I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V TH O
Sở HữU CHéO TRONG LĩNH VựC NGÂN HàNG
THEO PHáP LUậT VIệT NAM HIệN NAY
LUN VN THC S LUT HC H NI - 2014
I HC QUC GIA H NI
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Vũ Thị Đào MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Kết luận Chƣơng 2 61
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ SỞ HỮU CHÉO Ở VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
SỞ HỮU CHÉO TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 62
3.1. Thực trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam
hiện nay 62
3.1.1. Các loại hình sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay 62
3.1.2. Thực trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay 66
3.2. Một số định hƣớng hoàn thiện pháp luật về sở hữu chéo trong
lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 76
3.2.1. Luật hóa vấn đề sở hữu chéo và tăng cường hoạt động quản lý nhà
nước về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng. 76
3.2.2. Tiến hành rà soát các tỷ lệ sở hữu cổ phần tại các tổ chức tín dụng để
có cơ sở đưa ra giải pháp khống chế tỷ lệ sở hữu chéo 79
3.2.3. Nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của các quy định về kế toán, an
toàn trong lĩnh vực ngân hàng đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế 81
3.2.4. Bổ sung quy định người có liên quan, người sở hữu cuối cùng và
hoàn thiện các quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần 82
3.2.5. Nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp trong nội bộ của các ngân
hàng thương mại 84
3.2.6. Bổ sung thêm các chế tài theo hướng xử lý hình sự để xử lý các hành
vi vi phạm các quy định liên quan đến sở hữu chéo 85
3.2.7. Bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật đối với hoạt động công bố
thông tin về tỷ lệ sở hữu cổ phần 86
3.2.8. Ban hành các quy định pháp luật đảm bảo sự tách bạch chức năng
Ngân hàng đầu tư và Ngân hàng thương mại 87
3.2.9. Tăng cường thanh tra, giám sát tài chính đối với hệ thống ngân hàng 89
Kết luận Chƣơng 3 91
KẾT LUẬN 93
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Danh mục vốn pháp định của TCTD theo Nghị định
141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006
38
Bảng 2.2:
Cổ phần của ngân hàng nắm giữ bởi các doanh
nghiệp tại Nhật Bản giai đoạn 1989 - 1996
46
Bảng 2.3:
Cấu trúc sở hữu các doanh nghiệp tại Đức tính theo
khối lượng cổ phiếu lớn (có quyền biểu quyết lớn)
55
Bảng 2.4:
Tỷ trọng doanh nghiệp có giám đốc ngân hàng là
thành viên của ban giám sát với vị trí Chủ tịch hoặc
Phó Chủ tịch
55
Bảng 3.1:
Quan hệ sở hữu chéo tại các ngân hàng liên doanh
63
Bảng 3.2:
Sở hữu cổ phần của một số ngân hàng nước ngoài
tại các NHTM trong nước
64
Bảng 3.3:
Lộ trình giải quyết sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân
hàng ở Việt Nam
77
9
Sơ đồ 1.3:
Sở hữu chéo dạng bức xạ điều chỉnh ở tập đoàn
Allianz
9
Sơ đồ 3.1:
Cổ đông chiến lược tại các NHTMNN,
NHTMCP và NHLD
65
Sơ đồ 3.2:
Doanh nghiệp nhà nước sở hữu các Ngân hàng
thương mại cổ phần
69
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiền được ví như huyết mạch của nền kinh tế và các tổ chức tín dụng, ngân
hàng được so sánh như là hệ tuần hoàn để lưu chuyển những dòng huyết mạch đó
đến với người cần vốn trong thị trường. Sở hữu chéo, bản thân nó mang rất nhiều
ưu điểm và có tác động tích cực tới hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhưng nếu
không được nhận thức đúng bản chất, được quản lý bởi một hệ thống pháp luật tốt
và các đối trọng khác một cách hiệu quả sẽ gây ra nhiều biến thể có tác động tiêu
cực, ảnh hưởng xấu tới sự bình ổn của thị trường ngân hàng nói riêng và nền kinh tế
nói chung trong đó pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bởi vậy, việc nghiên
cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh hoạt động của
hệ thống ngân hàng trong đó đặc biệt đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật Việt
một cách có hệ thống với quy mô của một đề tài khoa học. Luận văn này sẽ góp
phần khỏa lấp khoảng trống đó.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về vấn đề sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng;
- Làm rõ, phân tích các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề sở hữu chéo
trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay;
- Chỉ ra những bất cập của các quy định pháp luật Việt Nam về sở hữu chéo trong
lĩnh vực ngân hàng;
- Đưa ra một số định hướng nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về sở hữu
chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm, đường lối
của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn này bao
gồm: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp tổng hợp, thống kê, phương
pháp phân tích, phương pháp quan sát, …v.v để làm rõ các nội dung nghiên cứu
thuộc đề tài.
