quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật việt nam ở huyện thạnh trị, sóc trăng - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 37
NIÊN KHÓA 2011-2015

Đề tài:

QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM - Ở HUYỆN THẠNH TRỊ,
SÓC TRĂNG

Giảng viên hướng dẫn :

Sinh viên thực hiện:

ThS. Thạch Huôn

Thạch Thanh Tâm

Bộ môn: Luật Thương Mại

MSSV: 5116017
Lớp: Luật Tư Pháp 2 K37

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
---------...................................................................................................................

…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………...
...........................................................................................................................

Cần thơ, ngày….tháng….năm 2014
Giảng viên phản biện


Danh mục các từ viết tắt

DTTS:

Dân tộc thiểu số

LHQ:

Liên hợp quốc

ĐCSVN:


THCS DTNT:

Trung học cơ sở dân tộc nội trú

UBND:

Ủy ban nhân dân

PGD:

Phòng giáo dục

BT THPT:

Bổ túc Trung học phổ thông

PT DTNT:

Phổ thông dân tộc nội trú

DTNT:

Dân tộc nội trú


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Thạch Huôn, Bộ
môn Luật thương mại, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ. Trong suốt quá
trình em thực hiện luận văn này, mặc dù rất bận với công việc giảng dạy nhưng

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ...................................... 3
1.1. Các khái niệm liên quan đến quyền của người dân tộc thiểu số trong giáo
dục .........................................................................................................................3
1.1.1. Quyền con người và quyền công dân ........................................................3
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người .................................................................3
1.1.1.2. Khái niệm quyền công dân ...................................................................4
1.1.2. Người dân tộc thiểu số và quyền của người dân tộc thiểu số....................5
1.1.2.1. Khái niệm người dân tộc thiểu số.........................................................5
1.1.2.2. Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số ........................................6
1.1.3. Khái niệm giáo dục và quyền giáo dục......................................................8
1.1.3.1. Khái niệm giáo dục ..............................................................................8
1.1.3.2. Khái niệm quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số..........................9
1.1.4. Ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số trong giáo dục
hiện nay ............................................................................................................ 10
1.1.4.1. Ý nghĩa của giáo dục ......................................................................... 10
1.1.4.2. Nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số trong giáo dục .......................... 11
1.2. Những vấn đề đặc trưng về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh
vực giáo dục ......................................................................................................... 11
1.2.1. Sự khác nhau cơ bản giữa quyền của người dân tộc thiểu số và quyền tự
quyết dân tộc .....................................................................................................11
1.2.2. Tính chất quyền của người dân tộc thiểu số nói chung và quyền được
giáo dục nói riêng ............................................................................................. 12
1.2.2.1. Tính phổ biến (universal) ...................................................................12
1.2.2.2. Tính không thể chuyển nhượng (inalienable) .....................................12
1.2.2.3. Tính không thể phân chia (indivisible) ............................................... 12
1.2.2.4. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau(interrelated, interdependent) ......13
1.2.3. Các chủ thể tham gia vào đảm bảo quyền của người tộc thiểu số trong
lĩnh vực giáo dục............................................................................................... 13
GVHD: ThS. Thạch Huôn

2.1.2.1. Nghị định .......................................................................................... 32
2.1.2.2. Nghị quyết ......................................................................................... 33
2.1.2.3. Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 05 năm 2005 về việc phê
duyệt đề án “xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” ......................... 35
2.2. Một số chính sách và chủ trương tiêu biểu ................................................. 35
2.2.1. Sinh viên người dân tộc thiểu số được hỗ trợ chi phí học tập và miễn
giảm học phí......................................................................................................36
2.2.2. Chính sách cử tuyển................................................................................ 37
2.2.3. Chính sách đối với trẻ em tại cơ sở mầm non ......................................... 38
2.3. Thực trạng quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số ở huyện Thạnh Trị
....................................................................................................................... 39
2.3.1. Khái quát đặc điểm tình hình huyện thạnh trị ........................................ 39
2.3.2. Thực trạng về thực hiện quyền giáo dục, đào tạo người DTTS trên địa
bàn huyện Thạnh Trị ........................................................................................ 40
2.4. Một số giải pháp và kiến nghị ......................................................................46
GVHD: ThS. Thạch Huôn

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

2.4.1. Giải pháp .................................................................................................46
2.4.2. Kiến nghị .................................................................................................49

