đề tài: quyền tham gia quản lý nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
Đề tài:

QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA
NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC LẬP
PHÁP

Giảng viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện :

ThS. Thạch Huôn

Danh Thị Hồng Ngoan

Bộ môn: Luật Thƣơng Mại

MSSV: 5117329
Lớp: HG1165A1

Cần Thơ, Tháng 12/2014


LỜI CẢM ƠN

Như chúng ta đã biết, không có sự thành công đi đến bước cuối cùng nào trong quá

..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2014


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN

..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................

Dân tộc

Tổng số dân

Đại biểu các khóa
I

II

III

IV

V

VI VII VIII IX

3

4

5

6

7

8

9


1.040.549

6

8

7

10

11

6

7

4

5

3. Mường

914.596

2

7

11


1

2

5. Khơme

895.294

1

0

0

1

1

5

6

4

5

6. Nùng

705.709


6

4

4

5

5

8. Dao

473.945

1

7

7

6

5

3

4

5


2

2

2

1

2

2

2

3

11. Ba Na

136.859

3

2

1

1

0


13. Chăm

98.971

1

0

0

1

1

1

2

1

1

14. Xơ Đăng

96.766

0

0


2

1

0

1

2

(Cao Lan)


16. Hrê

94.259

1

0

1

0

1

1


71.696

0

0

0

0

0

0

1

1

1

19. M Nông

67.340

0

0

0


1

1

21. Xtiêng

50.194

0

0

0

0

0

0

1

1

1

22. Khơmú

42.853



1

2

1

1

1

24. Giáy

37.964

0

0

0

1

1

1

1

1


0

0

0

0

0

1

2

1

27. Tàôi

26.044

0

0

0

0

0


29. Co

22.649

0

0

0

0

0

1

1

0

0

30. Chơ Ro

15.022

0

0


1

1

1

32. Xinh Mun

10.890

0

0

0

1

1

1

1

1

0

33. La Chí


0

1

1

1

0

0


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................... 2
5. Kết cấu đề tài ............................................................................................................... 2
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC CỦA NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ................................................................. 3
1.1. Khái niệm chung về ngƣời dân tộc thiểu số tham gia quản lý Nhà nƣớc .......... 3
1.1.1. Khái niệm quyền con người .............................................................................. 3
1.1.2. Khái niệm dân tộc thiểu số ................................................................................ 5
1.1.3. Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số ................................................... 6
1.1.4. Khái niệm quyền tham gia quản lý Nhà nước ................................................. 8
1.2. Sự phát triển của chế định quyền con ngƣời dân tộc thiểu số .......................... 11
1.2.1. Sự phát triển chế định quyền của con người thiểu số trên thế giới .............. 12

2.3.2. Giải pháp .......................................................................................................... 48
2.3.2.1. Rà soát và hệ thống hóa thường xuyên và có chất lượng các văn bản pháp
luật liên quan đến các quyền cơ bản của các dân tộc thiểu số ................................. 48
2.3.2.2. Sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật chưa phù hợp trong thực
tế nhằm đảm bảo quyền tham gia quản lý Nhà nước của dân tộc thiểu số. ............ 48
2.3.2.3. Có biện pháp chống hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử ................................... 49
2.3.2.4. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về các dân tộc thiểu số và các
quyền của người thiểu số ............................................................................................... 50
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử quyền con người đã từng là vấn đề xuyên suốt của các cuộc đấu tranh
giai cấp, đấu tranh dân tộc và cho đến nay nó vẫn là một trong những vấn đề nỗi bật của
thời đại chúng ta. Trước hết, quyền con người được hiểu là những quyền cho mỗi cá
nhân, quyền làm chủ bản thân, quyền khẳng định mình là một chủ thể với những quyền
lợi, nghĩa vụ như mọi khác. Trong số những quyền con người thì quyền chính trị, quyền
được tham gia quản lý Nhà nước luôn được đề cập đầu tiên và dĩ nhiên đó cũng là quyền
vô cùng quan trọng đối với mỗi người.
Đặc biệt hơn đối với một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc có mối quan hệ chung
sống gắn bó lâu đời bên nhau và có những đóng góp hết sức to lớn vào công cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm để giành và giữ gìn độc lập, xây dựng tổ quốc như Việt Nam.
Muốn giữ gìn và phát triển truyền thống tốt đẹp trong suốt tiến trình hàng nghìn năm lịch
sử đó trước sự nghiệp đổi mới hiện nay, các dân tộc thiểu số cùng sát cánh dân tộc đa số
phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì
quyền tham gia quản lý Nhà nước cần phải được đảm bảo hơn đối với các dân tộc thiểu

