I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ XUN TRèNH
QUYềN CủA NGƯờI DÂN TộC THIểU Số THEO
QUY ĐịNH CủA LUậT PHáP QUốC Tế Và VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ XUN TRèNH
QUYềN CủA NGƯờI DÂN TộC THIểU Số THEO
QUY ĐịNH CủA LUậT PHáP QUốC Tế Và VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut quc t
Mó s: 60 38 01 08
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS NGUYN B DIN
H NI 2015
1.2.
Dân tộc thiểu số ................................................................................ 13
1.2.1. Lý luận về nhóm ngƣời thiểu số......................................................... 13
1.2.2. Lý luận về khái niệm "dân tộc thiểu số" ............................................ 17
1.2.3. Đặc điểm dân tộc thiểu số .................................................................. 24
1.2.4. Nhận thức chung về dân tộc thiểu số ở Việt Nam ............................. 26
Chương 2: QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ .................................. 40
2.1.
Khái quát các văn kiện quốc tế về quyền của người dân tộc
thiểu số ............................................................................................... 40
2.2.
Vấn đề có tính nguyên tắc trong việc ghi nhận và đảm bảo
quyền của DTTS ............................................................................... 48
2.2.1. Bình đẳng, không phân biệt đối xử .................................................... 48
2.2.2. Vai trò tích cực của các quốc gia ....................................................... 51
2.3.
Phạm vi quyền của người dân tộc thiểu số trong luật quốc tế ..... 54
2.4.
Các nhóm quyền cơ bản của người dân tộc thiểu số được luật
3.3.2. Nhóm các giải pháp về cơ chế thực thi pháp luật đảm bảo quyền
của DTTS ......................................................................................... 106
3.3.3. Nhóm các giải pháp về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền
của DTTS ......................................................................................... 108
KẾT LUẬN .................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 114
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CERD:
Công ƣớc quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt
chủng tộc 1965
DTTS:
Dân tộc thiểu số
ICCPR:
Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966
ICESCR:
Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa 1966
LHQ:
Liên hợp quốc
những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khƣớc từ
quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền đƣợc theo và thực hành tôn
giáo riêng, hoặc quyền đƣợc sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
1
Trong năm 1992, Đại hội đồng LHQ đã thông qua Tuyên bố về quyền
của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và
ngôn ngữ (the Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or
Ethnic, Religious and Linguistic Minorities). Diễn đàn về các vấn đề thiểu số
(the Forum on Minority Issues) đƣợc thành lập trong năm 2007 thay thế cho
Nhóm công tác LHQ về ngƣời thiểu số (the United Nations Working Group
on Minorities) đƣợc thành lập năm 1995.
Ở Việt Nam, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, có 54 dân
tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nƣớc, trong đó dân tộc Kinh có 73,594 triệu
ngƣời (chiếm 85,7%) và 53 DTTS có 12,253 triệu ngƣời (chiếm 14,3%). Các
DTTS có số lƣợng trên một triệu ngƣời, gồm: dân tộc Tày: 1.626.392 ngƣời,
chiếm 1,9%; dân tộc Thái: 1.550.423 ngƣời (1,8%); dân tộc Mƣờng:
1.268.963 ngƣời (1,5%); dân tộc Khmer: 1.260.640 ngƣời (1,5%) và dân tộc
Mông: 1.068.189 ngƣời (1,2%). Còn lại là các dân tộc dƣới 1 triệu ngƣời.
Trong đó có nhiều dân tộc chỉ vài trăm ngƣời nhƣ: Si La 709, Pu Péo 687, Rơ
Măm 436, Brâu 397, Ơ Đu 376 ngƣời [24].
Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết lâu đời trong sự nghiệp
đấu tranh xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. Trong mối quan hệ giữa
các dân tộc ở nƣớc ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên
suốt trong mọi thời kỳ lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc. Các dân tộc sinh sống
trên đất nƣớc ta trong những giai đoạn khác nhau, nhƣng đều có chung một
vận mệnh lịch sử. Đoàn kết gắn bó là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc
cũng nhƣ của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển. Sự liên kết
thành phần dân cƣ sớm có ý thức tự giác, cùng chung sống trong một đất
ngành, địa phƣơng và của cả hệ thống chính trị, đời sống về vật chất và tinh
thần của đồng bào DTTS đã đƣợc cải thiện đáng kể. Các quyền cơ bản của
đồng bào DTTS về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm sóc y
tế… đƣợc đảm bảo. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đời sống
3
của đồng bào DTTS ở nƣớc ta nhìn chung còn rất nhiều khó khăn, mặt bằng
dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và
miền ngƣợc. Việc thể chế quyền của DTTS bằng pháp luật cũng nhƣ cơ chế
thực hiện quyền của DTTS còn những bất cập.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quyền của người dân
tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” làm luận
văn thạc sĩ của mình, trên cơ sở đó có những giải pháp đề xuất sát hợp góp
phần bảo đảm quyền của ngƣời DTTS, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc.
