1
Cơ quan quản lí đề tài : Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện đề tài : Trường Cán bộ Dân tộc
Chủ nhiệm đề tài : TS. Trịnh Quang Cảnh
Thư kí đề tài : TS. Vũ Thị Thanh Minh 8240
Hà Nội, năm 2010
MỤC LỤC
STT NỘI DUNG Trang
1 MỞ ĐẦU
2 I. Tính cấp thiết của đề tài 2
3 II. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề việc làm 3
4 III. Mục tiêu của đề tài 5
5 IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
6 V. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu kĩ thuật sử dụng 6
VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DTTS ĐÁP
ỨNG THỞI KỲ HỘI NHẬP WTO
86
19 3.1. Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề việc làm của
thanh niên DTTS đáp ứng thời kỳ CNH-HĐH vùng núi,
vùng DTTS
86
20 3.2. Một số kiến nghị 94
21 KẾT LUẬN 95
22 Danh mục tài liệu tham khảo 97 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DTTS
Dân tộc thiểu số
CNH - HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
CMKT
Chuyên môn kỹ thuật
LLLĐ
Lực lượng lao động
khai thác thế mạnh của vùng núi và vùng dân tộc thiểu số. Thanh niên dân tộc
thiểu số là lực lượng lao động trẻ, khỏe, năng động sáng tạ
o được học tập đào
tạo, thanh niên chiếm gần 65% lực lượng lao động toàn xã hội vùng dân tộc
thiểu số. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vấn đề lao động thanh niên
dân tộc thiểu số cũng trở lên sôi động tương ứng với mức cạnh tranh của các
thành phần kinh tế trong cả nước và các vùng dân tộc thiểu số. Thực tế cũng
hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ
nguồn nhân lực luôn được đánh giá là yếu tố then chốt
và quyết định trong sự phát triển và tồn tại của các thành phần kinh tế. Sự phát
triển cả về qui mô và số lượng các chương trình dự án ở miền núi, vùng dân
tộc thiểu số đã kéo theo nhiều nhu cầu đa dạng về đối tượng lao động, do đó
thị trường lao động các khu công nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệ
p và dịch vụ ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số cũng trở lên sôi động hơn.
Theo báo cáo số liệu thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê hiện có khoảng gần
3 triệu lao động thanh niên dân tộc thiểu số đang làm việc tại các khu công
nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở miền núi, vùng dân
tộc thiểu số. Ngoài ra còn trên 4 triệu lao động thanh niên nông nghiệp vừa lao
động nông nghiệp và những lúc nông nhàn tiếp tục ra các khu công nghiệp -
dịch vụ tìm việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế số lượng này còn cao hơn rất
nhiều bởi chưa thống kê được số lượng lao động phổ thông chưa qua đào tạo
nghề hoặc chưa qua đào tạo nghề làm việc trong các nghề thủ công , mỹ nghệ
truyền thống và hoạt động dịch vụ khác.
Vấn đề việc làm thanh niên vùng dân tộc thi
ểu số trong thời gian qua hết
sức phức tạp bởi sự xuất hiện “ tranh chấp lao động”, chuyển dịch lao động,
giải quyết vấn đề lao động của thanh niên dân tộc thiểu số còn rất nhiều phức
tạp và bất cập trong chính sách quản lí và giải quyết vấn đề việc làm của thanh
niên dân tộc thiểu số. Do đó việc tiến hành nghiên cứu đánh giá trên thực trạng
sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên DTTS nhằm đề xuất
các giải pháp đào tạo nghề thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập
WTO, năm 2008.
- Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015
của Bộ lao động Thương binh xã hộ
i
Hai là, một số đề tài cấp Bộ đã đề cập đến vai trò vị trí của thanh niên
và thực trạng sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trong thanh niên DTTS
thực trạng và giải pháp:
- Đề tài cấp Trường "Phát huy vai trò, vị trí thanh niên trong sự nghiệp
CNH, HĐH, năm 2005" TS. Trịnh Quang Cảnh.
- Đề tài cấp Bộ - Mô hình hợp tác xã thanh niên do ThS. Nguyễn Văn
Tuấn trưởng ban phong trào thanh niên – Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh làm ch
ủ nhiệm.
4
- Đề tài cấp Bộ - Đào tạo nghề cho thanh niên thời kì công nghiệp hóa
hiện đại hóa GS. TS Đặng Cảnh Khanh- Viện trưởng viện nghiên cứu thanh
niên làm chủ nhiệm.