Mục đích người viết nghiên cứu về quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân
tộc thiểu số trong lĩnh vực lập pháp là mong muốn được góp chút hiểu biết của mình để
làm rõ thêm quy định của pháp luật về những quyền vốn có của người dân tộc thiểu số
trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời qua đó người viết cũng muốn rút ra được những tồn
tại, thiếu sót cần được khắc phục và đề xuất phương hướng giải pháp nhằm đổi mới việc
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở trong nước
Việt Nam ta.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn thời gian để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cho phép, ngoài đi khái
quát chung về quyền con người và dân tộc thiểu số thì khi xem xét quyền của dân tộc
thiểu số trong hệ thống pháp luật Việt Nam người viết chỉ tập trung chủ yếu vào những
quyền mà người dân tộc thiểu số được tham gia quản lý Nhà nước theo pháp luật quy
định và thực tiễn áp dụng pháp luật cho lĩnh vực cụ thể này, sau đó đề xuất một số giải
pháp nhằm phát huy và đảm bảo quyền của dân tộc thiểu số trong hệ thống pháp luật Việt
Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu thông qua những chủ trương, chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta, cùng với phương pháp phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu
tổng hợp từ các tạp chí, sách báo cũng như những tài liệu nghiên cứu từ các thông tin
pháp lý trên Internet… Bên cạnh đó, người viết còn tham khảo một số sự kiện xảy ra thực
tế trong lĩnh vực tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trên các phương
tiện thông tin đại chúng để phục vụ cho việc nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm
hai chương.
Chương 1. Khái quát chung về quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc
thiểu số.
Chương 2. Những quy định của pháp luật về quyền tham gia quản lý Nhà nước của
người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập pháp.


một điều rõ ràng ở đây chính là những giá trị cao cả của mọi thành viên trong nhân loại
luôn được tôn trọng, bảo vệ. Bởi quyền con người là một vấn đề khá phức tạp liên quan
đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý…vì vậy một định nghĩa khác rất phổ
biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: “Quyền con
người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng
đơn giản vì họ là con người”, nhằm khẳng định mọi người khi sinh ra đều có quyền được
bình đẳng như mọi người khác và tạo hóa đã ban cho họ những quyền cơ bản nhất như
quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… họ được quyền sử dụng quyền
của chính mình để bảo đảm cuộc sống của bản thân, họ được làm bất cứ điều gì mà mình
cho là đúng đắn hợp lý mà không ai có quyền tước đi những quyền đó.
Một số định nghĩa về quyền con người khác cũng được nêu ra tại Việt Nam do một
số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu. Tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng nhìn chung
1

United Nations, Human Rights: Questions and Answers, New York and Geneva, 2006, tr.4.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

3

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc
tế.2 Ngoài ra, theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Quyền con người, tổng hợp các quyền
và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lí của cá nhân. Các quyền kinh tế - xã hội
là cốt lõi của quyền con người…”.3 Hay “Quyền con người là nhân phẩm, các nhu cầu

Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3, Nxb từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003, tr. 77.
4
Võ Khánh Vinh: Quyền con người Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2009, tr.19.
5
Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 2009, tr. 39-40.
3

GVHD: ThS. Thạch Huôn

4

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết trên vẫn còn xảy
ra. Việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý hay không hợp lý của hai học thuyết này là
không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính
trị, xã hội, đạo đức, pháp lí… Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận
hoàn toàn bất cứ học thuyết nào trong hai học thuyết kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ
trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các
quyền con người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
người năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia, quyền con người được
khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏ được
của mỗi cá nhân. Cụ thể, ở góc độ quốc tế, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người
(đoạn 1, Lời mở đầu) nêu rằng: …thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và
không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại. Ở góc độ quốc gia,