KẾT LUẬN .................................................................................................... 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: ThS. Thạch Huôn

trong những tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ của một xã hội.
Vấn đề quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục ở huyện Thạnh
Trị được xem là một vấn đề rất quan trọng trong xã hội hiện nay. Một vấn đề cần
được quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thế giới. Do đó người viết chọn đề tài
nghiên cứu về “Quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục theo
pháp luật Việt Nam - ở huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng” để hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài, người viết muốn làm rõ các quy định của pháp luật quốc gia
cũng như pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề quyền của người
DTTS trong giáo dục ở huyện Thạnh Trị. Qua đó, người viết muốn rút ra những mặt
còn tồn tại, thiếu sót cần được khắc phục từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị
nhằm làm tăng cường công tác đảm bảo Quyền giáo dục cho người DTTS trên địa
GVHD: ThS. Thạch Huôn

1

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

bàn huyện Thạnh Trị trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn đề tài, người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề chung
nhất về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục dựa trên những quy
định trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Hiến pháp năm 2013 và
quy định của Luật Giáo dục năm 2005, Sửa đổi bổ sung năm 2009, các văn bản dưới

dục
1.1.1. Quyền con người và quyền công dân
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định
nghĩa khác nhau (theo một tài liệu của Liên hợp quốc có đến gần 50 định nghĩa về
quyền con người được công bố).1 Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một gốc độ nhất
định và chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được
tất cả các thuộc tính của quyền con người.
Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự
nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của văn
phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà
nghiên cứu. Theo định nghĩa này quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu
(universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ và các nhóm chống lại những hành
động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự
được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.2
Bên cạnh định nghĩa trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo
đó quyền con người là những sự được phép (entilememts) mà tất cả thành viên của
cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…,
Quyền của con người có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định
nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights). Trên thế
giới, cộng đồng quốc tế cũng đều đi tới thống nhất về quyền con người bằng Bản
Tuyên ngôn quyền con người năm 1948 rằng quyền con người là quyền bẩm sinh vốn
có, bình đẳng với tất cả mọi người. Quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn
chế tùy tiện bởi bất cứ ai, nhà nước nào, quyền con người không thể phân chia và hạn
chế bất cứ một phần hay toàn bộ các quyền con người nào. Quyền con người là
những quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính,
nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kì một thân phận
nào khác. Mọi người được hưởng các quyền của mình bình đẳng và không có bị phân
biệt đối xử. Những quyền này có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và không tách rời nhau.


này là kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người,
cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này mọi thành viên trong gia đình
nhân loại mới bảo vệ được nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực
của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt
nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả được tôn trọng
và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.3
1.1.1.2. Khái niệm quyền công dân
Quyền công dân là một khái niệm xuất hiện cùng cách mạng tư sản. Cách mạng
tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành những công dân (với tư
cách là những thần dân bình đẳng trong một nhà nước) và pháp điển hóa các quyền tự
nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân. Như vậy về bản chất, các
quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp
dụng cho công dân mình. Nghĩa là, khi đề cập đến quyền công dân là đề cập tới một
bộ phận con người, theo quy định của pháp luật với tư cách là thành viên bình đẳng
trong nhà nước, từ đó mà quyền con người được thừa nhận một cách rộng rãi và bình
đẳng với ý nghĩa là quyền công dân. 4
Quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng và toàn diện của quyền con
người. Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa
công dân với Nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đó là chế
định quốc tịch. Quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của
3

Về vấn đề này, xem điều 2.8 Chương II, Tuy nhiên lưu ý là thẩm quyền tài phán chung cũng là vấn đề liên
quan đến một số ngành luật khác, cụ thể như luật hình sự quốc tế và luật nhân đạo quốc tế.
4
Trần ngọc đường : Bàn về quyền con người và quyền công dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, Tr 21.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

4

tốt các quyền công dân chính là thực hiện các nội dung quyền con người.
1.1.2. Người dân tộc thiểu số và quyền của người dân tộc thiểu số
1.1.2.1. Khái niệm người dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới
hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên
ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít. Trong
một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc
hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có
nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp
thống trị trong mỗi quốc gia và trên phương diện nhân chủng học.

5

Viện ngôn ngữ : Đại từ điển tiếng Việt, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội, Tr 1384.
Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, HàNội, 2004, Tr16.
6

GVHD: ThS. Thạch Huôn

5

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

Đứng trên phương diện nhân chủng học, các nhà nghiên cứu cho rằng dân tộc
thiểu số chia làm 2 thành phần:

người như những nhóm, cộng đồng gia đình khác trong nhân loại. Bên cạnh đó người
DTTS cũng là những chủ thể bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người
tức là quyền của họ được bảo vệ bằng các cơ chế pháp lý các văn kiện quốc tế liên
7

Xem: Minority Rights: international Standards and Guidance for Implement. ation (HR/PUB/10/30).