Ba là, Một số các công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên một số
công trình khoa học, tạp chí đã được công bố.
- Cơ hội thách thức Việt Nam gia nhập WTO. Viện Dân tộc, Uỷ ban
Dân tộc, 2008.
- Sự phát triển vùng DTTS Việt Nam sau thời kỳ hộ
i nhập 2010.
- Những giải pháp chủ yếu xây dựng hiệu quả lao động thanh niên
DTTS qua đào tạo nghề của ThS. Nguyễn Đình Chức Viện chiến lược phát
triển nông thôn, năm 2008.
- Thanh niên và vấn đề việc làm - TS. Trịnh Quang Cảnh, Tạp chí Giáo
dân tộc thiểu số. Từ đó phân tích đánh giá thực trạng về vấn đề việc làm thanh
niên dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay. Đề xuất giải pháp chủ yếu đáp
ứng ngày càng tốt hơn về vấn đề việc làm c
ủa thanh niên dân tộc thiểu số trong
thời kỳ đầu gia nhập WTO.
* Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ một số khái niệm, công cụ: Việc làm, việc làm thanh niên,
vấn đề việc làm thanh niên và tính tất yếu, chính sách giải quyết việc làm của
Đảng và Nhà nước về vấn đề việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đánh giá, phân tích thực trạng, những ưu đ
iểm, hạn chế về vấn đề
việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập WTO. Từ đó
đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết việc làm thanh niên trong thời kỳ
hội nhập nền kinh tế thế giới, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH vùng
núi, vùng dân tộc thiểu số.
IV. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. Ph
ạm vi không gian
Theo phương pháp chon mẫu, đề tài chọn tỉnh Lạng Sơn để thu thập
thông tin, số liệu điều tra xã hội học và phỏng vấn Đoàn viên và cán bộ đoàn.
Cụ thể: tỉnh Lạng Sơn đoàn nghiên cứu điều tra và phỏng vấn cán bộ đoàn,
thanh niên dân tộc thiêủ số, thành đoàn Thành phố Lạng Sơn và Đoàn xã
Quảng Lạc; ở huyện Hữu Lũng Đoàn đã làm việc với cán bộ đoàn và đoàn xã
Tân Thành phía Bắc giáp Trung Quốc, có cửa khẩu, sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo xu hướng hội nhập WTO để có cơ sở nghiên cứu tốt hơn một số
tỉnh khác trong vùng.
2. Phạm vi thời gian
+ Tác giả thu thập những số liệu và tư liệu về vấn đề việc làm thanh
+ Tỉnh Lạng Sơn Đoàn tiến hành phỏ
ng vấn 10 cán bộ đoàn và 40 thanh
niên dân tộc thiểu số về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong
thời kì hội nhập WTO.
V. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KĨ THUẬT SỬ DỤNG
Cách tiếp cận:
Ngoài cách tiếp cận thông dụng như: logic, đề tài sử dụng một số
phương pháp tiếp cận chuyên biệt.
- Tiếp cận hệ thống: Với cách tiếp này đòi hỏi phải xem xét, nghiên cứu
việc nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm thanh niên của Đảng và Nhà
nước đối v
ới thanh niên Dân tộc thiểu số nằm trong tổng thể chức năng vai trò
lãnh đạo hệ thống chính trị mà ở đó việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung
và lực lượng thanh niên Dân tộc thiểu số nói riêng trong thời kỳ công nghiệp
7
hoá - hiện đại hoá là một yếu tố tác động lớn đến thực thi chính sách Dân tộc
của Đảng và Nhà nước ở vùng Dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay.
- Tiếp cận phân hệ – lĩnh vực: Ngoài tiếp cận theo cấu trúc- hệ thống thì
nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các ngành đến việc làm và
giải quyết việc làm của thanh niên Dân tộc thiểu số trong thực ti
ễn vấn đề việc
làm của thanh niên Dân tộc thiểu số là “Đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực”. Một
hệ chính sách tổng hợp hàm chứa trong đó nhiều lĩnh vực khác nhau; có chính
sách tác động trực tiếp đến thanh niên Dân tộc thiểu số vùng nông thôn. Có
nhóm chính sách lại tác động đến địa bàn, đô thị, thanh niên trí thức có chính
sách tác động đến nhóm cư Dân Dân tộc thiểu số hoặc an sinh xã hội và kế
hoạch hoá gia đ
ình.v.v. Đó là những phân hệ-lĩnh vực có đối tượng riêng,
Để thu thập tài liệu Đoàn tổ chức điền dã ở tỉnh Lạng Sơn đi xuống các
xã thuộc Thành Đoàn thành phố Lạng Sơn và huyện đoàn huyện Hữu Lũng.