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc
chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên
nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi
quốc gia. Còn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất
phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý
nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà chỉ mang ý nghĩa đơn thuần
về mặt số lượng.
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít,
chiếm tỉ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân
tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về
số dân giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể
được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc
gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại
được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của
Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc,
nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của
Việt Nam).7
Mặc dù, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một định nghĩa nào về “dân tộc thiểu
số” (minorities) được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên
Hiệp Quốc nhưng qua những điều phân tích trên hiện tại ở Việt Nam ta đã có khái niệm
thống nhất về dân tộc thiểu số, đó là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số
trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.8
1.1.3. Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số
Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một định nghĩa nào về “dân tộc thiểu số”
(minorities) được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên Hiệp

nước độc lập, có chủ quyền, là một khối thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không thể chia
cắt, mỗi công dân Việt Nam có quyền, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Qua văn bản, dễ nhận
thấy các bản Hiến pháp đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ mà lịch sử dân tộc đang đòi
hỏi ở những giai đoạn cách mạng khác nhau nhưng đều nhất quán nêu bật tinh thần: Các
dân tộc thiểu số có quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau để cùng tiến bộ.
Mặc dù đã được đề cập với ý nghĩa là chủ thể của các quyền con người nói chung,
song có những đặc trưng riêng, dân tộc thiểu số được coi là một trong các nhóm xã hội
rất dễ bị tổn thương, cần phải được bảo vệ đặc biệt.
Từ khi Liên hợp quốc được thành lập, người thiểu số đã được thừa nhận là những
chủ thể bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền con người như những nhóm, cộng
đồng khác trong gia đình nhân loại. Người thiểu số cũng là những chủ thể bình đẳng
trong việc hưởng thụ các quyền con người, tức là đã được bảo vệ bằng các cơ chế, văn
kiện quốc tế trên lĩnh vực này. Tuy nhiên, vẫn phải thiết lập các cơ chế văn kiện về quyền
của người thiểu số.
Tuy chưa có định nghĩa chính thức chung nào đưa ra về quyền dân tộc thiểu số
nhưng có một số quan điểm cho rằng quyền của dân tộc thiểu số chỉ được xem xét dưới
góc độ cá nhân, bởi hầu hết các văn kiện quốc tế cơ bản nhất có liên quan đến bảo vệ
người thiểu số như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các
quyền dân sự, chính trị 1966 (Điều 27), Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc
nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo năm 1992… đều đề
cập đến vấn đề cá nhân, và thường với một cách diễn đạt là “… quyền của những người
thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ” (the rights of
persons belonging to national or ethnic, religious or linguistic minỏities), 10 chứ không
phải đề cập đến quyền của người thiểu số với ý nghĩa là các quyền của nhóm hoặc các
quyền tập thể. Quan niệm này phản ánh lo ngại của các quốc gia về những rắc rối có thể
phát sinh như dẫn tới hành động đòi ly khai của các dân tộc thiểu số, đe dọa sự toàn vẹn
lãnh thổ của đất nước nếu thừa nhận các quyền của dân tộc thiểu số với ý nghĩa là quyền
tập thể. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng: quyền dân tộc thiểu số không chỉ
được xem xét thông qua các cá nhân, mà còn phải được xem xét như một nhóm (group),
một cộng đồng (community) hoặc một dân tộc (people) và vì vậy, các quyền của người