GVHD: ThS. Thạch Huôn

6

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

quan đến lĩnh vực này. Mặc dù đã có những văn kiện liên quan đến quyền của người
thiểu số như trên, nhưng chúng ta vẫn phải thiết lập và xây dựng các cơ chế văn kiện
về quyền của người dân tộc thiểu số.
Trên thực tế có hai loại quan điểm nói đến quyền của người thiểu số:
+ Quan điểm đầu tiên: Vấn đề về quyền của người thiểu số chỉ được xem xét
dưới gốc độ là cá nhân (individual rights). Cơ sở lý luận của quan điểm này là hầu hết
các văn kiện quốc tế cơ bản nhất có liên quan đến bảo vệ người thiểu số như: Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị
năm 1966, Tuyên ngôn về các quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về chủng
tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo năm 1992.
Tất cả đều đề cập đến vấn đề cá nhân, và thường diễn đạt theo một cách là “quyền
của những người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ” (the rights
of persons belonging to national or ethnic, religious or linguis minorities), chứ không

Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

chất của nhóm hay tập thể như: quyền được thụ hưởng nền văn hóa, thực hành tôn
giáo, được sử dụng tiếng nói, chữ viết riêng….
1.1.3. Khái niệm giáo dục và quyền giáo dục
1.1.3.1. Khái niệm giáo dục
Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một từ
gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere”. Có nghĩa là dẫn
(“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn
thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn.
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải
cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua
được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà
cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải có
những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự
chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người
để đảm bảo tồn tại xã hội.8 Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không
chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy. Như
vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt,
nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.
Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao
động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi. Khi xã hội ngày càng phát triển lên,
kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người
ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo
dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương
thức giáo dục khác có hiệu quả hơn. Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường,
được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày
càng tốt nhu cầu của xã hội.
Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và

- Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách
người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Sự ra đời và phát triển của
giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội. Một mặt, giáo dục phục vụ
cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu
như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra. Mặt khác, sự phát triển
của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng
cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại. Chính vì
vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội.
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là
hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền
đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập
đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây
cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước,
có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì
có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn. Với ý nghĩa đó,
giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và
trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục
là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và
phát triển xã hội.
1.1.3.2. Khái niệm quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số
Quyền con người là những giá trị vốn có của con người trong xã hội. Được thể
hiện qua những quyền cơ bản nhằm để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu cho bản thân
con người. Theo đó những quyền này được thừa nhận và tôn trọng trong xã hội loài
người, không một chủ thể, cơ quan nào có thể hạn chế hay chiếm đoạt các quyền ấy.
Trong đó có quyền giáo dục của người DTTS, Hiến pháp năm 2013 có quy định
“Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”.10 Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp,
Luật giáo dục năm 2005 có ghi nhận Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân: “Học
10

dục hiện nay
1.1.4.1. Ý nghĩa của giáo dục
Quyền của người dân tộc thiểu số trong giáo dục hiện nay có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với tất cả người dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam như:
- Làm cho người dân tộc thiểu số tin tưởng rằng Đảng và Nhà nước vẫn luôn quan
tâm, giúp đỡ đến họ. Từ đó những người DTTS sẽ ý thức được tầm quan trọng, lợi
ích của việc học mà quan tâm nhiều hơn đến việc học của con em mình, không ỷ lại
và không ngừng phấn đấu cho sự nghiệp phát triển nền giáo dục của Nước nhà cũng
nhằm để đáp ứng lại phần nào niềm tin tưởng của Đảng và Nhà nước đã quan tâm,
chăm lo đến mình.
- Khuyến khích, nâng cao chất xám cho nguồn nhân lực trẻ và tạo được nguồn
lực cho sự phát triển đất nước trong thời buổi nền công nghiệp hóa – hiện đại hóa
hiện nay. Vì thế hệ trẻ sau này là những chủ nhân tương lai của đất nước sinh thời
Chủ Tịch Hồ Chí Minh có nói “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,
dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm
châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.12

11

Điều 10, Luật giáo dục năm 2005.
Trích trong thư Bác Hồ gửi cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập năm
1945.
12