Các cuộc trao đổi, toạ đàm, phỏng vấn sâu, một số thảo luận nhóm và thu thập
tài liệu,
đặt bài, chuyên đề cấp tỉnh, cấp huyện và các báo cáo của xã Đoàn Uỷ
ban nhân dân về vấn đề liên quan đến việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số.
- Phương pháp kế thừa
Đề tài sẽ kế thừa các công ttrình nghiên cứu có nội dung liên quan đến
đề tài đã công bố ở trong và ngoài nước, ở Trung ương và nhiều địa phương.
Đặc biệt là các chương trình dự án, đề tài, kết quả điều tra, kiểm tra, sơ k
ết tổng
kết, về vấn đề việc làm thanh niên, lao động việc làm thanh niên dân tộc thiểu
số của các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương từ những năm 2006
đến nay.
- Phương pháp chuyên gia
Đặt các bài báo cáo tham luận và chuyên đề khoa học
Tổ chức hội thảo Trung ương và địa phương để thu thập tài liệu nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học
Thông qua các câu hỏi, câu h
ỏi đóng- mở, bảng hỏi để phỏng vấn và
nắm bắt, đánh giá về vấn đề việc làm của thanh niên dân tộc thiểu số trong giai
đoạn hiện nay.
Đề tài này còn sử dụng thêm một số phương pháp khác như:
+ Phương pháp chọn mẫu
+ Phương pháp xử lý thông tin
+ Phương pháp đánh giá (SWOT) dùng để phân tích điểm mạnh
(Strengths), điểm yếu (Weaknesses)
+ Phương pháp phân tích văn bản
Kỹ
thuật sử dụng:
thiểu số đáp ứng thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá vùng núi, vùng
dân tộc thiểu số
3.2. Một số kiến nghị
KẾT LUẬN
VII. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Năm 2010 10
VIII. THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI TT
Họ và tên Chức vụ
Tổ chức
công tác
Thời
gian
tham
gia
1
TS. Trịnh Quang Cảnh
Trưởng phòng
đào tạo
Chủ nhiệm đề
Tham gia nội
dung đề tài
6/12
tháng
7 CN. Nguyễn Hồng Hải Trường Cán bộ
dân tộc
Tham gia nội
dung đề tài
6/12
tháng
8 TS. Đào Minh Huấn Phó Giám đốc,
Học viện Chính
trị Khu vực I
Tham gia nội
dung đề tài
4/12
tháng
9 TS. Lò Giàng Páo PVT, Viện dân
tộc – UBDT
Tham gia nội
dung đề tài
4/12
tháng
10 ThS. Nguyễn Xuân Khuê Trưởng khoa
QLNN, CTDT
Tham gia nội
dung đề tài
4/12
tháng
11 CN. Nguyễn Văn Giang Phòng Đào tạo Tham gia nội
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ: VIỆC LÀM, VIỆC LÀM THANH
NIÊN, VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ HỘI
NHẬP WTO
* Khái niệm việc làm:
Theo Từ điển Tiếng Việt, việc làm là “Công việc được giao cho làm và
được trả công”. Như vậy, việc làm là các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập cho
con người. Tuy nhiên các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập đó phải được xã hội
thừa nh
ận thì mới được gọi là việc làm. Chính vì vậy, trong Điều 13 Chương 2
Bộ luật Lao động của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã đưa
ra định nghĩa về việc làm như sau: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Giải quyết việc
làm, đảm bảo cho mọi người có kh
ả năng lao động đều có cơ hội có việc làm
là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:
+ Làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó
+ Làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng
hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ
) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.
+ Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù
lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất
nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên
khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Khái niệm trên nói chung đã bao quát nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai
hạn chế c
ơ bản. Thứ nhất: hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong
khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích
vật chất không hề nhỏ. Thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa
các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác
chủ nghĩa, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4
(khoá VII) ch
ỉ rõ: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước
vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trên cộng đồng thế giới hay không, phần lớn tuỳ
thuộc vào lực lượng thanh niên; vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên".
Vậy thanh niên là ai? Bồi dưỡng, rèn luyện lực lượng này như thế nào
để họ trở thành nhân tố quyết định sự thắng lợi của sự nghiệ
p đổi mới?