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Sở hữu chéo là một vấn đề không hề mới trên thế giới nhưng lại là một thực 3
trạng đang rất nóng, gây nhiều bức xúc và tiềm ẩn những rủi ro khôn lường đối với
thị trường ngân hàng tại Việt Nam. Hiện nay, có khá nhiều bài viết, nghiên cứu,
phân tích về sở hữu chéo tại Việt Nam nhưng lại chủ yếu đi sâu tìm hiểu các vấn đề
về mặt tài chính, kinh tế mà chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chính
thống nghiên cứu về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sở hữu chéo trong
lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam hiện nay.
Đề tài mà tác giả lựa chọn nhằm phân tích các bất cập về pháp lý, thực tiễn
Trên thế giới, khái niệm về sở hữu chéo đã được các nhà nghiên cứu đưa ra
trong các nghiên cứu dựa trên định nghĩa về sở hữu và có thể hiểu đơn giản là hiện
tượng doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần tại doanh nghiệp khác. Sở hữu chéo
(cross ownership) là một hiện tượng phổ biến trên thế giới và là chủ đề nghiên cứu
lớn trong giới học thuật, được giới thiệu như là một chiến lược quản trị doanh
nghiệp. Sở hữu chéo là hiện tượng các doanh nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau cho
những mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu này có thể là việc thực hiện chiến lược phát
triển của doanh nghiệp, mặc dù sở hữu chéo có thể ảnh hưởng tiêu cực tới các
doanh nghiệp khác nhưng cũng có thể tạo ra lợi ích cho các bên liên quan; hoặc
mục tiêu chống lại những quy định của pháp luật về đảm bảo đủ vốn. Alberto và
Alessia (2009) định nghĩa: “Sở hữu chéo là việc các doanh nghiệp bao gồm cả công
nghiệp và tài chính nắm giữ cổ phần dài hạn tại các doanh nghiệp khác” [22].Sở
hữu cổ phần thường có mối quan hệ qua lại khi doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần
của doanh nghiệp khác và cổ phần của bản thân doanh nghiệp đó lại được nắm giữ
bởi các doanh nghiệp còn lại, tạo nên một hệ thống sở hữu chéo giữa các doanh
nghiệp và ngân hàng. Mark Scher (2001) nhận định: “Sở hữu chéo là việc hai doanh
nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau. Các doanh nghiệp có thể cùng ngành, có thể là
nhà cung cấp và khác hàng, hoặc là chủ nợ với con nợ” [30]. Tác giả Đinh Tuấn
Minh (2013) định nghĩa “sở hữu chéo là hiện tượng doanh nghiệp này chiếm giữ cổ
phần tại doanh nghiệp khác”[9].
Sở hữu chéo thường được sử dụng để củng cố mối quan hệ giữa các doanh
nghiệp đặc biệt là đối với các ngân hàng. Sở hữu chéo đã phát triển phổ biến ở
nhiều quốc gia trên thế giới, chủ yếu tại các quốc gia có thị trường tín dụng và hệ
thống NHTM với quy mô và vai trò quan trọng hơn thị trường chứng khoán, trong 5
đó có Đức, Nhật Bản, Italy, Ấn Độ, Trung Quốc… Ví dụ, tại Nhật Bản, một loại
hình sở hữu chéo truyền thống sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai được gọi là hệ
thống ngân hàng chính của Nhật Bản (Japanese main bank system) và một loại hình
chéo trong hệ thống ngân hàng là việc một hay nhiều ngân hàng nắm giữ cổ phần
của nhau thông qua mua bán cổ phần hoặc có thể đầu tư vào ngân hàng khác thông
qua công ty con hoặc ủy thác đầu tư qua một bên trung gian.