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu quyền của ngƣời DTTS đƣợc quy định trong điều ƣớc quốc
tế và pháp luật quốc gia, việc thực hiện quyền của ngƣời DTTS ở Việt Nam.
Qua đó có nhận thức đúng đắn về quyền của ngƣời DTTS, góp phần thúc đẩy
việc bảo đảm các quyền của DTTS ở Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm DTTS trên cơ
sở quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia, của các học giả trong
nƣớc, quốc tế. Từ đó, làm rõ DTTS là một trong các nhóm ngƣời thiểu số,
nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng cần đƣợc bảo vệ mà quyền của họ đã đƣợc pháp
luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận.
- Đề tài nghiên cứu làm rõ các nhóm quyền của ngƣời DTTS đƣợc ghi
nhận trong các điều ƣớc quốc tế, đặc biệt là các điều ƣớc quốc tế mà Việt
Thông tin và Truyền thông; "Đảm bảo quyền phát triển kinh tế- xã hội của các
DTTS Việt Nam trong tình hình hiện nay"- Hoàng Xuân Lƣơng, Phó Chủ
nhiệm Ủy ban Dân tộc; "Một số vấn đề về quyền tham chính của người DTTS ở
Việt Nam"- Trung tƣớng Nông Văn Lƣu, Bộ Công an; "Quyền của các nhóm
DTTS trong bối cảnh quốc tế hiện nay"- Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị
5
quốc gia Hồ Chí Minh; "Quyền DTTS- Các tiêu chuẩn của cơ quan và quốc
tế"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề thiểu số của EU; "Kinh nghiệm
Châu Âu về các quyền DTTS thực tế"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các vấn đề
thiểu số của EU; "Khu vực Asean và DTTS"- Ewa Chylinski, Chuyên gia các
vấn đề thiểu số của EU… Dƣới gốc độ luận văn cao học, có đề tài “Hoàn thiện
pháp luật về quyền của người DTTS ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nông
Thị Kiều Diễm- Ths K17- Khoa Luật, ĐHQGHN.
Với cách tiếp cận của đề tài “Quyền của người dân tộc thiểu số theo
quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” tác giả mong muốn làm rõ
các quy định của luật pháp quốc tế, cũng nhƣ pháp luật quốc gia hiện nay về
các vấn đề liên quan đến quyền của ngƣời DTTS. Từ đó có những giải pháp,
kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật trong nƣớc, hợp tác quốc tế cũng nhƣ cơ
chế đảm bảo quyền của ngƣời DTTS ở nƣớc ta hiện nay.
4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các điều ƣớc quốc tế có quy định liên quan đến quyền
của DTTS.
- Nghiên cứu pháp luật quốc gia và chính sách của nhà nƣớc về DTTS.
- Nghiên cứu về tình hình, đặc điểm DTTS ở Việt Nam liên quan đến
việc thực hiện quyền của họ.
- Nghiên cứu về việc thực hiện quyền của DTTS của Chính phủ và Nhà
- Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền của dân tộc thiểu
số và các giải pháp đề xuất.
7
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Quyền con người
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con ngƣời hay còn gọi là nhân quyền (human rights) là vấn đề
có tầm quan trọng rất lớn trong sự phát triển văn minh nhân loại. Quyền con
ngƣời là thành tựu chung của cả loài ngƣời, là kết tinh của nền văn minh nhân
loại. Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con ngƣời hiện nay là sản
phẩm của cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của toàn thể nhân loại tiến bộ,
chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc.
Quyền con ngƣời là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh
vực nhƣ đạo đức, chính trị, pháp lý... Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định
nghĩa về quyền con ngƣời, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con ngƣời theo
những góc độ khác nhau. Thuật ngữ quyền con ngƣời lần đầu tiên có trong
nhiều đề xuất của các nƣớc Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh trong năm
1944 rồi sau đó đƣợc chính thức đƣa vào Hiến chƣơng LHQ năm 1945. Dù ở
góc độ nào, những đặc tính quan trọng nhất của quyền con ngƣời đƣợc tất cả
các văn kiện của LHQ công nhận. Quyền con ngƣời là một phạm trù đa diện,
do đó có nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một
góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhƣng không định nghĩa
nào bao hàm đƣợc tất cả các thuộc tính của quyền con ngƣời.
Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền
con ngƣời thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa
nhƣ là chuẩn mực đƣợc kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại,
áp dụng cho tất cả mọi ngƣời.
