ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
DƯƠNG HOÀNG LIÊN HƯƠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH LẠNG SƠN
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
2.2. Xu hướng phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng
Sơn 68
2.2.1. Trong những năm tới, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của
tỉnh Lạng Sơn sẽ tăng về số lượng và chất lượng 68
2.2.2. Xuất phát từ tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, đội ngũ trí thức người
dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực liên quan đến thương mại, du
lịch và dịch vụ có xu hướng tăng nhanh 70
2.2.3. Xu hướng biến động về sự phân bố của đội ngũ trí thức người dân tộc
thiểu số tỉnh Lạng Sơn 72
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở LẠNG SƠN THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 74
3.1. Những quan điểm cơ bản 74
3.1.1. Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số phải đảm bảo
nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến
bộ 74
3.1.2. Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số phải được coi là
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh 75
3.1.3. Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số phải trên cơ sở
củng cố vững chắc khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng 77
3.1.4 .Phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh vừa phải
đặt trong tổng thể chính sách phát triển đội ngũ trí thức, vừa coi
trọng tính đặc thù của đội ngũ này 77
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc
thiểu số ở Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 80
3.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải phát triển
đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số của tỉnh và giáo dục lý
tưởng, đạo đức cách mạng cho đội ngũ này 80
Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Đảng ta coi phát triển nhanh nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từ nay đến năm 2015. Đảng
ta khẳng định: “Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp
ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong
hoạt động nghiên cứu sáng tạo. Trọng dụng trí thức, có chính sách đặc biệt
đối với nhân tài của đất nước Gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với
trí thức, giữa trí thức với Đảng, Nhà nước” [21, tr.241-242].
Quán triệt quan điểm của Đảng, những năm qua Lạng Sơn đã chú ý
đến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ trí thức của tỉnh. Song
việc đầu tư cho lĩnh vực này chưa thoả đáng.
Là một tỉnh nằm ở cửa ngõ trọng yếu phía Bắc của Tổ quốc, bước
vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Lạng Sơn đang có những điều
2
kiện và cơ hội phát triển thuận lợi. Xu thế mở cửa hội nhập với các nước
trên thế giới và các nước trong khu vực ngày càng được đẩy mạnh. Quan
hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam - Trung Quốc và các nước ASEAN
tiếp tục được củng cố và phát triển. Do đó triển vọng hợp tác, giao lưu
kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật… sẽ mở ra rất lớn, tạo điều kiện cho
Lạng Sơn thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, đồng thời có cơ hội để phát
triển nhanh chóng các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, nhất là
phát triển kinh tế cửa khẩu.
Bên cạnh những lợi thế, cơ hội và điều kiện phát triển trên, Lạng
Sơn cũng đang đứng trước nhiều trở lực, thách thức. Nền kinh tế vẫn chủ
yếu là sản xuất nhỏ; công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế diễn ra với tốc độ chậm, năng lực cạnh tranh còn yếu kém,
nguồn nhân lực chất lượng còn thấp
Để tận dụng được lợi thế phát triển và vượt qua được những khó
khăn thách thức, tất yếu Lạng Sơn phải phát triển nhanh nguồn nhân lực
số khuyến nghị nhằm phát triển đội ngũ trí thức nước ta hiện nay.
- Phạm Tất Dong (chủ biên): “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức
Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001. Các tác giả đã trình bày tổng quát những yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đối với đội ngũ trí thức nước ta, đồng
thời làm rõ vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong công cuộc xây dựng
nền kinh tế - xã hội hiện đại, góp phần sáng tạo văn hoá, giữ gìn nền tảng tinh
thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá; phân tích tương đối toàn diện thực trạng của đội ngũ trí thức
nước ta hiện nay, từ đó đề xuất những định hướng, chính sách xây dựng đội
ngũ trí thức Việt Nam trong những năm tới.
- Nguyễn Quốc Bảo - Đoàn Thị Lịch: “Trí thức trong công cuộc đổi
mới đất nước”, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998. Thông qua tác phẩm, các tác
4
giả đã khái quát tình hình biến đổi của trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi
mới; phân tích những ưu điểm, hạn chế của họ, trên cơ sở đó đề ra những giải
pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới
đất nước.
- Trịnh Quang Cảnh: “Phát huy vai trò đội ngũ trí thức người dân tộc
thiểu số ở nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay”, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2005. Tác giả đã nghiên cứu khá công phu, sâu sắc về đội ngũ trí
thức người dân tộc thiểu số trên phạm vi cả nước trong sự nghiệp cách mạng;
đồng thời đề xuất những giải pháp để phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ
này ở Việt Nam hiện nay.
- Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất
nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Tác giả làm rõ khái niệm,
nguồn gốc sự hình thành, vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong
thế kỷ XXI; nêu một số vấn đề đặt ra cho đội ngũ trí thức Việt Nam; đồng
thời đề xuất phương hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong tình
đội ngũ trí thức được đăng tải trên các tạp chí như:
- Tạp chí Cộng sản, tháng 11/1999 "Bài học từ những quan điểm của chủ
nghĩa Mác về trí thức" trong cuốn "Học thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 của PGS.TS. Phan Thanh
Khôi Trong đó, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề: bản chất giai cấp của
trí thức, chính sách sử dụng các chuyên gia tư sản, cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí
thức mới, xây dựng khối liên minh công - nông - trí, các giải pháp phát huy vai
trò của trí thức
Bên cạnh đó, một số Luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về vị trí, vai trò, đặc
điểm, động lực sáng tạo của trí thức trong quá trình cách mạng Việt Nam như:
"Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin trong các trường Đại học ở
nước ta hiện nay" của Phạm Văn Thanh, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội,
6
2001; "Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong
quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Đình Minh, Luận án tiến
sĩ triết học, Hà Nội, 2003; "Vai trò của trí thức Thủ đô Hà Nội trong sự
nghiệp CNH, HĐH" của Nguyễn Xuân Phương, Luận án tiến sĩ triết học, Hà
Nội, 2004
Dưới góc độ của tỉnh, nhận thức rõ sự cần thiết phải phát triển nguồn
nhân lực, những năm qua, tỉnh Lạng Sơn cũng đã ra một số văn bản quan
trọng có liên quan đến vấn đề này như:
- Định hướng quy hoạch tổng thể tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2001 - 2010.
- Quy hoạch tổng thể tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010- 2020
- Quy hoạch phát triển giáo dục - đào tạo tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010.
- Dự án đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực tỉnh Lạng Sơn (giai
đoạn 2001- 2010).
- Quyết định số 04/2002/QĐ- UB về việc điều chỉnh mức hỗ trợ cho
cán bộ được cử đi học.
Các văn bản này một mặt khẳng định tầm quan trọng của việc phát
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh
Lạng Sơn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh
Lạng Sơn trong khoảng thời gian từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng
sản Việt Nam (1996) đến nay - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
8
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận, thực tiễn của luận văn:
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về trí thức.
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của đất nước và của tỉnh Lạng Sơn; đồng thời là đội ngũ trí thức
người dân tộc thiểu số ở tỉnh hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê và điều tra xã hội học.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ thực trạng và vai trò của đội ngũ trí thức người
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện nay.
- Đề xuất một hệ thống quan điểm, giải pháp cơ bản phát triển đội
ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của tỉnh.
từng giai đoạn phát triển của lịch sử, vị trí, vai trò của trí thức cũng có những
thay đổi rất đa dạng. Hơn nữa từ những cách tiếp cận khác nhau nên có thể
đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí thức.
Theo quan niệm của Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương khóa X: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ
học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập,
sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và
vật chất, có giá trị đối với xã hội” [20, tr.64].
Từ khái niệm này, ta thấy trí thức có một số đặc điểm nổi bật (những
đặc điểm này đã được nhiều công trình khoa học đi trước phân tích làm rõ, do
vậy, luận văn kế thừa và không đi sâu phân tích). Đó là:
Một là, lao động của trí thức thuộc loại lao động trí óc phức tạp,
sáng tạo. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của trí thức, lao động trí óc phức tạp
sáng tạo được trí thức thực hiện trong quá trình lao động, đồng thời là dấu
hiệu quan trọng để phân biệt trí thức với các lực lượng lao động khác trong
xã hội.
Lao động trí óc phức tạp, sáng tạo của người trí thức mang đậm dấu
ấn cá nhân và có tính độc lập cao. Sản phẩm lao động trí tuệ phức tạp của
trí thức là các giá trị lý luận, lý thuyết, các công trình khoa học… trong các
lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, văn học, nghệ
11
thuật, lãnh đạo, quản lý… Những tri thức khoa học, những sản phẩm tinh
thần mà người trí thức sáng tạo ra thường có ý nghĩa định hướng cho hoạt
động nhận thức, hoạt động thực tiễn góp phần thúc đẩy xã hôị phát triển.
Hai là, trí thức là những người có trình độ học vấn cao, trình độ
chuyên môn sâu và vững vàng.