GVHD: ThS. Thạch Huôn

10

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Đảng và nhà nước đã ưu ái, giúp đỡ cho mình. Cần phấn đấu hơn nữa để hoàn thiện
nhân cách bản thân để trở thành những người có tài để phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng bảo vệ tổ quốc cũng như sự phát triển bền vững của giáo dục nói chung cũng
như đối với giáo dục người dân tộc nói riêng.
1.2. Những vấn đề đặc trưng về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh
vực giáo dục
1.2.1. Sự khác nhau cơ bản giữa quyền của người dân tộc thiểu số và quyền
tự quyết dân tộc
Quyền dân tộc tự quyết (The Right of seft determination) và Quyền của người
dân tộc thiểu số (The Right of Ethnic Minorities) là hai khái niệm tuy có mối quan hệ
GVHD: ThS. Thạch Huôn

11

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

với nhau, song chúng hoàn toàn khác nhau về nội dung, nhất là về bản chất và ý
nghĩa chính trị.
Khái niệm “dân tộc” trong cụm từ “ quyền dân tộc tự quyết” được dùng để chỉ
dân tộc/ quốc gia (nation). “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia, dân tộc,
đây còn là quyền làm chủ của mỗi dân tộc, quyền tự quyết định con đường phát triển
kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc mình. Còn quyền của các dân tộc thiểu số
(Ethnic Minority) chính là quyền công dân những quyền cơ bản về văn hóa - xã hội
của một bộ phận dân cư là nhóm người thiểu số về dân tộc trong một quốc gia nào đó.
Nói tóm lại quyền tự quyết dân tộc có ý nghĩa bao hàm rộng hơn quyền người dân
tộc thiểu số, quyền tự quyết dân tộc là những quyền chung nhất, cơ bản nhất. Còn


12

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

Tuy nhiên, liên quan đến tính không thể phân chia quyền của người thiểu số, cần
chú ý là trong thực tế, tùy những bối cảnh cụ thể và với những đối tượng cụ thể, có
thể ưu tiên thực hiện một số quyền con người nhất định (ví dụ, trong bối cảnh dịch
bệnh đe dọa, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế hoặc ở phạm
vi rộng hơn là một số điều ước quốc tế về một số quyền ưu tiên cần được bảo đảm đối
với phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số như: các Công ước về xóa bỏ tất
cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về quyền trẻ
em (CRC) đã đặt ra một số quyền ưu tiên cần được bảo đảm với phụ nữ, trẻ em). Cho
nên tính chất này rất cần đối với quyền của người DTTS vì họ được hưởng các quyền
đã quy định và không bao giờ bị phân chia.
1.2.2.4. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau(interrelated, interdependent)
Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền của người DTTS, toàn bộ hoặc một
phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Các quyền mà người
DTTS được hưởng sẽ phụ thuộc lẫn nhau, đảm bảo cho họ để họ thực hiện một cách
nghiêm túc và không bị vi phạm. Từ đó phát triển toàn vẹn quyền của mình để thực
hiện trong cuộc sống và hoạt động giáo dục để góp phần nâng cao ý thức và khả năng
hiểu biết của mình trong hoạt động giáo dục.
1.2.3. Các chủ thể tham gia vào đảm bảo quyền của người tộc thiểu số
trong lĩnh vực giáo dục
1.2.3.1. Chủ thể có quyền
Nói đến quyền được giáo dục của người dân tộc thiểu số thì chủ thể quyền ở đây