Xuất phát từ quan điểm khoa học, coi con ngƣời là một thực thể sinh
9
vật- xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã xem quyền con ngƣời là sự thống nhất
biện chứng giữa "quyền tự nhiên" (nhƣ một đặc quyền vốn có và chỉ có con
ngƣời mới có) và "quyền xã hội"- tức là sự chế định bằng các quy chế pháp lý
nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thể hiện sâu sắc các giá trị của các
quan hệ xã hội và mang bản chất xã hội. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng
khái niệm nhân quyền hay "quyền con ngƣời" là một phạm trù lịch sử. Quyền
con ngƣời không phải chỉ là các quyền mang tính tự nhiên mà luôn gắn với
cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã
hội trong từng thời kỳ. Quyền con ngƣời bao giờ cũng phụ thuộc vào phƣơng
thức sản xuất, với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị xã
hội ấy. Quyền con ngƣời luôn mang tính giai cấp. Mác đã chỉ ra rằng, tự do
của mỗi giai cấp là sự mất tự do của giai cấp đối lập. Trong xã hội có đối
kháng giai cấp không thể có sự bình đẳng, bình đẳng chỉ tồn tại trong nội bộ
của giai cấp cùng quyền lợi. Nhƣ vậy, bản chất xã hội, bản chất giai cấp quy
định nên bản chất của quyền con ngƣời. Quyền con ngƣời mang tính nhân loại
sâu sắc. Bởi vì nó là kết quả của cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao
động nhằm đập tan ách thống trị trên toàn thế giới giành lại quyền tự do chân
chính cho mình, là giá trị nhân văn cao quý nhất mà xã hội loài ngƣời hƣớng
tới, là sự giải phóng hoàn toàn cá nhân con ngƣời để phát triển toàn diện nhân
cách của mình.
Ngày nay, vấn đề quyền con ngƣời gắn rất chặt với các quyền dân tộc
cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia vì nó là một bộ phận của quá
trình phát triển nội tại của từng nƣớc. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng
Theo nhận thức chung, quyền con ngƣời có các đặc trƣng cơ bản là:
Tính phổ biến, tính không thể chuyển nhƣợng, tính không thể phân chia, tính
liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [15], cụ thể nhƣ sau:
- Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con ngƣời là những
gì bẩm sinh, vốn có của con ngƣời và đƣợc áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi
11
thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý
do gì, chẳng hạn nhƣ về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành
phần xuất thân... Con ngƣời, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc
những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn đƣợc công nhận là con ngƣời và
đƣợc hƣởng những quyền và sự tự do cơ bản.
- Tính không thể chuyển nhƣợng (inalienable): Trong quan niệm chung
của cộng đồng quốc tế, quyền con ngƣời không thể tùy tiện bị tƣớc bỏ hay hạn
chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức
nhà nƣớc. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp nhất định đƣợc pháp luật quy
định trƣớc, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con ngƣời.
- Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con
ngƣời đều có tầm quan trọng nhƣ nhau, về nguyên tắc không có quyền nào
đƣợc coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ
quyền con ngƣời nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát
triển của con ngƣời. Quyền con ngƣời đƣợc cấu thành bởi nhiều quyền, nhiều
yếu tố xoay quanh những giá trị cao quý của con ngƣời. Tất cả các yếu tố, tất
cả các quyền đều có giá trị nhƣ nhau, không phân biệt. Mọi khía cạnh về
quyền con ngƣời đều đƣợc bảo vệ nhƣ nhau trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Thể
hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con ngƣời, toàn bộ hoặc một phần, nằm
trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ
Court of International Justice - PCIJ, cơ quan tài phán của Hội Quốc Liên),
đƣa ra ý kiến tƣ vấn về vụ tranh cãi giữa hai nƣớc Hy Lạp và Bungari liên
quan đến vị thế của các cộng đồng nhập cƣ thiểu số ở hai nƣớc này. PCIJ xác
định một cộng đồng thiểu số là:
Một nhóm ngƣời sống trên một quốc gia hoặc địa phƣơng
nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngƣỡng,
ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm
13
thống nhất trong việc bảo lƣu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn
giáo, tín ngƣỡng và hƣớng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng
theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ [31].
Định nghĩa của PCIJ khẳng định để xác định là "ngƣời thiểu số" trƣớc
hết phải gắn với một quốc gia hoặc địa phƣơng nhất định và có những đặc
điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngƣỡng, ngôn ngữ và truyền thống. Có thể
thấy rằng PCIJ đã có những đóng góp đáng kể để định nghĩa trên đƣợc sử
dụng nhƣ là một định nghĩa chính thức về ngƣời thiểu số. Tuy nhiên, định
nghĩa của PCIJ cũng còn những hạn chế và gặp phải trở ngại. Những thuộc
tính nêu ra trong định nghĩa này quá rộng, còn chung chung chƣa rõ ràng, đặc
biệt là động chạm đến mối lo ngại thƣờng trực của các quốc gia về những rắc
rối về an ninh, trật tự xã hội có thể nảy sinh trong các vấn đề liên quan đến
ngƣời thiểu số.
Năm 1977, ông Francesco Capotorti, báo cáo viên đặc biệt của Tiểu
ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ ngƣời thiểu số của LHQ. Trong báo
cáo nghiên cứu công bố vào năm 1977, chuyên gia này định nghĩa “ngƣời
thiểu số” là:
... một nhóm ngƣời, xét về mặt số lƣợng, ít hơn so với phần dân
cƣ còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên
- Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn
ngữ, phong tục tập quán... mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số;
- Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi
mà họ đang sinh sống;
- Về đặc điểm chủ quan: Thành viên của cộng đồng ấy phải có ý thức
tự giác bảo tồn những đặc trƣng văn hóa của mình, có ý thức mình là thành
viên của cộng đồng ấy.
Thời kỳ đầu mới thành lập, LHQ không dành sự quan tâm thích đáng
đến vấn đề ngƣời thiểu số. Đa số các quốc gia thành viên khi đó đều cho rằng
15
vấn đề quyền của ngƣời thiểu số đã bao gồm trong vấn đề quyền con ngƣời
nói chung nên không cần thiết phải xây dựng những văn kiện hay cơ chế riêng
cho nhóm này. Chính vì vậy, năm 1946 khi Hung-ga-ri đã đƣa ra đề xuất ban
hành một điều ƣớc quốc tế về ngƣời thiểu số nhƣng chỉ nhận đƣợc rất ít sự
ủng hộ. Trong quá trình soạn thảo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
ngƣời (1948) cũng có ý kiến nêu rằng cần đƣa vào ít nhất một điều khoản đề
cập riêng đến quyền của ngƣời thiểu số, song ý kiến này cũng không nhận
đƣợc sự ủng hộ rộng rãi, chủ yếu do tính chất phức tạp của vấn đề.
Tuy nhiên, tƣơng tự nhƣ các nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng khác, cần
hiểu rằng ngƣời thiểu số cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con ngƣời.
Quyền của nhóm này đã đƣợc đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong
một số điều của UDHR, trong đó bao gồm: Điều 18 (về tự do tôn giáo), Điều
19 (về tự do ngôn luận và ý kiến), Điều 20 (về tự do hội họp, lập hội), Điều
26 (về tự do lựa chọn hình thức giáo dục), Điều 27 (về tự do tham gia vào đời
sống văn hóa của cộng đồng), và đặc biệt là Điều 2 (về nguyên tắc bình đẳng,
không phân biệt đối xử trong việc hƣởng thụ các quyền con ngƣời)...
Mặc dù gặp khó khăn trong việc pháp điển hóa các quyền của ngƣời
số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nƣớc [23, Điều 5].
Tuy nhiên, đến nay chƣa có một khái niệm pháp lý mang tính toàn cầu
nào chỉ rõ nội hàm của khái niệm "dân tộc thiểu số" đạt đƣợc sự đồng thuận
cao của các quốc gia.
Tùy theo từng bộ môn, lĩnh vực nghiên cứu hay quan điểm của mỗi
quốc gia, DTTS (minorité ethnique, ethnic) là thuật ngữ có nhiều định nghĩa
khác nhau trên thế giới.
- Các nhà nghiên cứu nhân chủng học, cho rằng DTTS gồm 2 thành
phần: DTTS có nguồn gốc lịch sử (minorités historiques) là tập thể tộc ngƣời
đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà ngƣời ta thƣờng gọi là dân tộc bản
địa (peuples autochtones); DTTS di cƣ (minorités immigrées) là những ngƣời
nƣớc ngoài sang định cƣ tại một quốc gia đã có chủ quyền.
17
- Trên phƣơng diện chính trị, trên các diễn đàn LHQ, các quốc gia luôn
đƣa ra các khái niệm khác nhau về DTTS phụ thuộc vào chế độ chính trị và
lợi ích các quốc gia. Có thể nói rằng vấn đề DTTS (sắc tộc) là vấn đề nhận
đƣợc nhiều sự quan tâm nhất của tất cả các quốc gia thành viên LHQ, ở cấp
độ toàn cầu cũng nhƣ ở các khu vực khác nhau trên thế giới và cũng là vấn đề
gây nhiều tranh cãi nhất, luôn có những ý kiến trái chiều.
- Đáng chú ý, năm 1992 Đại hội đồng LHQ đã thông qua thuật ngữ
“dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của Gs. Francesco Capotorti
(đặc phái viên của LHQ) đã đƣa ra vào năm 1977:
Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm ngƣời:
a. Cƣ trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ
là công dân của quốc gia này
b. Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống
c. Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và
ngôn ngữ của họ