Chính hoạt động lao động trí óc phức tạp, sáng tạo đòi hỏi trí thức
phải có trình độ học vấn cao và cần phải được trang bị kiến thức sâu về
chuyên môn, chuyên ngành, thường là đạt trình độ từ cao đẳng, đại học trở
dựng chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Quan niệm về trí thức người dân tộc thiểu số và phát triển đội
ngũ trí thức người dân tộc thiểu số
- Về khái niệm
“Trí thức người dân tộc thiểu số” có những đặc điểm của trí thức nói
chung và là thuật ngữ dùng để chỉ một đối tượng trí thức đặc thù, với tiêu chí
cơ bản là có nguồn gốc xuất thân từ các dân tộc thiểu số so với dân tộc đa số
(chiếm số đông trong dân cư) của một quốc gia.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, dân tộc thiểu số là: “dân tộc có số
dân ít có thể là hàng trăm, hàng ngàn cho đến hàng triệu người cư trú trong
một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân
đông. Trong các quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên
có hai ý thức: ý thức về tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình. Những dân
tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ở những vùng
ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Vì vậy, các
nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xoá bỏ
dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội giữa dân tộc đông
người và dân tộc thiểu số” [57, tr.655].
13
Như vậy, nét đặc thù của các dân tộc thiểu số là có số dân ít, cư trú
trong một quốc gia thống nhất, trong quốc gia đó có thể có 2, 3, 4 thậm chí
hàng chục dân tộc thiểu số. Chẳng hạn, như ở Việt Nam, Trung Quốc
Dân tộc thiểu số có số dân ít song có tiếng nói riêng và có thể có chữ
viết riêng. Số dân của các dân tộc thiểu số có thể nhiều ít khác nhau, nhưng
mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa
dạng của văn hoá Việt Nam. Ở nước ta, theo cách phân loại hiện nay có 54
thành phần tộc người, trong đó người Kinh được xem là dân tộc đa số, 53 tộc
người còn lại được xem là dân tộc thiểu số.
Khái niệm trí thức người dân tộc thiểu số được dùng khi so sánh với
1.2. Mối quan hệ giữa phát triển đội ngũ trí thức ngƣời dân tộc
thiểu số với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lạng Sơn
1.2.1. Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và yêu cầu
đặt ra đối với việc phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở
tỉnh Lạng Sơn
Vài nét khái quát về tỉnh Lạng Sơn và đặc điểm công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của tỉnh
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, giáp biên với Trung Quốc, tập trung
chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống (85% cư dân là người dân
tộc thiểu số). Trước năm 1990, do điều kiện địa lý, núi đồi hiểm trở, quanh
co, giao thông chưa phát triển nên Lạng Sơn là một tỉnh nghèo, lạc hậu, kinh
tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp. Từ khi đổi mới đến nay, cùng với cả
nước. Lạng Sơn cũng đang tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Xét về điều kiện tự nhiên, Lạng Sơn là một tỉnh miền núi thuộc Đông
Bắc của tổ quốc. Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp tỉnh Bắc
Giang, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng
Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Cạn, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên.
15
Lạng Sơn có nhiều tuyến đường quan trọng như tuyến đường nối liền với
Thủ đô Hà Nội (1A) và Cao Bằng (4A); nối với Quảng Ninh (3B); tuyến đường
sắt Hà Nội - Đồng Đăng - Bắc Kinh và các nước Châu Âu qua địa phận Lạng
Sơn. Lạng Sơn có đường biên giới với Trung Quốc dài 253 km (5 huyện và 21
xã biên giới), có 2 cửa khẩu quốc tế (Hữu Nghị, Ga Đồng Đăng), 2 cửa khẩu
quốc gia (Bình Nghi, Chi Ma) và 7 cặp chợ đường biên. Do là tỉnh miền núi, nên
Lạng Sơn có nhiều núi đá vôi (chiếm 14% diện tích) và nguồn khoáng sản khá
phong phú (quặng sắt, nhôm, bôxít, alít ). Đây là điều kiện thuận lợi để phát
triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp khai khoáng, nhiệt
điện. Điều kiện khí hậu ẩm, ôn hòa và mát mẻ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch
và nông nghiệp. Đây là điều kiện tự nhiên rất quan trọng để Lạng Sơn thực hiện
hóa ở Lạng Sơn tập trung chủ yếu vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn.
Trước yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, nước ta phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Thực hiện mục tiêu đó, Đại hội Đảng lần thứ X
của Đảng đã chỉ rõ: “ Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [19, tr.76].
Vận dụng quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đề ta, Đại hội tỉnh
Đảng bộ lần thứ XIII của Lạng Sơn đã xây dựng chương trình, mục tiêu
nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn của tỉnh:
Tiếp tục giữ vững và phát huy sức mạnh đoàn kết nội bộ, thống nhất
trong Đảng, đoàn kết nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khai thác có hiệu quả
mọi nguồn lực, tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, bảo đảm khai thác có hiệu quả các lợi thế, tiềm năng kinh
tế của địa phương, nhất là đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng,
17
chăn nuôi đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, sớm đưa Lạng Sơn phát triển và
hội nhập [55, tr.120].