Nếu như vấn đề sở hữu chéo đối với hệ thống các tổ chức tín dụng đã mang
đến không ít hệ lụy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn hệ thống và thường được
dư luận nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực thì sở hữu chéo đối với các doanh nghiệp
thuộc các ngành nghề khác chưa hẳn là tiêu cực. Đặc biệt, trong giai đoạn mà cả
nền kinh tế, các ngành nghề và bản thân các doanh nghiệp đứng trước áp lực phải
tái cơ cấu để nâng cao năng lực cạnh tranh thì đôi khi sở hữu chéo lại giúp nâng cao
mức độ tích tụ vốn và cơ cấu cổ đông, tạo thuận lợi cho các kế hoạch tái cấu trúc.
Đơn cử như ngành mía đường, hiện đang đứng trước thách thức rất lớn vì từ ngày
01 tháng 01 năm 2015, đường nhập khẩu vào Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập
khẩu xuống còn 0% (từ mức 5% hiện nay) theo Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA). Ngoài ra, các biện pháp bảo hộ bằng cấp hạn ngạch cũng sẽ phải
gỡ bỏ để đáp ứng nhu cầu hội nhập. Với thực trạng sản xuất manh mún, năng suất
cây mía thấp, hệ thống phân phối chịu sự thao túng của các đại lý, siêu thị, giá
đường bán lẻ đến tay người tiêu dùng của các doanh nghiệp sản xuất nội địa hiện
đều ở mức rất cao, cao hơn đường cùng loại nhập từ Thái Lan khoảng 2.000-3.000
đồng/ki lô gam (tương đương 15%). Các doanh nghiệp mía đường cần có vùng
nguyên liệu ổn định, sản xuất quy mô lớn mới mong hạ giá thành sản phẩm. Tập
đoàn Thành Thành Công hiểu rất rõ điều này và đã thông qua một loạt “nước cờ”
như mua cổ phần, M&A tại Công ty cổ phần mía đường Thành Thành Công Tây
Ninh (SBT), Công ty cổ phần mía đường Biên Hòa (BHS), Công ty cổ phần mía
đường Ninh Hòa (NHS), Công ty cổ phần mía đường Nhiệt điện Gia Lai (SEC).
Chính nhờ lợi thế về sở hữu chéo, các quyết định của Thành Thành Công liên quan
đến việc M&A các doanh nghiệp cùng họ mía đường mới diễn ra nhanh chóng và
dễ dàng như vậy. Trường hợp của Công ty cổ phần Hùng Vương (HVG) trong
ngành thủy sản cũng vậy, việc sở hữu chéo tại các công ty thủy sản cùng ngành đã 8
1.1.2.2. Phân loại trên cơ sở cấu trúc nắm giữ cổ phần
- Sở hữu chéo trực tiếp: cổ phần của doanh nghiệp được nắm giữ trực tiếp
bởi doanh nghiệp khác và ngược lại (hay còn gọi là sở hữu chéo đơn thuần). Ví dụ:
ngân hàng A nắm 20% cổ phần của ngân hàng B; đồng thời, ngân hàng B nắm 10%
cổ phần của ngân hàng A.
Nguồn: Guo và Yakura (2010)
Sơ đồ 1.1: Phân loại sở hữu chéo trên cơ sở cấu trúc nắm giữ cổ phần
- Sở hữu chéo gián tiếp: cổ phần của doanh nghiệp được nắm giữ bởi các
doanh nghiệp khác có mối quan hệ sở hữu lẫn nhau trên cơ sở sở hữu chéo trực tiếp,
tạo ra một mạng lưới nắm giữ cổ phần phức tạp. Sở hữu chéo gián tiếp có thể được
chia thành 05 loại sau:
Sở hữu chéo gián tiếp dạng thẳng (straight): Ví dụ: ngân hàng A nắm 20% cổ
phần của ngân hàng B, ngân hàng B nắm 40% cổ phần của ngân hàng C, và ngân
hàng C nắm 10% cổ phần của ngân hàng A.