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt kinh tế - chính trị, các nhà nghiên cứu nhìn nhận thanh niên là
một lực lượng lao động xã hội hùng hậu, là nguồn lực thường xuyên bổ sung
cho đội ngũ lao động trên mọi lĩnh vực, là b
ộ phận quan trọng cấu thành lực
lượng sản xuất, rất năng động, nhạy cảm, gắn bó với tiến trình phát triển xã
13
hội, đi đầu trong cuộc đấu tranh sáng tạo mới, tham gia xây dựng giai cấp công
nhân, xây dựng các lực lượng vũ trang.
Đặc điểm về cơ cấu xã hội của thanh niên là họ có mặt ở trong tất cả các
tầng lớp, các giai cấp trong xã hội. Từ đó có thể rút ra nội dung tổng quát về
khái niệm thanh niên:
Thanh niên là một nhóm xã hội - nhân khẩu đặc thù. Những nét đặc
trưng của thanh niên hoàn toàn không giống với các nhóm xã hộ
i khác. Thanh
niên được phân chia theo độ tuổi, gắn với giai cấp, các tầng lớp xã hội. Tùy
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống,
tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác
nhau. Ở nước ta tuổi thanh niên hiện nay là 16 đến 30. Điều 1, Luật Thanh
cảnh giác, phải được khắc phục bằng chính sự rèn luyện, phấn đấu không ngừng
của bản thân thanh niên và có sự hướng dẫn, giúp đỡ của các chủ thể xã hội.
Như vậy có thể hiểu thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù
bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triể
n nhanh
chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã
hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã
hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển
trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc.
Làm thế nào để phát huy mọi lợi thế của thanh niên và hạn chế
tối đa
những nhược điểm của thanh niên để thanh niên là lực lượng xung kích cách
mạng, là nguồn nhân lực quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước?
Hiện nay, tạo việc làm cho thanh niên, đảm bảo duy trì và phát triển
nghề nghiệp cho thanh niên là một trong những nhân tố quyết định sự thắng lợi
của sự nghiệp đổi mới.
Tạo việc làm chính là quá trình tạo ra số lượng và chất
lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện
kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ, tỷ lệ người thất nghiệp, chưa có
việc làm, đặc biệ
t tỷ lệ lao động nông thôn thiếu việc làm hiện nay khá cao. Tỷ
lệ thất nghiệp của Việt Nam năm 2009 là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007.
Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm là 5,1%, tăng 0,2% so với năm
2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ
này ở khu vực thành thị là 2,3%. Trong số đó, 73% người lao động thất nghiệp
và thiếu việc làm là những người không qua đào tạ
o. (Theo số liệu của Bộ LĐ-
TB-XH). Năm 2010 Đoàn TNCSHCM đã tổ chức được hàng ngàn sàn giao
Khi nói về việc làm thanh niên trong giai đoạn hiện nay mà đặc biệt
hơn trong các nước đang phát triển, cụ thể là ở Việt Nam còn tồn tạ
i nhiều bất
cập như: những người thất nghiệp có học, lao động tự do tính chất công việc
thiếu ổn định dễ bị thất nghiệp,… đặc biệt là tình trạng thất nghiệp trong thanh
niên là mối lo ngại lớn.
Giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên
là một ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Để khắc phục tình trạng thanh
niên th
ất nghiệp, thiếu việc làm, mỗi thanh niên phải hiểu và thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình trong lao động: Chủ động tiếp cận thông tin thị trường
lao động; lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù hợp với khả năng của bản
thân và nhu cầu của xã hội. (Điều 10 Luật Thanh niên).
Về vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên, hướng chủ y
ếu là thanh
niên tự tìm việc làm phù hợp, cùng góp vốn phát triển sản xuất, mở mang các
hoạt động dịch vụ theo các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế mà
Nhà nước đã ban hành. Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện
thuận lợi cho Đoàn thanh niên tham gia tích cực vào chương trình khuyến
nông, cấp vốn đầu tư và hướng dẫn quy hoạch cho TW Đoàn TNCS Hồ Chí
16
Minh xây dựng một số trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nghề nông cho
thanh niên ở các vùng kinh tế; hỗ trợ vốn ban đầu cho thanh niên lập nghiệp,
giải quyết việc làm; hỗ trợ thanh niên nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; đặc biệt là chú trọng dành vốn
cho các hộ gia đình trẻ nghèo vay để sản xuất kinh doanh.