dân tộc thiểu số cũng đều hướng đến nhu cầu và lợi ích của người thiểu số. Tuy nhiên,
cũng cần nhắc lại giới hạn của khái niệm này, mặc dù có lúc được diễn đạt bằng thuật
ngữ “Các dân tộc thiểu số”, nhưng trong luật quốc tế về nhân quyền, các quyền của người
thiểu số không bao gồm quyền độc lập, tự quyết về chính trị, 11 với ý nghĩa là quyền của
một quốc gia dân tộc – chủ thể cơ bản của công pháp quốc tế.
1.1.4. Khái niệm quyền tham gia quản lý Nhà nước
Để hiểu rõ về khái niệm “quyền tham gia quản lý Nhà nước”, trước tiên chúng ta
nên lần lượt tìm hiểu về các khái niệm: Quyền là gì? Quản lý là gì? Nhà nước là gì? Và,
quản lý Nhà nước là gì?
Theo từ điển tiếng Việt, “Quyền” là những cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay
lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành… và, khi thiếu được yêu cầu để có, nếu
bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại…
Vậy quản lý là gì? Xét trên phương diện nghĩa của từ quản lý thường được hiểu là
chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Mặt khác, quản lý trong xã hội nói chung là
quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất
định dựa trên những quy luật khách quan. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa

11

Vũ Công Giao, Một số vấn đề xung quanh nhận thức về khái niệm “người thiểu số” và quyền của người thiểu số”
trong luật quốc tế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10, 2002, tr. 72

GVHD: ThS. Thạch Huôn

8

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực

các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường
luôn biến động.
Khái niệm Nhà nước được hiểu là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một
bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt
GVHD: ThS. Thạch Huôn

9

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong
xã hội. Do đó quản lý nhà nước là khâu rất quan trọng trong quá trình phát triển nhà
nước. Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ
máy nhà nước nghĩa là sự tác động, tổ chức quyền lực nhà nước trên các phương diện lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành
xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực
nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Theo cơ chế này, quản lý nhà nước
được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ".
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Giáo trình quản lý hành chính nhà nước đưa ra khái niệm: “Quản lý nhà nước là sự
tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và
trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công
cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”.12
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được

Bên cạnh đó, một định nghĩa trong Từ điển Luật học do nhà xuất bản Từ điển Bách
Khoa của Việt Nam ấn hành năm 1999 cho rằng, quyền chính trị là: “quyền tham gia
quản lý nhà nước của công dân” tức đồng nghĩa với quyền tham gia quản lý nhà nước là
một phần của quyền chính trị, hay nói cách khác quyền tham gia quản lý nhà nước là một
tập con của quyền chính trị. Đó là quyền quan trọng nhất của công dân, đảm bảo cho
công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, được thực hiện bằng nhiều
hình thức khác nhau như: quyền bầu cử, quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà
nước; quyền đóng góp ý kiến vào việc xác định các chính sách để xây dựng và phát triển
mọi mặt kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại của đất nước;
quyền tham gia xây dựng pháp luật, tham gia giám sát các hoạt động của cơ quan nhà
nước, các tổ chức xã hội; kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ
chức trưng cầu dân ý….13
1.2. Sự phát triển của chế định quyền con ngƣời dân tộc thiểu số
Ý thức về nhân quyền và thực hiện nhân quyền là một quá trình lịch sử lâu dài gắn
với lịch sử phát triển loài người và giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã
hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp qua đó quyền con người trở thành giá trị chung
của toàn nhân loại.
Jacques Mourgon – một học giả nỗi tiếng thế giới đã cho rằng “…quyền con người
không có lịch sử… vì lịch sử, nếu có, thì hình như rất hỗn độn. Nó pha lẫn những lập lại,
những xen kẽ, những tương phản và những đứt đoạn giữa những bước tiến triển và
những bước thụt lùi”.14 Thế nhưng quyền con người nói chung không phải là điều gì siêu
nhiên xa rời thực tế, có lẽ tư tưởng về quyền con người được khởi tạo từ nền văn minh cổ
đại của xã hội loài người chúng ta và chế định quyền con người thiểu số cũng vậy. Sự
phát triển của nó hoàn toàn phụ thuộc vào hình thái xã hội loài người, bước qua từng thời
kỳ, nhân quyền ngày càng được hoàn thiện hơn.
1.2.1. Sự phát triển chế định quyền của con người thiểu số trên thế giới
Được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ
hai, quyền con người hiện đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế có
tính chất bắt buộc với mọi quốc gia, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người hiện
đã trở thành thước đo căn bản về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 là một công ước quốc tế do
Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ
ngày 23 tháng 3 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con
người. Theo những nguyên tắc nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, công ước tiếp tục
công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng bất di dịch của mọi thành viên
trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình trên thế giới. Bên
cạnh đó, nhận thấy được vẫn còn một số nhóm người yếu thế trong xã hội mặc dù hiện tại
đã có nhiều văn kiện nêu cao giá trị quyền con người như đã nêu trên, bao gồm cả “người
thiểu số” một trong những nhóm người dễ bị tổn thương trên thế giới đang cần lắm sự
quan tâm ủng hộ từ phía cộng đồng quốc tế.
Chính vì thế, tại điều 27 công ước đã ghi nhận quyền cụ thể của nhóm người này
như sau: “Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ,
những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng
đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực
hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ”. Như vậy, Điều 27
ICCPR đã ấn định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ các quyền liên
quan đến bảo tồn phong tục tập quán; bảo tồn ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết); bảo tồn tôn
giáo, tín ngưỡng của các nhóm thiểu số. Tất cả các khía cạnh này, thực chất chỉ nhằm vào
một vấn đề chung là bảo tồn bản sắc theo nghĩa rộng nhằm chống sự đồng hoá các nhóm
thiểu số. Liên quan đến quy định của Điều 27, Uỷ ban nhân quyền – cơ quan giám sát
thực hiện ICCPR - trong Nhận định chung số 23 thông qua tại phiên họp lần thứ 55 năm