lịch sử tồn tại và phát triển cho thấy họ đã khẳng định tầm ảnh hưởng của mình đối
với đại đa số người dân trên khắp thế giới, có tác động tích cực vào chính sách pháp
luật của từng quốc gia.
Với tầm ảnh hưởng của mình, các tổ chức này góp phần rất quan trọng trong việc
bảo vệ và phát triển các quyền của người dân tộc thiểu số ở mọi nơi. Những tổ chức
Liên chính phủ thường có hoạt động liên quan đến chính trị của mỗi quốc gia. Có tác
động tích cực vào pháp luật của mỗi quốc gia nói chung và đối với những quyền của
dân tộc thiểu số nói riêng. Tuy nhiên các tổ chức phi chính phủ lại quy định hoạt
động vì các mục tiêu chính trị, được thành lập vì mục tiêu nhất định, thường mang
tính chất hỗ trợ vì sự phát triển của cộng đồng, bảo vệ con người nên được chào đón
nồng nhiệt hầu hết ở các quốc gia, vì lẽ đó nên đây cũng là chủ thể rất quan trọng
trong việc bảo vệ và phát triển quyền của người dân tộc thiểu số trên thế giới.
+ Các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quốc gia là thành viên của các công ước
về quyền dân tộc thiểu số
Đây chính là những chủ thể có liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ và phát triển
quyền của người dân tộc thiểu số. Các chủ thể này đóng vai trò là người thực hiện
việc bảo vệ và phát triển quyền. Đó có thể là những cơ quan có quyền lực Nhà nước
trong việc thực hiện những chính sách, công tác có liên quan đến người dân tộc thiểu
số. Các cá nhân là những chủ thể hằng ngày, hằng giờ và luôn là nhân tố quyết định
trong việc bảo vệ, phát triển các quyền của người dân tộc thiểu số. Các cơ quan, tổ
chức, quốc gia đều thực hiện các quyền của mình thông qua các cá nhân. Cá nhân ở
đây có thể bất kì ai, cũng có thể là giữa những người thiểu số với nhau. Cá nhân nghĩa là tất cả mọi người đang tồn tại, đều là những chủ thể trực tiếp thực hiện các
quyền này.14
1.2.4. Quyền của người dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam
Hiện nay, ở nước ta vấn đề liên quan đến quyền con người thể hiện ở khá nhiều
lĩnh vực. Trong Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: “Ở
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy
định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50). Với việc Hiến Pháp quy định những quyền
14

 Nhóm quyền Dân sự
Đây là một trong những nhóm quyền có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối
với mọi người. Ở nhóm quyền này quy định những quyền cơ bản mà tất cả mọi người
ai cũng có được, để phục vụ cho nhu cầu chính đáng của bản thân con người trong xã
hội, không một cá nhân, tổ chức nào có thể ngăn cản hay hạn chế các quyền đó như:
quyền được sống, quyền tự do đi lại và cư trú. Bên cạnh đó nhóm quyền còn quy định
sự bình đẳng trong việc thụ hưởng quyền giữa tất cả mọi người với nhau không phân
biệt nam, nữ, tầng lớp, giai cấp, độ tuổi đều được hưởng các quyền bình đẳng trước
tòa án và quyền được xét xử công bằng.…, Ngoài ra nhóm quyền này còn bảo vệ mọi
người trước những sự xâm phạm từ những yếu tố bên ngoài tác động đến bản thân
con người như quyền bất khả xâm phạm về danh dự, tính mạng, thân thể…
1.2.4.2. Quyền kinh tế, văn hóa - xã hội trong pháp luật Việt Nam
 Nhóm Quyền về lĩnh vực kinh tế
Đây là một trong những nhóm quyền cũng khá là quan trọng đối với người DTTS.
Quyền về các lĩnh vực kinh tế của người dân được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng
các quy định trong pháp luật (Hiến pháp) và các văn bản luật (luật Dân sự năm
2005)…, Ở nhóm quyền này người DTTS có quyền tự do hoạt động kinh tế để phát
triển cuộc sống và đáp ứng được các nhu cầu về vật chất, tinh thần cho bản thân, gia
đình và xã hội. Trong nhóm quyền này những người DTTS có quyền tự do trong hoạt
GVHD: ThS. Thạch Huôn

15

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

động kinh tế như mọi người, có quyền kinh doanh đối với những ngành, nghề mà

dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”.15 Đảng và nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục,
đào tạo. Ngay từ những ngày đầu chính quyền mới thành lập, tháng 9 năm 1945, Chủ

15

Điều 9, Luật giáo dục năm 2005.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

16

SVTH: Thạch Thanh Tâm


Quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật VN - Ở huyện
Thạnh Trị, Sóc Trăng

tịch Hồ Chí Minh đã đề ra một trong ba nhiệm vụ then chốt trong đó có “diệt giặt
dốt”.
Từ đó đến nay giáo dục thường xuyên được chú trọng, quan tâm và phát triển. Từ
khi Đảng và Nhà nước coi trọng việc giáo dục, công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu
số cũng được quan tâm nhiều hơn trước, trong việc nâng cao trình độ dân trí của
người DTTS qua đó nhằm cân bằng mặt bằng kiến thức chung của người dân, đào tạo
được nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong dân tộc thiểu số. Đồng thời thông qua
đó giáo dục cho họ có ý thức sống và làm việc phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật,
góp phần giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hóa, có tinh thần yêu
nước…
Tại Điều 10 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Mọi công dân không phân biệt
dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam, nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status