Sở hữu chéo gián tiếp dạng vòng (circulation): Ví dụ: ngân hàng A nắm 20% cổ
phần của ngân hàng B, ngân hàng B nắm 10% cổ phần của ngân hàng A. Ngân hàng A
nắm 40% cổ phần của ngân hàng C, và ngân hàng C nắm 10% cổ phần của ngân hàng
A. Ngân hàng D nắm 40% cổ phần của ngân hàng B và 30% cổ phần của ngân hàng C,
hai ngân hàng B và C mỗi ngân hàng nắm 10% cổ phần của ngân hàng D. 9
Nguồn: Korea Investment & Security
Sơ đồ 1.2: Sở hữu chéo gián tiếp dạng vòng ở tập đoàn Samsung
Ngoài ra, còn một số loại sở hữu chéo khác như: Sở hữu chéo gián tiếp bức
phủ, trong đó có việc thiết lập một liên minh sở hữu chéo. Trong liên minh này,
ngân hàng có thể tiến hành cho vay một doanh nghiệp thuộc quyền kiểm soát của
ngân hàng và sử dụng vốn vay được để tiến hành đầu tư ngược lại thông qua việc
mua cổ phần phát hành mới của ngân hàng. Do nguồn vốn dùng để cho vay doanh
nghiệp có thể đến từ nguồn vốn huy động từ nền kinh tế của ngân hàng nên lượng
vốn dùng cho hoạt động này đủ để đáp ứng quy định của Chính phủ về vốn điều lệ
tối thiểu. Ở Việt Nam, với mục tiêu nâng cao năng lực tài chính, Ngân hàng nhà
nước đã quy định, các ngân hàng thương mại phải có vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ
đồng. Áp lực tăng vốn là cực kỳ khó khăn bởi các ngân hàng chủ yếu huy động vốn
qua việc phát hành cổ phiếu, bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, các quỹ đầu
tư nhưng thị trường chứng khoán suốt từ năm 2008 đến nay đang lâm vào tình
trạng sụt giảm nên việc tăng vốn rơi vào bế tắc. Đó cũng chính là lý do Chính phủ 11
gia hạn thời gian tăng vốn đến cuối năm 2011 tuy nhiên trên thực tế, chứng khoán
năm 2011 còn sụt giảm mạnh hơn, đặc biệt là tình trạng mất thanh khoản kéo dài
nên việc phát hành thêm, niêm yết hay kêu gọi sự tham gia của cổ đông chiến lược
trong và ngoài nước càng khó. Có thể nói, áp lực tăng vốn cộng hưởng với tình hình
huy động vốn gặp khó khăn buộc các ông chủ nhà băng phải tìm cách xoay sở, một
trong các cách đó là tăng vốn thông qua sở hữu chéo để rồi kết quả đạt được là
thành tích xuất sắc tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng của các NHTM. Chưa kể nhiều ngân
hàng lớn, dù không nằm trong nhóm phải chạy đua tăng vốn theo quy định cũng
liên tục công bố tăng vốn thêm từ một ngàn tới vài ngàn tỷ.
Thứ hai, Pháp luật về ngân hàng ở nước ta còn tồn tại nhiều kẽ hở dẫn đến
việc các ngân hàng lợi dụng để vi phạm và hình thành hệ thống sở hữu chéo trong
lĩnh vực ngân hàng. Pháp lệnh về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính năm 1990 quy định: “Tổ chức tín dụng chỉ được dùng vốn tự có và quỹ dự trữ
để hùn vốn hoặc mua cổ phần, nhưng không quá 10% vốn của công ty, xí nghiệp mà
mình hùn vốn hoặc mua cổ phần" [14, Điều 28]. Luật Các tổ chức tín dụng năm
hàng thương mại và ngân hàng đầu tư khiến cho nhiều NHTM đã thực hiện các
nghiệp vụ đúng ra chỉ nên được thực hiện bởi các ngân hàng đầu tư. Các NHTM
được phép thành lập các công ty con trực thuộc tham gia vào các lĩnh vực như
chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính và nắm giữ cổ phần của các doanh
nghiệp có chức năng đầu tư chứng khoán, nắm giữ cổ phần của chính ngân hàng.