GVHD: ThS. Thạch Huôn

12

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực

như vậy có nghĩa là, họ không có vấn đề gì cần làm thêm liên quan đến quyền của các
nhóm thiểu số (đoạn 4).
- Thứ năm: Các thuật ngữ được sử dụng trong Điều 27 chỉ rõ rằng, những người cần
được bảo vệ là những người thuộc một nhóm và có cùng một nền văn hóa, tín ngưỡng và
15

Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 2009, tr. 321-323.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

13

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
cùng một ngôn ngữ. Thêm vào đó, những thuật ngữ này cũng chỉ rõ rằng, các cá nhân cần
được bảo vệ không nhất thiết phải là công dân của một quốc gia thành viên. Về mặt này,
nghĩa vụ quốc gia phát sinh từ Điều 2(1) cũng là thích hợp, vì một quốc gia thành viên
ICCPR được yêu cầu bảo đảm các quyền ghi nhận trong Công ước được áp dụng với tất
cả các cá nhân đang ở trong lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của họ, ngoại trừ các quyền
chỉ áp dụng cho các công dân nước sở tại, ví dụ như: các quyền bầu cử và ứng cử nêu ở
Điều 25. Vì vậy, một quốc gia thành viên không thể tự giới hạn việc áp dụng các quyền
trong Điều 27 cho những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số là công dân của nước mình.
Nói cách thành viên phải bảo đảm các quyền quy định trong Điều 27 được áp dụng với
các nhóm thiểu số khác như người lao động di trú, khách du lịch nước ngoài... (đoạn 5).
- Thứ sáu: Quyền của các cá nhân thuộc một nhóm thiểu số được sử dụng ngôn ngữ
của cộng đồng mình không đồng nhất với các quyền khác về ngôn ngữ được ghi nhận

