Luận văn
Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tự chủ
tài chính tại Trung tâm Hướng
nghiệp và Giáo dục thường xuyên
tỉnh Quảng Ninh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, trích dẫn có nguồn gốc
rõ ràng. Các đánh giá, kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó.
Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2013
Tác giả
Chu Hà Tịnh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh
doanh trường Đại học Mỏ địa chất đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập
cũng như thực hiện Luận văn. Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là hành trang
giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Đinh Đăng Quang đã
tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp. Nhờ có sự
hướng dẫn của thầy mà tôi đã hoàn thành được Luận văn của mình và tích luỹ được
nhiều kiến thức quý báu trong môi trường tôi đang công tác.
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều trong
thời gian vừa qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc
và thành đạt trong cuộc sống ./.
Tác giả
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
GD&ĐT ở Việt Nam 22
1.3.2 Tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp GD&ĐT tại
Việt Nam thời gian qua 23
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG
TÂM HƯỚNG NGHIỆP VÀ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH QUẢNG NINH THÔNG
QUA GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 29
2.1. Khái quát về Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục thường xuyên (GDTX) tỉnh Quảng
Ninh 29
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm Hướng nghiệp và GDTX tỉnh Quảng
Ninh 29
2.1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Hướng nghiệp và GDTX tỉnh
Quảng Ninh 29
2.2. Cơ chế tự chủ tài chính và thực trạng thực thi cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Hướng
nghiệp và GDTX tỉnh Quảng Ninh 32
2.2.1. Sự hình thành cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Hướng nghiệp và GDTX tỉnh
Quảng Ninh 32
2.2.2. Thực trạng thực thi cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Hướng nghiệp và GDTX tỉnh
Quảng Ninh 33
2.2.3 Đánh giá chung thực trạng thực thi cơ chế tự chủ tài chính 65
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI
TRUNG TÂM HƯỚNG NGHIỆP VÀ GDTX TỈNH QUẢNG NINH 69
3.1. Phương hướng phát triển của Trung tâm Hướng nghiệp và GDTX tỉnh Quảng Ninh 69
3.1.1. Quan điểm đầu tư, phát triển giáo dục đào tạo của Đảng và Nhà nước về giáo dục
thường xuyên 69
3.1.2. Phương hướng phát triển của Trung tâm Hướng nghiệp và GDTX tỉnh Quảng Ninh 71
3.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ trong việc huy động nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ
chi 73
3.2.1. Giải pháp về bộ máy tổ chức. mô hình quản lý tài chính 73
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra giám sát nội bộ khi thực thi quyền tự chủ tài chính 77
3.3.1 Giải pháp liên quan đến quy trình lập kế hoạch ngân sách 77
Biểu đồ 2.4: Thực hiện chi thường xuyên từ nguồn kinh phí tự chủ giai đoạn 2008 - 2012 51
Biểu đồ 2.5: Chi từ nguồn sự nghiệp giai đoạn 2008 - 2012 60
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được xác
định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Trong
những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân sách nhà nước còn nhiều khó
khăn, Nhà nước vẫn quan tâm dành một tỷ lệ ngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo
dục. Với nguồn ngân sách đó, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, trên thực tế cũng tồn tại nhiều bất cập như: quản lý
ngân sách giáo dục rất phân tán, mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn rất thấp so với
nhu cầu, định mức phân bổ ngân sách chưa gắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất
lượng đào tạo, chế độ học phí còn thấp không phù hợp với mặt bằng giá cả, việc
quản lý các nguồn thu tại các cơ sở giáo dục còn chưa được kiểm soát. Cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chính trong các cơ sở
giáo dục công lập nhìn chung còn nhiều hạn chế về tác dụng…
Năm 2012, NSNN dành cho giáo dục tăng 5,4% so với năm 2011 đạt 5.762
tỷ đồng. Riêng dự toán chi thường xuyên là 4.832 tỷ đồng tăng 15% sơ với năm
2011, chi đầu tư phát triển là 929 tỷ đồng tăng 3,5% so với năm 2011. Năm 2012 là
năm thứ 2 việc phân bổ ngân sách chi thường xuyên được thực hiện trên nguyên tắc
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.