Giai đoạn 2005 - 2010, Chính phủ có chiến lược giải quyết việc làm cho
người lao
động. Đây là vấn đề bức xúc vì đất nước ta là có dân số trẻ. Chúng ta
u thanh niên đến tuổi lao
động cần có việc làm. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm nhưng số người thất
17
nghiệp vẫn tiếp tục tăng.Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị vẫn còn ở mức cao và
đang có xu hướng tăng lên.
Để giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên, trước hết, cần khuyến
khích thanh niên hăng say lập nghiệp, tự tạo việc làm và giúp nhau tạo việc làm.
Đồng thời, Nhà nước tổ chức và huy động thanh niên tham gia xây dựng các
công trình, các lĩnh vực, các vùng kinh tế quan trọng; đầu tư ngân sách thích
đáng cho các ch
ương trình giải quyết việc làm; mở rộng việc cho các gia đình
vay vốn để sản xuất kinh doanh; sửa đổi, bổ sung những quy định về quản lý lao
động và cư trú để thanh niên dễ dàng tìm việc làm; đẩy mạnh xuất khẩu lao
động; mở rộng mạng lưới dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên.
Cụ thể hóa chủ trương này, trong Điều 18 Luật Thanh niên cũng đã nêu rõ:
1. Nhà nước có chính sách khuyến khích các t
ổ chức, cá nhân giải quyết
việc làm cho thanh niên; ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để phát triển giáo dục
nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển
hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường lao động;
ưu tiên dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn, thanh niên
sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên tình nguy
ện sau khi hoàn
thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; thanh
niên của hộ nghèo được vay vốn từ quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, quỹ xoá
đói, giảm nghèo, vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, tự tạo việc làm.
2. Nhà nước có cơ chế, chính sách giao cho tổ chức thanh niên huy động
thanh niên thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã h
làm, không có thu nhập, làm cho số hộ nghèo và cận nghèo tăng lên. Bên cạnh
đó, hệ lụy của không có việc làm là những tệ nạn, tiêu cực xã hội như rượu
chè, cờ bạc, ma tuý, trộm cắp, cướp giật và cả việc gây rối trật tự, làm ảnh
hưởng đến an ninh, ảnh hưởng đến sản xuất và xây dựng đời sống văn hoá mới
tại cộng đồng dân cư… đều do “nhàn cư vi bất thiện”. Vì vậy việc làm cho
thanh niên vùng nông thôn, miền núi hiện nay đang rất cần lời giải. Cụ thể:
Ngoài việc định chỉ tiêu tạo việc làm m
ới trong kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay
vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để
người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việ
c
làm cho nhiều người lao động, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về giải
quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động thanh niên là người dân tộc
thiểu số.
Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong
nước và nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư
phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho ng
ười lao động,
quan tâm đến việc ưu tiên dạy nghề, giải quyết việc làm và cho vay vốn phát
triển sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, phát huy
tính năng động của thanh niên dân tộc thiểu số trong lao động sản xuất, nâng
cao chất lượng cuộc sống.
19
1.2 THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, một
trong những nhiệm vụ trọng tâm của khoa học xã hội Việt Nam là nghiên cứu
“Dự báo tình hình và xu thế phát triển của tình hình thế giới, khu vực và trong
khó cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực, thế giới). Khi tham gia
WTO, do thế và lực yếu, nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ bị ràng
buộc bởi những yếu tố bên ngoài, phải chấp nhận và thực hiện các quy tắc
quố
c tế do các nước Tư bản phát triển áp đặt. Do có lợi thế về tiềm lực kinh tế
và trình độ phát triển, ngoài việc mở rộng thị trường buôn bán và đầu tư nhằm
thu hút lợi nhuận, các nước Tư bản phát triển còn tìm cách chi phối, khống chế
20
thị trường thế giới, cải biến nền kinh tế của các nước khác phục vụ lợi ích của
mình. Họ thao túng các tổ chức kinh tế toàn cầu (IMF, WB, WTO…) áp đặt
những quy chế và phương thức hoạt động không bình đẳng, gây thiệt hại cho
các nước đang phát triển, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp, phân hoá giàu
nghèo, đe doạ chủ quyền kinh tế và chủ quyền quốc gia của những nước này.
Thứ
hai, So với vùng đồng bằng và đô thị, vùng dân tộc thiểu số nước
ta có những đặc điểm lớn dễ nhận thấy
Một là, kinh tế kém phát triển, sản xuất hàng hoá sơ khai, sản xuất nhỏ,
phân tán là phổ biến, lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp
(do lịch sử để lại, do điều kiện địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, do dân trí
thấp, do cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển,…)
Hai là, trình độ dân trí và học vấn của người dân còn thấp, đời số
ng vật
chất thiếu thốn, khó khăn và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên thời tiết;
đời sống văn hoá nghèo nàn.