Đề tài: Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực
lập pháp
trong Điều 27 không được đồng nhất với việc bảo vệ các quyền cá nhân khác nêu ở trong
ICCPR (đoạn 9).
Qua sự phân tích trên, Ủy ban cho rằng, việc bảo vệ các quyền theo Điều 27 là trực
tiếp nhằm bảo đảm sự sống còn và phát triển của nền văn hóa, tôn giáo và bản sắc của
các nhóm thiểu số, qua đó làm phong phú nền văn hóa của cả quốc gia. Vì vậy, Ủy ban
cho rằng các quyền theo Điều này phải được bảo vệ riêng, không được lẫn lộn với các
quyền cá nhân khác được quy định trong Công ước... Đồng thời khẳng định Điều 27 thiết
lập và công nhận một quyền của các nhóm thiểu số khác với các quyền khác, mà với tư
cách cá nhân giống như bao người khác, được hưởng theo Công ước.
* Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng
tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992
Bên cạnh Điều 27 ICCPR, Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm
thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 được Đại Hội đồng Liên
Hợp Quốc công bố theo Nghị quyết 47/135 ngày 18 tháng 12 năm 1992 là một văn kiện
quan trọng về quyền của người thiểu số. Văn kiện này cụ thể hoá và mở rộng nội dung
Điều 27 của ICCPR cả về phạm vi chủ thể và nội hàm các quyền.
Về mặt chủ thể, Điều 2 (khoản 1) Tuyên bố kể trên đề cập đến thành bốn dạng
người thiểu số: thiểu số về sắc tộc (ethnic), tôn giáo (religious), ngôn ngữ (linguistic) và
dân tộc (national) (trong khi Điều 27 ICCPR chỉ đề cập ba dạng đầu).
Về mặt nội hàm của quyền, các khoản 2,3,4,5 Điều 2 Tuyên bố bổ sung một số
quyền với người thiểu số, bao gồm: (i) Quyền được tham gia vào đời sống chính trị, văn
hóa, tôn giáo, xã hội, kinh tế của quốc gia; và (ii) Quyền thiết lập và duy trì các mối quan
hệ giữa các thành viên của nhóm mình và nhóm khác. Điểm đáng ghi nhận ở đây chính là
quyền được tham gia vào đời sống chính trị của người thiểu số. Trước đây tại công ước
ICCPR chỉ mới đề cập đến quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực
hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ chứ chưa mở rộng
thêm quyền tham gia chính trị. Điểm nỗi bật này đã nâng cao được vị thế của người thiểu
số trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng

nhận 3 nguyên tắc cơ bản, đó là: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai,
giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền lợi dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và
sáng suốt của nhân dân. Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước
Việt Nam, lần đầu tiên một Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở nước ta, với
hình thức chính thể là cộng hoà. “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi
phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”,16 “đều bình đẳng trước pháp luật, đều được
tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”. 17
Hai quyền trên được cho là quyền cơ bản nhất mang tính nguyên tắc của người dân Việt
Nam trong một nước độc lập, tự do. Bên cạnh đó, quyền của các dân tộc thiểu số cũng
được ghi nhận: “những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng
tiến kịp trình độ chung”.18 Với quy định này đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong sự phát
triển của tư tưởng dân chủ, rút ngắn khoảng cách phân biệt đối xử giữa các dân tộc và
thực hiện chính sách ưu đãi với đồng bào dân tộc thiểu số trên thực tế.
Đã là công dân Việt Nam không phân biệt bất cứ thành phần nào trong xã hội, ai
cũng như ai, mọi người đều có quyền con người như nhau bất kể gái trai, giống nòi, là
dân tộc đa số hay thiểu số… Hiến pháp 1946 đã ghi nhận quyền của công dân trong từng
lĩnh vực cụ thể, mọi lĩnh vực đều thể hiện quyền bình đẳng của công dân, như trong lĩnh
vực chính trị là “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái,
đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người
16

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 6.
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 7.
18
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 8.
17

GVHD: ThS. Thạch Huôn

16

* Quyền con người thiểu số trong Hiến pháp 1980
Kế thừa và phát huy nội dung của hai bản Hiến pháp 1946 và 1959, Hiến pháp 1980
ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của con người đã được ghi nhận trong hai bản Hiến
pháp trước đó. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định từ điều 53 đến
điều 81, Hiến pháp 1980 đã xác định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới, phù hợp với
giai đoạn mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa như: “Công dân có quyền tham gia quản
lý công việc của Nhà nước và của xã hội”,23 “Quyền được khám và chữa bệnh không
19

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 18.
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 20.
21
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 21.
22
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, điều 93.
23
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, điều 56.
20

GVHD: ThS. Thạch Huôn

17

SVTH: Danh Thị Hồng Ngoan


Trích đoạn Hạn chế trong thực hiện phâp luật Nguyín nhđn của những hạn chế, tồn tại Sửa đổi, bổ sung những quy định của phâp luật chưa phù hợp trong thực Có biện phâp chống hănh vi kỳ thị, phđn biệt đối xử Tăng cường giâo dục, nđng cao nhận thức về câc dđn tộc thiểu số vă câc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status