ít ỏi, song nh trên đã nói, sự hiện
diện của đội ngũ trí thức ngời DTTS góp phần hoàn chỉnh bức tranh về tầng lớp
trí thức, thể hiện dới dạng thu nhỏ bức tranh về thành phần dân tộc của nớc ta.

Việc huy động chất xám cho sự phát triển có tầm quan trọng đặc biệt và với t

cách là nguồn lực phát triển thì trí thức ngời DTTS là lực lợng trực tiếp tham gia
lao động sáng tạo trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội vùng núi, vùng DTTS.
Hai là; Trong công cuộc đổi mới, đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số là
chủ thể của cách mạng khoa học - công nghệ ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số.
Trí thức ngời dân tộc thiểu số có trách nhiệm chủ yếu trong việc nghiên
cứu khoa học kỹ thuật, nghiên cứu khoa học về phân công lao động xã hội. Những
thành tựu mới của nghiên cứu khoa học của trí thức ngời dân tộc thiểu số đợc
kết tinh ở những sản phẩm nh: Các kế hoạch, dự án, phơng án và ở mức độ
khác là những phát minh, sáng chế, sáng kiến, giải pháp hữu ích nhằm phát triển
kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số.
Khi bàn về lao động của trí thức, Lênin chỉ ra rằng phơng thức lao động
của trí thức là lao động trí tuệ, cá nhân, sản phẩm lao động trực tiếp của học là
những trí thức khoa học sáng tạo. Lênin cũng chỉ cho chúng ta thấy lao động sáng
tạo của trí thức khác biệt so với lao động chân tay hoặc lao động trí óc giản đơn.

20
Ngời trí thức phải sáng tạo, tìm tòi tổng kết thực tiễn, tiếp cận chân lý. Do vậy,
thành tựu nghiên cứu khoa học của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số giúp
Đảng, Nhà nớc hoạch định những chủ trơng, chính sách sát hợp với thực tiễn
ngay trên mảnh đất quê hơng họ.
Trong thời đại ngày nay khoa học và kỹ thuật càng gắn kết với nhau. Khoa
học không tách rời kỹ thuật, khoa học đi trớc dẫn đờng làm cơ sở cho kỹ thuật.
Khoa học kỹ thuật rất cần thiết cho vùng núi, vùng dân tộc thiểu số nới mà kinh tế
còn kém phát triển. Hoạt động khoa học của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu
số không chỉ làm thay đổi căn bản sản xuất truyền thống không chỉ làm thay đổi
căn bản hệ thống sản xuất truyền thống mà còn làm xuất hiện những ngành sản
xuất mới do những yêu cầu của đời sống xã hội đặt ra. Thực tiễn công cuộc đổi
mới đòi hỏi hoạt động khoa học của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số không

21
vụ. Nâng cao dân trí vùng đồng bào dân tộc thiểu số là thực hiện trí tuệ hoá lao
động; khi sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ đã làm cho
lao động trí óc và lao động chân tay xích lại gần nhau cả về nội dung và tính chất,
phơng pháp lao động. Do đó, Đảng, Nhà nớc ta coi giáo dục là động lực quan
trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội và việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dỡng nhân tài, đầu t tập trung vào con ngời là một đặc trng quan trọng
nhất của cách mạng khoa học - công nghệ mới.
ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, việc trí tuệ hoá lao động và nâng cao dân
trí đòi hỏi phải phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số và điều
đó liên quan chặt chẽ đến việc xây dựng đội ngũ trí thức ngời dân tộc thiểu số,
liên quan đến hiệu quả lao động sáng tạo của họ. Ngợc lại, chỉ có trên mặt bằng
dân trí nhất định mới có đủ điều kiện truyền bá tri thức, phát hiện năng khiếu, bồi
dỡng nhân tài, mới có thể tạo ra xu hớng phát triển tốt của đội ngũ trí thức ngời
dân tộc thiểu số sau này.
Nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số là nhằm mục đích trí
tuệ hoá lao động, làm cho sản phẩm lao động tăng lên dồi dào. Ngày nay, kinh tế
tri thức lại càng đòi hỏi trí tuệ hoá lao động. Hàm lợng chất xám kết tinh trong
mỗi sản phẩm vật chất tăng lên không ngừng. Qua đó, sản phẩm của xã hội đa
dạng hơn và chất lợng cao hơn, đồng thời chất lợng cuộc sống các dân tộc đợc
nâng lên không ngừng và sẽ rút dần đợc khoảng cách giữa vùng núi và vùng đồng
bằng. Chính điều đó đảm bảo cho sự thực hiện quan điểm nhất quán của Đảng và
Nhà nớc ta là bình đẳng - đoàn kết - tơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ đa
về miền núi tiến kịp miền xuôi.
Bốn là, Trí thức ngời DTTS có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền
văn hoá của các dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn hoá Việt Nam nói chung.
Dân tộc nào cũng có nền văn hoá riêng, bởi lẽ văn hoá là nền tảng tinh thần
của xã hội. Trớc hết, trí thức ng
ời dân tộc thiểu số góp phần duy trì và phát triển
nền văn hoá dân tộc thiểu số. Qua các tác phẩm nghệ thuật của mình, các văn nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status