Thứ ba, thị trường vốn kém phát triển khiến cho hiện tượng sở hữu chéo gia
tăng do áp lực về vốn đối với các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng. Trình độ phát
triển của thị trường chứng khoán Việt Nam còn hạn chế dẫn tới khả năng cung cấp
nguồn vốn dài hạn cho hệ thống doanh nghiệp bị giới hạn, tạo áp lực cấp vốn dài
hạn lên hệ thống ngân hàng. Thực hiện vai trò cung cấp nguồn vốn trung, dài hạn
cho hệ thống doanh nghiệp dẫn tới mức độ rủi ro về tín dụng và thanh khoản đối với
hệ thống ngân hàng tăng lên đáng kể. Với việc cung cấp lượng vốn lớn cho doanh
nghiệp cũng như nhằm bảo đảm an toàn lẫn hiệu quả sinh lời cho hoạt động kinh
doanh của mình, các ngân hàng cần phải tham gia sâu hơn vào hoạt động kinh
doanh của chính doanh nghiệp vay vốn. Về phía các doanh nghiệp cũng mong muốn
có được một nguồn cung ứng vốn dài hạn và ổn định, từ đó làm phát sinh thêm cơ 13
hội cho ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện các giải pháp làm tăng cường mối liên
hệ giữa các bên dẫn đến hình thành sở hữu chéo.
Thứ tư, việc thiếu vắng nguồn nhân lực quản lý cấp cao, đặc biệt là nguồn
nhân lực quản lý tài chính tại các ngân hàng có quy mô nhỏ, khiến cho các ngân
hàng lớn, có tiềm lực về tài chính khi cho vay thường muốn có sự tham gia vào hoạt
động quản trị của ngân hàng vay nhằm giám sát được việc sử dụng vốn và hoạt
động kinh doanh. Mục đích này có thể thực hiện thông qua việc nắm giữ cổ phần,
tham gia vào ban quản trị, hoặc ban giám sát của doanh nghiệp. Mục tiêu của ngân
hàng cho vay chủ yếu là bảo đảm nguồn vốn vay ngân hàng này được sử dụng đúng
mục đích, hiệu quả và xây dựng mối quan hệ vững chắc giữa người cho vay và
người đi vay. Đồng thời, việc ngân hàng nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp mà
cổ phần của ngân hàng, qua đó tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu (trực tiếp và gián tiếp)
và tương ứng là quyền sở hữu, kiểm soát ngân hàng.
Thứ tám, thực hiện sự chỉ đạo của cơ quan quản lý Nhà nước, một số ngân
hàng thuộc sở hữu Nhà nước đã tiến hành đầu tư vốn vào các NHTM hoặc ngân
hàng liên doanh với các mục tiêu khác nhau như hỗ trợ ngân hàng mới thành lập
phát triển hoặc mở rộng mạng lưới hoạt động. Từ nhiều năm trước khi việc thành
lập hệ thống ngân hàng cổ phần được thực thi, sự hiện diện của những ngân hàng
quốc doanh nhằm mục đích hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp
lý nếu có cũng như những yếu kém ban đầu từ phía các ngân hàng cổ phần mới
được thành lập. Trong bối cảnh bấy giờ, sự thận trọng này là cần thiết. Ngoài ra, xét
từ góc độ nghiệp vụ, các ngân hàng quốc doanh lớn đã chia sẻ kinh nghiệm kinh
doanh, quản trị thậm chí chia sẻ cả nguồn nhân lực với tất cả các ngân hàng họ góp
vốn. Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt
Nam, ảnh hưởng của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiều biến đổi. Đây cũng là
một trong những nguyên nhân hình thành sở hữu chéo giữa các ngân hàng có vốn
nhà nước và các ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng liên doanh.
1.3. Tác động của sở hữu chéo đối với hệ thống ngân hàng thƣơng mại
Về bản chất, sở hữu chéo chỉ là việc hai hay nhiều doanh nghiệp, ngân hàng
nắm giữ cổ phần của nhau, phục vụ cho nhiều mục đích trong đó điển hình là tăng
cường mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, nhiều bên cùng có lợi. Tuy nhiên, trong thực tế, 15
sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng tạo ra những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực
phụ thuộc vào mục đích cụ thể dẫn tới tình trạng sở hữu chéo.
1.3.1. Tác động tích cực của sở hữu chéo
Thứ nhất, sở hữu chéo giúp các NHTM phòng ngừa những cuộc thâu tóm và
sáp nhập từ các tổ chức khác, trong đó có cả các ngân hàng là đối thủ cạnh tranh. Sở
hữu chéo có khả năng giữ ổn định quyền hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện các
hoạt động kinh doanh, đầu tư, và tài chính trong dài hạn trước áp lực bị can thiệp về