Việc tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính mới chỉ giao quyền tự chủ về
nội dung chi nhưng mức thu vẫn phải thực hiện theo quy định chung, do đó các đơn
vị được giao vẫn gặp khó khăn về tổng kinh phí hoạt động.
Nghị định 10/2002/NĐ-CP và sau này Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày
25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định
43/2006/NĐ-CP ra đời, đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý
tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, chuyển đổi cơ chế tài chính của các cơ sở
bất cập cần phải được nghiên cứu xây dựng một cơ chế tài chính hoàn thiện.
2
Xuất phát từ những phân tích trên, Tác giả chọn đề tài nghiên cứu là:
“Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Hướng nghiệp
và Giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung,
phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo
dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn
thiện cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp, nguồn thu tại cơ
sở… góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, tạo điều kiện cải thiện
chất lượng giáo dục đào tạo, tổ chức sắp xếp lại bộ máy hoạt động, tăng thu nhập
cho người lao động.
3. Đôi tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Về lý luận: Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài
chính trong cơ sở giáo dục- đào tạo nói chung và tại Trung tâm Hướng nghiệp và
Giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
- Về thực tiễn: Nghiên cứu mô hình quản lý tài chính tại Trung tâm Hướng
nghiệp và Giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh khi phải thực hiện đồng thời ba
nhiệm vụ: Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề theo ba Quy chế khác
nhau của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu, khảo sát cơ chế quản lý tài chính tại Trung tâm
Hướng nghiệp và Giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm thực hiện
(năm 2008, 2009, 2010,2011, 2012).
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà
nước về cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp nói chung và trong các
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU NÓI CHUNG VÀ CÁC CƠ SỞ
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NÓI RIÊNG
1.1. Một số vấn đề cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp
công lập
1.1.1. Khái niệm, phân loại đơn vị sự nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm
Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện
các hoạt động sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế… Những hoạt
động này nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận.
1.1.1.2. Phân loại đơn vị sự nghiệp
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực
hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động).
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự
nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động).
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu,
kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước
bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà
nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời
gian 3 năm. Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp. Trong thời
gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có sự tha đổi chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh, phân loại lại
cho phù hợp.
5
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập là hết
sức cần thiết, xuất phát từ những lý do sau đây:
Một là, xuất phát từ thực trạng bộ máy quản lý của Nhà nước và yêu cầu
nâng cao năng lực, hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước: Những năm
6
qua, nền kinh tế quốc gia đã chuyển dần sang phương thức quản lý hoạt động theo
pháp luật, bộ máy hành chính Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung,
dân chủ, ngày càng thực hiện có hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên quá trình đó cũng
xuất hiện nhiều vấn đề mới và bộc lộ rõ hơn những vấn đề yếu kém. Bộ máy tổ
chức Nhà nước chưa thực sự khoa học, chưa thực sự đổi mới còn cồng kềnh, trì trệ,
chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, quan hệ ngang dọc chưa hợp lý, phân quyền,
phân công phối hợp còn thiếu rõ ràng, chưa chặt chẽ, còn quá nhiều đầu mối làm
giảm sức quản lý vĩ mô phân tán nguồn lực, đội ngũ cán bộ công chức chưa thực sự
chuyên nghiệp hoá. Thực trạng biên chế tại các cơ quan, đơn vị hành chính sự
nghiệp vừa thừa, lại vừa thiếu. Cơ cấu công chức còn bất hợp lý về trình độ năng
lực đã dẫn đến hiệu quả công việc thấp.
Hai là, xuất phát từ thực trạng tiền lương và chính sách tiền lương hiện nay.