Ba là, hầu hết các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới, nơi có vị trí đặc biệt về an ninh, quốc phòng và trong nhiều trường hợp
rất nhạy cảm về đối ngoại (vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, vùng dân tộc thiểu
số Tây Nguyên, vùng người H’mông ở Tây B
ắc, Tây Nghệ An…)
Ba là, Các lực lượng lao động trên đất nước Việt Nam trong đó có thanh
niên các dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học kĩ thuật, thúc đẩy
tăng tr
ưởng kinh tế đất nước. Do chính sách mở cửa hội nhập, những giống
cây trồng, các giống vật nuôi có năng xuất cao, có chất lượng tốt được du nhập
vào Việt Nam và vùng núi, vùng dân tộc thiểu số mang lại hiệu quả kinh tế cao
nhiều vùng ở Việt nam đặc biệt ở vùng núi , vùng dân tộc thiểu số .Việc cải
thiện cuộc sống, xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung,
thanh niên các dân t
ộc thiểu số nói riêng, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc thiểu
số từng bước đổi mới phát triển theo hướng bền vững.
Bốn là, Tạo cơ hội và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá, làm giàu vốn
văn hoá dân tộc trong đó có thanh niên các dân tộc thiểu số, việc mở cửa hội
nhập, việc áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong lĩnh vực thông tin
truyền thông, thanh niên các dân tộc thiểu số
có thể nắm bắt nhanh hơn những
kiến thức khoa học, kiến thức văn hoá, văn minh nhân loại của các dân tộc
khác. Việc tiếp cận, gặp gỡ và làm phong phú thêm nền văn hoá của dân tộc
mình theo hướng tiến bộ, đạm đà bản sắc văn hoá dân tộc.
b, Những khó khăn, thách thức đối với Việt Nam nói chung đối với vùng
núi đặc biệt đối với thanh niên các dân tộc thiểu số
Một là, Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn: Do toàn cầu hoá, hội
nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường bên cạnh yếu tố tích cực còn mặt
trái là làm cho tình trạng đói nghèo và chất lượng mức sống giữa các vùng sẽ
thay đổi đặc biệt vùng núi vùng dân tộc thiểu số sẽ nhiều biến động. Cuộc
sống của thanh niên vùng núi, vùng dân tộc thiểu số khó khăn hơn so với thanh
niên vùng đồng bằng ngày càng gia t
ăng.
22
Tóm lại, nói một cách khác khi chúng ta là thành viên của WTO, thời cơ
và thách thức đến với Việt Nam nói chung và đối với vùng dân tộc thiểu số nói
riêng diễn ra theo hai kênh: Gián tiếp và trực tiếp.
WTO tác động
đến vùng DTTS một cách gián tiếp theo sơ đồ sau:
WTO -> Quốc gia (cả nước) -> Vùng dân tộc thiểu số
Thông qua Nhà nước Trung ương
WTO tác dộng trực tiếp đến vùng dân tộc thiểu số theo sơ đồ;
WTO -> Vùng dân tộc thiểu số
Thông qua hệ thống thông tin đại chúng và các kênh thông tin khác
23
Trong hai kênh trên thì tác động gián tiếp thông qua Nhà nước Trung
ương là quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định. Nếu Nhà nước Trung ương
đưa ra quyết sách hội nhập đúng đắn, kết hợp tốt nội lực với ngoại lực, yếu tố
trong nước với yếu tố ngoài nước để tận dụng được cơ hội, vượt qua thách
thức. Ngược lại, nếu Nhà nước không đưa ra được quyết sách đúng
đắn trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, không huy động được tối đa nội lực và
ngoại lực, quản lý yếu kém và sử dụng không hiệu quả các nguồn lực, không
tận dụng được các cơ hội, không vượt qua được thách thức, khoảng cách tụt hậu
so với các nước trong khu vực ngày càng lớn, thì vùng dân tộc thiểu số sẽ không
thể tận dụng được cơ hội, không vượt qua thách th
ức và khó khăn ngày càng đè
nặng lên đời sống đồng bào.
Thứ tư, Làm thế nào để Việt Nam nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói
riêng có thể tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức?
Từ các vấn đề nêu trên có thể rút ra một số vấn đề mang tính hệ quả có
tính tất yếu sau đây:
Một là, tự bản thân Việt Nam và vùng dân tộc thiểu số không thể tận