Vì vậy, từ năm 1990 đến nay được sự quan tâm của Trung ương, lãnh
đạo tỉnh và các cấp, các ngành hữu quan, ngành nông nghiệp Lạng Sơn đã có
chuyển biến rõ nét. Trong những năm đầu mới mở cửa khẩu, ngành nông
nghiệp Lạng Sơn chủ yếu sản xuất theo hướng tự cung tự cấp, tình trạnh thiếu
lương thực, thực phẩm, mất cân đối trong các sản phẩm nông nghiệp diễn ra
thường xuyên. Đặc biệt do đặc thù của một tỉnh miền núi nên có nhiều dân tộc
sinh sống và chủ yếu là làm nông nghiệp, hầu hết trình độ dân trí thấp, không
bắt kịp với tiến bộ khoa học kỹ thuật nên sản xuất còn phụ thuộc vào tự nhiên.
Trước tình trạng đó, Lạng Sơn đã tiến hành khai hoang, cải tạo đồng
lợi, giao thông do Trung ương đầu tư, đường biên giới, đường giao thông,
mạng lưới điện được tỉnh quan tâm xây dựng, nâng cấp, mạng lưới điện đến
100% số xã với trên 94,3% số hộ được sử dụng điện [60, tr.24].
Thương mại - dịch vụ có bước phát triển tăng đều qua các năm.
Tỉnh Lạng Sơn xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Thị
trường xuất khẩu được mở rộng, hoạt động bưu chính, viễn thông có bước
chuyển biến mạnh trong việc hiện đại hóa trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ
thuật, góp phần nâng số dân được sử dụng điện thoại lên.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nhìn chung tốc độ tăng trưởng
kinh tế và tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh diễn ra còn chậm; hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém; đầu tư manh mún, hiệu quả
thấp. Tính cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chất lượng sản phẩm hàng hóa
chưa cao, chưa có những sản phẩm chủ lực, chưa có những doanh nghiệp
mạnh về sản xuất kinh doanh và trong lĩnh vực xuất - nhập khẩu. Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch chậm, chưa phù hợp với đặc thù và thế mạnh của tỉnh. Tiềm
năng, lợi thế cây trồng, vật nuôi chưa được khai thác hiệu quả. Giá trị ngành
19
công nghiệp, dịch vụ đạt thấp, chưa đóng vai trò quan trọng và thúc đẩy phát
triển kinh tế.
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở
Lạng Sơn phát triển chậm, chưa có lĩnh vực đột phá. Nông nghiệp, lâm
nghiệp chưa phát huy được lợi thế, nhất là lợi thế vùng nguyên liệu và phát
triển chăn nuôi. Công tác trồng rừng được quan tâm, tuy nhiên công tác quản
lý rừng còn lỏng lẻo. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy của đồng bào vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn diễn ra; chưa đảm bảo yêu
cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản và kích thích sản xuất phát triển. Công tác
quy hoạch và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các đô thị, các khu, cụm công
nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, các tuyến điểm du lịch chưa được quan tâm
đúng mức. Việc đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh
việc làm, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân tại địa phương.
Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với việc
phát triển đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn
Sự phát triển các vùng kinh tế như vậy đồng thời tạo ra cơ sở vững
chắc, điều kiện cần thiết để phát triển nhanh đội ngũ trí thức của tỉnh bao gồm
cả trí thức người dân tộc thiểu số, đồng thời thu hút trí thức và trí thức người
dân tộc thiểu số ở các nơi về làm việc tại tỉnh, góp phần quan trọng vào chiến
lược thu hút nguồn nhân lực của tỉnh trước mắt và lâu dài.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu trong thời gian
tới cần phải tập trung phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức
người dân tộc thiểu số, nhất là chú trọng phát triển đội ngũ trí thức thuộc vùng
cao, vùng sâu, vùng xa, kết hợp với đội ngũ trí thức người Kinh trong tỉnh để
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu phải coi trọng phát
triển khoa học và công nghệ hướng mạnh vào việc thực hiện những nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là phát triển nông nghiệp,
21
nông thôn; từ đó tạo ra môi trường và điều kiện để phát triển nhanh đội
ngũ trí thức của tỉnh.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa muốn phát triển nhanh, hiệu quả
phải coi trọng phát triển khoa học và công nghệ, nhất là những nghiên cứu về
khoa học - công nghệ phục vụ trực tiếp vào quá trình sản xuất và đời sống
nhân dân, trên cơ sở đó cung cấp các cứ liệu khoa học để các cấp ủy, chính
quyền trong tỉnh thực hiện tốt việc quy hoạch và điều chỉnh bổ sung quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển khoa học - công nghệ còn là căn
cứ khoa học để phát triển cơ sở lý luận cho hệ thống chính trị ở địa phương, có
nhiều phương án lựa chọn chương trình dự án, mô hình sản xuất kinh doanh có
hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế
thị trường và đặc thù của tỉnh. Đó là đặc biệt chú ý đến việc ứng dụng công