Mặc dù chính sách tiền lương đã có những cải cách, mức lương tối thiểu của cán bộ,
công chức, viên chức được nâng dần (đầu năm 1997 mức lương cơ bản là 144.000
đồng/tháng; từ 01/01/2000 là 180.000 đồng/tháng; từ 01/01/2001 là 210.000
đồng/tháng; từ 01/01/2003 là 290.000 đồng/tháng; từ 01/01/2006 là 450.000
đồng/tháng; từ 01/01/2007 là 540.000 đồng/tháng; năm 2009 là 650.000
đồng/tháng; từ 01/05/2010 là 730.000 đồng/tháng ; từ 01/05/2011 là
830.000đ/tháng; từ 01/05/2012 là 1.050.000 đồng/ tháng.). Tiền lương còn mang
tính bình quân, không có sự phân biệt giữa tiền lương của cán bộ, công chức, viên
chức giữa khu vực cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, mức lương còn thấp
chưa đảm bảo đúng nghĩa của tiền lương nên không thúc đẩy kích thích tính tích
cực, sáng tạo của cán bộ, công chức, làm cho chất lượng công việc của đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức không đảm bảo. Bên cạnh đó chưa xây dựng được thang
lương, ngạch lương cho những cán bộ công chức có trình độ học hàm cao sau đại
phép tổ chức mở rộng các hình thức đào tạo chính quy, không chính quy, đào tạo
tập trung và đào tạo từ xa; tổ chức liên kết đào tạo trong và ngoài nước, mời
chuyên gia nước ngoài vào mở trường lớp đào tạo hoặc gửi đi đào tạo tại nước
ngoài, phát triển các dịch vụ về khoa học công nghệ
8
Thứ ba, thực hiện tự chủ về tài chính: Các đơn vị sự nghiệp khi chuyển sang
thực hiện Nghị định10/2002/Nđ-CP được khoán phần kinh phí ngân sách cấp, đồng
thời tích cực khai thác các nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động cung ứng dịch vụ và
được chủ động sử dụng các nguồn kinh phí tuỳ theo yêu cầu hoạt động của đơn vị,
đảm bảo chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị tự
xây dựng.
Thực tế, sau 3 năm thực hiện Nghị định 10 đã giúp các cơ sở giáo dục đào tạo
tăng tính chủ động trong điều hành, quản lý và sử dụng ngân sách. Khuyến khích
các đơn vị giáo dục – đào tạo tăng thu nhập của cán bộ, giáo viên, công nhân viên
một bước đáng kể, tạo sự yên tâm gắn bó với trường lớp và có điều kiện để dành
nhiều thời gian, công sức cho nghiên cứu, giảng dạy.
Cũng ở tầm vĩ mô, theo đánh giá của Bộ tài chính, sau khi thực hiện quyền tự
chủ tài chính, phần lớn các đơn vị sự nghiệp có thu đó chủ động sử dụng nguồn
kinh phí từ ngân sách nhà nước giao, tích cực khai thác nguồn thu sự nghiệp để đáp
ứng yêu cầu hoạt động và nhu cầu cung cấp dịch vụ cho xã hội; bảo đảm chi tiêu
tiết kiệm, hiệu quả nguồn kinh phí; xoá bỏ tình trạng “hành chính hoá” hoạt động sự
nghiệp, điều kiện phát triển và mở rộng hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp có
thu được chủ động trong việc huy động các nguồn lực về tài chính, lao động, cơ sở
vật chất để tổ chức hoạt động dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng, từ đó đó
nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.
Tuy nhiên, sau ba năm thực hiện Nghị định 10 còn bộc lộ một số những khó
khăn bất cập, cụ thể như sau:
Thứ nhất, NĐ 10 mới có quy định tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự
nghiệp có thu, trong khi phần lớn các đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, chưa có
cơ chế thực hiện quyền tự chủ.
người thụ hưởng các dịch vụ do mình cung cấp.
10
Quyền tự chủ tài chính luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt
động khác của đơn vị.Quyền tự chủ tài chính chỉ có thể triển khai thực hiện khi đơn
vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ trong các hoạt động sự nghiệp một cách có
hiệu quả, đơn vị sự nghiệp công phải có tự chủ về tài chính. Như vậy giữa quyền tự
chủ tài chính với quyền tự chủ các hoạt động khác trong đơn vị sự nghiệp công lập
có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, hỗ trợ nhau.
Quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quyền tự chủ có
giới hạn. Các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị đo Nhà nước thành lập và
quản lý, do đó mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập, kể cả hoạt động tài
chính đều đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, của các cơ quan quản lý cấp
trên, cho dù các hoạt động đó đã được trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Sự
giới hạn của quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị công lập là một yêu cầu tất
yếu, nó xuất phát lợi ích chính đáng trong việc hưởng thụ dịch vụ công của xã hội,
mà Nhà nước là người bảo hộ. Nhà nước ban hành quy chế tự chủ tài chính trong
đơn vị sự nghiệp công lập, quy định phạm vi, mức độ tự chủ đối với một số hoạt
động tài chính trong đơn vị.
Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp công
lập trong tổ chức, sắp xếp, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành
nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với
chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho
người lao động.
Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy
động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng
bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước.
1.2.2.2. Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính
Vai trò cụ thể của việc thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị
sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực GD&đT
nói riêng được thể hiện trên các mặt sau:
12
thu nhập cho người lao động, trang thiết bị được đầu tư trọng điểm, tạo điều kiện
nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản
lý tài chính, chủ động trong đầu tư mua sắm và xây dựng cơ bản theo thời điểm và
mục đích sử dụng kinh phí có hiệu quả, tự chủ trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy và
lao động trong từng đơn vị.
Cơ chế tự chủ cho phép các đơn vị sự nghiệp được mở rộng hoạt động dịch
vụ của mình, mở rộng các hình thức liên kết nhằm tăng nguồn thu cho đơn vị đồng
thời đơn vị được sử dụng nguồn thu đó theo quy định. Chính điều này đã kích thích
các đơn vị tìm kiếm, thu hút nguồn kinh phí ngoài kinh phí Ngân sách Nhà nước
(NSNN), muốn vậy họ phải nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.
Hoạt động của các đơn vị trở nên năng động hơn theo hướng đa dạng hoá các
loại hình hoạt động để tăng nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị. Nếu trước kia các
đơn vị chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ ngân sách cấp thì nay họ có thể huy
động nguồn lực tài chính từ nhiều cách. Như vậy chất lượng phục vụ của các đơn vị
sự nghiệp nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng được nâng lên, đồng thời gánh
nặng đối với ngân sách cũng được giảm bớt, Nhà nước chỉ phải tập trung cho những
ngành trọng điểm mũi nhọn.
1.2.3. Nội dung cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.3.1. Khái quát quyền tự chủ về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Quyền tự chủ về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định
tại Nghị định 43/2006/Nđ-Chính phủ ngày 25/4/2006 của Chính phủ và thông tư
71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập, bao gồm:
Thứ nhất, quyền tự chủ trong việc huy động vốn và vay vốn tín dụng.
Đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động dịch vụ đuợc quyền vay vốn của các
tổ chức tín dụng, được huy động vốn của các bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư
mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức các hoạt động dịch
14
góp của xã hội, nhưng không được vượt quá khung thu đã được quy định. Đơn vị có
quyền thực hiện chế độ miễn giảm các khoản thu phí, lệ phí cho đối tượng chính
sách xã hội theo quy định của Nhà nước.
- Được quyền xác định mức thu dựa trên mức giá do Nhà nước quy định khi
thực hiện đơn đặt hàng về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Nếu Nhà nước chưa quy
định mức giá thì việc xác định mức thu dựa trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan
tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận.
- Được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể đối với những hoạt động
dịch vụ theo hợp đồng với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đơn vị hoạt động
liên doanh, liên kết dựa trên nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ.
Phạm vi mức độ tự chủ về sử dụng nguồn tài chính.
- Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị các
khoản chi thường xuyên (chi cho hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có
thẩm quyền giao; chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí, lệ phí;
cho các hoạt động dịch vụ; kể cả chi thực hiện nghĩa vụ đơn vị NSNN, trích khấu
hao TSCĐ, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định đơn vị pháp luật). Thủ trưởng
đơn vị có quyền quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động sự nghiệp cao
hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Căn cứ vào bản chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định
phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
- Có quyền quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản
theo quy định của pháp luật.
Phạm vi, mức độ tự chủ về sử dụng kết quả hoạt động tài chính năm.
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp
khác theo quy định (nếu có), khoản chênh lệch thu lớn chi (thu, chi hoạt động
thường xuyên và nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng) thì đơn vị sự nghiệp có thu được
toàn quyền sử dụng. Quyền sử dụng này được quy định theo mức độ tự bảo đảm
kinh phí cho hoạt động thường xuyên,, phần chênh lệch thu lớn hơn chi được phân
phối theo trình tự như sau:
16