BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------
NGUYỄN VĂN HÀO
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH
BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG XÃ QUẢNG SƠN
HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG
GIAI ĐOẠN 2013 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------
NGUYỄN VĂN HÀO
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH
BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG XÃ QUẢNG SƠN
HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG
Mặc dù, diện tích rừng tăng nhưng trữ lượng và chất lượng rừng chưa được
cải thiện rõ rệt, chủ yếu rừng tự nhiên hiện nay thuộc đối tượng rừng nghèo kiệt, giá
trị kinh tế, phòng hộ, đa dạng sinh học,... không cao. Rừng trồng sản xuất mới chỉ là
rừng trồng nguyên liệu, gỗ nhỏ. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng
phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp hợp lý cho từng vùng, địa phương cụ
thể đang được các nhà quản lý rất quan tâm đặc biệt từ khi thực hiện việc rà soát
quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã là vấn đề cần thiết, được tiến
hành theo từng giai đoạn nhằm phát huy vai trò chỉ đạo, tổ chức sản xuất lâm
nghiệp trên địa bàn xã. Những năm qua, một số địa phương trong cả nước đã thực
hiện công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng song vẫn còn có những bất cập.
Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và quy hoạch bảo vệ và
phát triển rừng cấp xã chưa được thực hiện kịp thời và toàn diện trên cơ sở nhìn
2
nhận cả 3 yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và sự thu hút được sự tham gia của
người dân và cộng đồng còn hạn chế. Ngoài ra, mục tiêu và nội dung của quy hoạch
thường chưa quan tâm một cách thoả đáng tới những lợi thế và thách thức cũng như
tiềm năng cung cấp các nguồn lực và nhu cầu lâm sản đầu ra của các hoạt động sản
xuất nên vai trò của phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, quá trình
đổi mới của nền kinh tế, phương thức quản lý sử dụng đối với các nguồn tài nguyên
trong đó có tài nguyên đất và rừng cũng có nhiều thay đổi.
Quảng Sơn là xã miền núi của huyện Đăk Glong, cách trung tâm huyện 55
km về phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 45.176,3 ha, trong đó diện tích đất
quy hoạch cho Lâm nghiệp 37.985,78 ha, chiếm 84,08% tổng diện tích toàn xã.
Diện tích rừng của xã Quảng Sơn có nhiều kiểu loại khác nhau, có tính đa dạng sinh
học cao, giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của xã nói
riêng và của huyện Đắk Glong nói chung, đồng thời đảm bảo năng lực phòng hộ
Xuất phát từ những yêu cầu trên, để xây dựng luận văn tốt nghiệp chúng tôi
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát
triển rừng tại xã Quảng Sơn huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2013 2020”.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức về quy hoạch
Thực chất của công tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời
gian phát triển chung cho kinh tế - xã hội, môi trường hoặc một ngành, một lĩnh vực
sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì
nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác
điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước. Quy
hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể
phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của quy hoạch vùng.
1.1.1. Quy hoạch sử dụng đất đai
Quan niệm về QHSDĐĐ còn nhiều hướng khác nhau, tuy nhiên tựu chung
lại một số tác giả có nghiên cứu, như:
Theo Dent (1986) [28]: QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo
quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho
việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự lựa chọn này sẽ đáp ứng với
những mục tiêu riêng biệt, và tự đó hình thành nên chính sách và chương trình cho
sử dụng đất đai.
Một định nghĩa khác của Fresco và ctv, (1993) [32], QHSDĐĐ như là dạng
hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên
quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và
những vấn đề hạn chế khác.
Những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về QHSDĐĐ là hầu hết đều
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và
pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao
thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất (cả nước hoặc trong phạm vi một
đơn vị, đối tượng sử dụng đất cụ thể), tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất
cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất, hiệu quả sản xuất xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [26]
6
1.1.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ
Theo Nguyễn Nhật Tân - Nguyễn Thị Vòng (1995)[18] Quy hoạch vùng lãnh
thổ là hệ thống các biện pháp xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý gắn liền với cơ
cấu đất đai và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, các công trình kinh tế văn hoá - xã hội, nguồn lao động, tăng cương xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển lực
lượng sản xuất để phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và xã hội mới.
Quy hoạch vùng lãnh thổ là khoa học về quản lý tài nguyên mang cả 3 tính
chất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp lý. Là cơ sở để lập dự án đầu tư phát triển kinh tế và
xây dựng nông thôn mới. Sự phát triển của khoa học quy hoạch vùng lãnh thổ liên
quan đến sự phát triển của các quản lý phát triển kinh tế và phân bổ lực lượng sản
xuất trên địa bàn lãnh thổ.
Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng về
tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt. Mục tiêu không thể hình thành
do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể hình thành
chóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một quá trình tìm tòi, cân
nhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến toàn diện. Mục tiêu phải có tính
khả thi, nếu quy hoạch không hướng về tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém,
một bức tranh không có lợi ích.
1.1.3. Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt
động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ,
1.2. Trên thế giới
Chúng ta biết rằng việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng
bền vững nói chung và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang được các nhà khoa học
trong nước và trên thế giới quan tâm.
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch phát triển lâm nghiệp sao cho hợp lý
được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau. Việc đưa ra một
khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái
niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển
bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng phải được xem xét một
cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững.
8
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo
vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân văn. Quá
trình phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới luôn gắn liền
với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Quy hoạch phát triển lâm nghiệp luôn
phụ thuộc vào Quy hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan trong quá trình xây dựng
phương án quy hoạch.
1.2.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ở Liên Xô trước đây: Nguyễn Nhật
Tân - Nguyễn Thị Vòng (1995) [18]: Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp
tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ
các vùng hành chính - nông nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả
các ngành kinh tế quốc dân trong vùng. Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn
kết thúc của kế hoạch hoá tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và
phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của vùng, là biện pháp xác định các xí
nghiệp chuyên môn hoá một cách hợp lý, là biện pháp thiết kế và đưa vào nề nếp
việc sử dụng đất đai trên từng khu vực cụ thể của vùng, là biện pháp xác định sự
đặc biệt của con người; Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông
thôn và có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp;
Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước tiến hành quy hoạch lãnh thổ
vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương.
Quy hoạch vùng ở Pháp: Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hình
quy hoạch vùng lãnh thổ M. Thénevin (M. Pierre Thénevin), một chuyên gia thống
kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miền
Tây nam nước Cộng hoà Côte D’ivoire. Trong mô hình quy hoạch vùng này, người
ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các giàng buộc
trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô
hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc:
- Các hoạt động sản xuất:
+ Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng
trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển
(truyền thống).
10
+ Hoạt động khai thác rừng
+ Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ, thương mại..
- Nhân lực phân theo các dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông nghiệp,
lâm nghiệp.
- Cân đối xuất nhập, thu chii và các cân đối khác vào giàng buộc về diện tích
đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực …
Tóm lại: Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng
tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều
kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.
Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan: Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ
một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó,
chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự
đồng nhất đó. Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải 3 cách:
- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh”.
Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong
cảnh)
- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật,
địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu. Khái niệm cảnh quan này rất gần
gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa.
- Cảnh quan sinh thái học. Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau
trong một không gian. Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ở
liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinh
đặc điểm nhất định trong một không gian.
- Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnh
núi, hồ, biển hay đất liền. Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thôn
hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó.
- Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái
Tính đa dạng sinh học đối với môi trường sống của con người có tầm quan
trọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan, Vì
vậy, các nhà sinh học ở Mỹ (California), Nam phi, Chi lê, Australia (Mayer, Lugo,
Wilson) đã tiến hành nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch
12
cảnh quan các khu vực rừng nguyên sinh. Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạng
loài và tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tài
nguyên thiên nhiên nói chung, quản lý rừng nói riêng.
Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn, các nhà
khoa học gồm Simpson, Shannnon-Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về chỉ
pháp kiểm tra”.
Năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy định
nguyên tắc sử dụng đất lâm nghiệp, tiếp theo xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu
tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xây định các diện tích cho sử
dụng đất lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí.
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò
lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm 1946, Jack
G.V. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân loại đất
đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá
khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại vùng Rhodesia trước đây, nay là
cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quy
hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng. Vào đầu
những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí “East African Journal for Agriculture
Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi.
Năm 1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về
hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong qui hoạch sử
dụng đất.
1.3. Ở Việt Nam
1.3.1. Quy hoạch vùng chuyên canh
1.3.1.1. Quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh
lúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm
cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng
bông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá Quảng An (Cao Bằng), Ba vì
(Hà Sơn Bình nay là Hà Nội), Hữu lũng (Lạng Sơn), Nho Quan (Hà Nam Ninh nay
là Ninh Bình), vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,… Các vùng
cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ
14
15
và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có thể đáp ứng nhu cầu
của con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững tới các hệ sinh thái tự
nhiên. Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ các thành phần chủ yếu của
hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển động sống và … Một mục tiêu
khác là hướng các hoạt động của con người khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái.
Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch cảnh
quan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau.
Thành phần chính của cảnh quan có thể chia thành 2 loại là tự nhiên/ sinh
thái, như rừng, sông hồ và nhân tạo như đất canh tác, thôn bản vv... Các yếu tố cảnh
quan nhân tạo lại có thể chia thành các yếu tố sản xuất, văn hóa, lịch sử vv...
Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai thành
phần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến trúc luôn
vận động và phát triển.
Theo Nguyễn Thế Thôn “Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có
cấu trúc cảnh quan địa lý và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái đang tồn tại
và phát triển trên đó. Các cảnh quan sinh thái được phân biệt với nhau theo cấu trúc
cảnh quan và theo chức năng sinh thái khác nhau trên các phần lãnh thổ khác nhau”
- Việc nghiên cứu cảnh quan trong lâm nghiệp đã được Nguyễn Văn Khánh
vận dụng trong đề tài “Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp Việt
Nam” (luận văn PTS). Tác giả xác lập cho toàn quốc theo 6 cấp phân vị: Miền - á
miền - vùng - tiểu vùng - dạng đất đai - dạng lập địa. Trong đó 4 cấp phân vị đầu áp
dụng cho vùng lớn, 2 cấp sau là đơn vị phân loại cơ bản (vi mô) thường được sử
dụng trong điều tra đánh giá ở phạm vi hẹp (xã, lâm trường, tiểu khu, khoảnh). Đề
tài mới dừng lại nghiên cứu ở 4 cấp phân vị đầu, căn cứ vào các yếu tố: chế độ nhiệt
mùa đông, chế độ mưa, địa mạo, kiểu khí hậu, kiểu địa hình và nhóm đất để chia
toàn quốc thành: 2 miền, 4 á miền, 12 vùng lập địa, 407 tiểu vùng lập địa. Dựa vào
Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi, điều chế rừng
Thông theo phương pháp hạt đều …
Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch
lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem
trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai
17
thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích.
Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác
ngắn.
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám mô tả để ước lượng tài nguyên
rừng. Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc. Cho đến năm
1960-1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở Miền Bắc. Từ năm 1965
đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng.
Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy
hoạch của các sở Lâm nghiệp (nay là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn) các
tỉnh, không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các
nước cho phù hợp với điều kiện, trình độ tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên, so
với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình
thành và phát triển muộn hơn rất nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh
tế, xã hội, và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chưa
được giải quyết triệt để, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến
hành vừa nghiên cứu áp dụng [25].
Trong công trình “Đất rừng Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình (1996) [1] đã
đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc
điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam.
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải [16] trong chương trình tập huấn
hỗ trợ lâm nghiệp xã hội của Trường đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ
khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động.
Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp,
kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó
khăn.
Đối tượng của công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp là rừng và đất lâm
nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc, nhưng thực chất là
vô chủ.
Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài từ 40-100
năm). Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có
lợi.
19
Mục tiêu của quy hoạch phát triển lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch
rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường);
Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu
di tích văn hoá - lịch sử - danh lam thắng cảnh) và quy hoạch phát triển các loại
rừng sản xuất.
Quy mô của công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô
và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, từng huyện, xí
nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp.
Lực lượng tham gia công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp thường luôn
phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thổn về mọi mặt
… Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực
lượng của trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm
quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội …);
Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn
chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp.
1.3.2.2. Đối tượng của quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy
hoạch xây dung cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải. Xác định tiến độ thực hiện.
Do đặc thù khác với những nghành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch
lâm nghiệp thường thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch
được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp.
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định
phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh, trên cơ sở căn cứ
vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch
lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
tỉnh. Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp của tỉnh, điều kiện
đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác tiến hành
quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng. Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên
rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm trồng rừng và tái sinh tự nhiên) và
nông lâm kết hợp. Quy hoạch khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị
21
trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế,
phát triển lâm nghiệp xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
phục vụ sản xuất lâm nghiệp, lưu thông hàng hoá và đời sống. Xác định tiến độ thực
hiện.
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm
nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh, tuy nhiên nó được triển
khai cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện. Quy hoạch
lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
+ Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế xã hội của
cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn
xã. Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng, xác định rõ mối
quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã. Căn cứ vào phương hướng
phát triển, các điều kiện cơ bản, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác
(nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ
và đặc dụng. Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí
không gian và thời gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: Bảo vệ
và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp,
khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thị
trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ. Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm
nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội.
Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản
xuất và đời sống. Dự tính đầu tư lao động, tiền vốn, vật tư thiết bị. Hiệu quả đầu tư
cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường. Xác định tiến
độ thực hiện.
Về cơ bản nội dung quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý
lãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự nhau. Tuy nhiên, mức độ giải
quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp.
* Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất, kinh doanh.
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất, kinh doanh
bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm
trường; Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho
23
các khu rừng đặc dụng, quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ và quy hoạch phát
triển sản xuất lâm nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ
gia đình). Các nội dung quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản
xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành